Soạn bài Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề sân khấu dân gian Việt Nam SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn>
Nhan đề của báo cáo nghiên cứu cho biết điều gì về nội dung và phạm vi nghiên cứu?
Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 10 tất cả các môn - Kết nối tri thức
Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh
Câu 1
Video hướng dẫn giải
Nhan đề của báo cáo nghiên cứu cho biết điều gì về nội dung và phạm vi nghiên cứu?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ bài viết tham khảo.
- Từ nhan đề của báo cáo để chỉ ra nội dung và phạm vi nghiên cứu của bài báo cáo.
Lời giải chi tiết:
Nhan đề của báo cáo nghiên cứu cho thấy nội dung và phạm vi nghiên cứu là về loại hình sân khấu chèo và ngôn ngữ đối thoại của chèo.
Câu 2
Video hướng dẫn giải
Báo cáo nghiên cứu có những luận điểm chính nào?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ bài viết tham khảo.
- Dựa vào cách triển khai nội dung nghiên cứu để chỉ ra những luận điểm chính của bản báo cáo.
Lời giải chi tiết:
Những luận điểm chính của bản báo cáo:
- Ngôn ngữ sân khấu chèo ở đoạn này có thể là những câu thơ chữ Hán đầy điển cố, khó hiểu, đến đoạn khác lại gần như là một câu ca dao nuột nà, phơi phới tình người.
- Một câu đối thoại hay là một câu nói vừa giải thích được những đặc điểm riêng của nhân vật đồng thời lại là sự thể hiện của nhân vật đó.
- Ngôn ngữ trong vở chèo mang tính tư tưởng, là sức sống bên trong của nhân vật, đồng thời là chiếc xe chở tư tưởng của tác giả.
- Trong khi viết ngôn ngữ cho nhân vật, các tác giả xưa rất chú ý đến nhịp điệu và âm luật câu văn.
- Ở một số vở chèo xưa, có những nhân vật không hề có tiếng nói của bản thân họ mà nói bằng một loại ngôn ngữ nâng cao.
- Một đặc điểm nữa trong ngôn ngữ đối thoại trong chèo là tính ước lệ.
- Về mặt hình thái văn học, ngôn ngữ trong chèo được trình bày dưới ba dạng: nói thường, nói có tuyền luật và hát.
Câu 3
Video hướng dẫn giải
Tác giả đã sử dụng cứ liệu như thế nào để làm sáng tỏ các luận điểm?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ bài viết tham khảo.
- Dựa vào những luận điểm chính đã tìm được để chỉ ra những cứ liệu mà tác giả đã sử dụng
Lời giải chi tiết:
Tác giả đã sử dụng những cứ liệu là những thông tin, nghiên cứu đã có trước đấy về chèo; ngôn ngữ trong các kịch bản chèo phổ biến và thông tin chọn lọc từ một số cuốn sách viết về chèo,…
Câu 4
Video hướng dẫn giải
Cuối báo cáo nghiên cứu không có danh mục tài liệu tham khảo? Hãy cho biết suy nghĩ của bạn về điều này.
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ bài viết tham khảo.
- Đọc kĩ phần cuối của báo cáo và nêu những thông tin được nhắc đến.
Lời giải chi tiết:
Phần cuối của báo cáo nghiên cứu đã
- Tổng kết lại những thông tin thu thập được khi nghiên cứu ngôn ngữ trong chèo,
- Nhắc đến những vấn đề nghiên cứu chèo chưa được giải quyết,
- Cuối cùng là thông tin về những tài liệu tham khảo dùng trong nghiên cứu.
Phần cuối không có danh mục tài liệu tham khảo, từ đó cho thấy người viết báo cáo này có kiến thức rất tốt về chèo và chủ động, tích cực, không dựa dẫm vào các nguồn tài liệu có sẵn.
Thực hành viết
Video hướng dẫn giải
Viết bài báo cáo nghiên cứu về việc vận dụng tục ngữ, ca dao trong lời thoại của nhân vật chèo.
Phương pháp giải:
- Đọc lại phần tri thức ngữ văn về chèo.
- Đọc kĩ hướng dẫn các bước viết bài báo cáo trong phần Viết.
- Dựa vào bài viết tham khảo và các kiến thức đã tìm hiểu để hoàn thành bài báo cáo.
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo 1:
Chèo là nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống xuất hiện từ lâu đời và mang bản sắc dân tộc đậm đà nhất của dân tộc Việt Nam. Chèo là một loại kịch hát dân gian có tính chất tổng hợp, sản phẩm của sinh hoạt xã hội nông nghiệp cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.Việc vận dụng tục ngữ, ca dao trong lời thoại của nhân vật chèo có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật sân khấu chèo.
Qua khảo sát một số kịch bản chèo truyền thống trong cuốn Tuyển tập Chèo cổ của GS. Hà Văn Cầu, chúng tôi nhận thấy không thể lấy khía cạnh văn học để nghiên cứu các câu ca dao, tục ngữ trong chèo. Qua thống kê, khảo sát có thể thấy số câu tục ngữ được cải biên được sử dụng nhiều hơn số câu tục ngữ nguyên dạng và có những câu tục ngữ được sử dụng ở những tác phẩm khác nhau, trong lời thoại của nhiều nhân vật khác nhau sẽ mang mục đích khác nhau. Điều này có liên quan đến nội dung từng kịch bản và theo từng phong cách riêng của tác giả nên cách vận dụng những câu tục ngữ truyền thống rất đa dạng.
Chèo đã sử dụng một cách tài tình tục ngữ, thành ngữ vốn là những kinh nghiệm được đúc kết từ trong lao động sản suất, trong đời sống xã hội, … để đưa trực tiếp vào lời thoại của nhân vật. Chẳng hạn như trong vở chèo Kim Nham, câu tục ngữ “lòng chim dạ cá” được sử dụng trong lời nhân vật Xúy Vân ý chỉ lòng dạ mình đã đổi thay, đã trót say giăng hoa ở ngoài:
Xúy Vân:
Tôi Xúy Vân quỳ xuống thềm hoa
Nguyện thiên địa quỷ thần soi xét
Tôi có ở ra lòng chim dạ cá
Say giăng hoa không sợ thế gian cười
Khi thác thời thi thể trôi nổi
Hình hài mặc cá sông vùi lấp
(Kim Nham)
Bên cạnh việc sử dụng nguyên dạng các câu tục ngữ dân gian, chèo truyền thống cũng đã cải biến, thêm lời và đổi ý khi đưa những câu tục ngữ trong dân gian vào lời thoại nhân vật. Có những câu tục ngữ được chèo tiếp thu cả lời lẫn ý nhưng vẫn có sự sửa đổi đôi chút. Chẳng hạn như đoạn lính hầu mắng Lưu Bình:
“Anh này chỉ nói láo. Quần trứng sáo, áo nước dưa khăn gói gió đưa bạn tôi không đáng mà dám bảo là bạn quan tôi à!” (Lưu Bình – Dương Lễ)
So với câu tục ngữ gốc “Quần trứng sao, áo hoa tiên” nhằm để chỉ những người nhàn hạ trong xã hội xưa, khi được vận dụng vào lời thoại của nhân vật lính hầu đã có sự thêm bớt thành câu có vần vè hơn “quần trứng sáo, áo nước dưa khăn gói gió đưa …” ám chỉ rằng lúc này Lưu Bình đang gặp khó khăn và ăn mặc như thường dân nên chỉ bằng vai với anh lính hầu thôi.
Chèo thường đề cao một khía cạnh đạo đức nào đó của nhân vật vậy nên có một số câu tục ngữ quen thuộc thường xuất hiện nhiều trong chèo như câu “xuất giá tòng phu phu tử tòng phụ” được sử dụng nhiều trong các kịch bản quen thuộc. Ngoài ra, chèo truyền thống còn xây dựng nên những mô hình nhân vật nữ chính như nhân vật Thị Kính, Thị Phương, Châu Long, … mang ý đồ giáo huấn phụ nữ về những chuẩn mực của luân lý tam tòng tứ đức.
Chèo cũng đưa một số câu tục ngữ có khía cạnh đạo đức hay một số tục ngữ mang tính khẳng định triết lý, tư tưởng nào đó, … Không chỉ sử dụng các câu tục ngữ thuần Việt, các tác giả chèo truyền thống còn đưa các câu tục ngữ Hán Việt vào lời thoại của nhân vật như “ác giả ác báo” (Quan Âm Thị Kính), “Bần tiện bất năng di” (Chu Mãi Thần), … Đây cũng là một cách để tạo nên sự kết hợp giữa tính dân gian và tính bác học trong Chèo.
Ngoài vận dụng tục ngữ thì chèo truyền thống cũng đưa những câu ca dao vào lời thoại nhân vật, có thể dùng nguyên văn hoặc sử đổi một số từ của câu ca dao khi đưa vào lời thoại. Ví dụ Châu Long đã mượn nguyên lời ca dao để bộc lộ tâm trạng của mình:
Vì chàng thiếp phải long đong
Những như thân thiếp cũng xong một bề
Hay lời Thị Mầu trong điệu hát sắp đã được sửa đổi một vài từ trong câu ca dao:
Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình chẳng xinh
Một trong những giá trị độc đáo của văn học chèo chính là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố dân gian và yếu tố bác học làm cho chèo có tính chất bác học mà vẫn đậm đà tính chất dân gian. Việc sử dụng ca dao, tục ngữ đưa vào lời thoại của các nhân vật đã góp phần quan trọng tạo nên tính dân gian trong chèo, giúp chèo giữ được cái chất của mình đồng thời kết thừa và tiếp tục truyền thống dân tộc.
Chèo là nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống xuất hiện từ lâu đời và mang bản sắc dân tộc đậm đà nhất của dân tộc Việt Nam. Chèo là một loại kịch hát dân gian có tính chất tổng hợp, sản phẩm của sinh hoạt xã hội nông nghiệp cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Trong quá trình ra đời, hình thành và phát triển, chèo đã không ngừng kế thừa và biến đổi, tích hợp vào nó nhiều chất liệu và yếu tố văn hóa mới để cho chèo ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn.
Do hoàn cảnh lịch sử, cụ thể là về điều kiện kinh tế xã hội của nước ta thời thực dân Pháp thống trị, nghệ thuật chèo ở đầu thế kỉ XX đã rơi vào tình trạng bế tắc và có nguy cơ mai một. Nhiều làng quê nghèo đói đến mức chỉ có thể làm cúng bái tế Thành hoàng làng mà thôi, còn về phần lễ hội thì hầu như không mở được. Đó là tình trạng của các gánh hát chèo ngày càng không được đón mời như trước đó. Hoàn cảnh lịch sử xã hội đưa đẩy khiến cho một số nghệ sĩ chèo dân gian đã mạnh dạn đưa phường gánh ra chốn thành thị nhưng cũng không được đón chào bởi thị hiếu khán giả đô thị không ưa chuộng lối hát và diễn của chèo sân đình. Mặt khác, lúc này văn hóa Pháp cũng du nhập vào Việt Nam theo những người Pháp, cùng với chính sách đồng hóa dưới chiêu bài “khai hóa văn minh” của thực dân Pháp khiến cho môi trường văn hóa ở các đô thị biến đổi. Trong điều kiện mới của sự tiếp biến văn hóa mà trong đó có mặt tiêu cực nhiều hơn mặt tích cực, chèo muốn tồn tại ở các đô thị nhất là ở Hà Nội - nơi có đông khán giả xem diễn trò thì phải chấp nhận một cuộc cách tân.
Kịch bản chèo tân thời, nhất là những kịch bản tiêu biểu của Nguyễn Đình Nghị là những cách tân so với những kịch bản chèo cổ truyền thống, chịu chi phối bởi nhu cầu mới của khán giả đô thị và chịu ảnh hưởng khá lớn về mặt kịch nghệ của sân khấu Pháp. Điều này được thể hiện trước hết ở những yếu tố liên quan tới yêu cầu đổi mới kịch bản chèo và quan trọng hơn cả là những đổi mới ngay trong những thành tố tạo lên kịch bản chèo.
Nếu như trước đây trong chèo chèo chỉ giới hạn ở một số đề tài dân gian, lịch sử thì trong giai đoạn chèo tân thời cụ thể là trong 60 kịch bản chèo của Nguyễn Đình Nghị thì nội dung đề tài được ông sử dụng một cách đa dạng hơn từ các đề tài dã sử, lịch sử dân gian cho đến những đề tài phản ánh hiện thực, phản ánh cuộc sống đương đại. Bên cạnh, việc đa dạng hóa đề tài là sự thay đổi về nhân vật trung tâm của chèo tân thời lại có sự đa dạng hơn về các loại người, các loại thành phần xã hội với các thân phận khác nhau, và họ đã biết đấu tranh để giành lấy số phận của mình. Chèo tân thời còn xây dựng và làm gia tăng hơn tính xung đột trong các mối quan hệ của nhân vật, đồng thời còn sử dụng các làn điệu, “chèo hóa” các làn điệu dân ca, các yếu tố mỹ thuật, múa....trên cơ sở tả ý, tả thần đã đem lại những hiệu quả rõ rệt. Chèo tân thời - Nguyễn Đình Nghị đã đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch 81 sử chèo, làm cho sân khấu chèo chuyển từ sân khấu dân gian bước sang sân khấu chuyên nghiệp. Thành công của chèo tân thời đã có những tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tới các khuynh hướng sân khấu chèo Việt Nam. Lịch sử ngày hôm nay đã phần nào minh chứng rằng: “Nguyễn Đình Nghị là chiếc cầu nối giữa chèo cổ và chèo hiện đại”.
Chèo từ lâu đã là một loại hình nghệ thuật dân gian tiêu biểu, phản ánh đời sống của người dân bình thường dưới chế độ phong kiến. Khác với Tuồng – nơi các tích truyện chủ yếu xoay quanh bậc nam tử hán – Chèo dành sự quan tâm đặc biệt đến người phụ nữ, tầng lớp chịu nhiều khổ đau và bất công trong xã hội xưa. Trong khi Tuồng tập trung vào đề tài quốc gia đại sự, nơi dường như chỉ dành cho nam giới, Chèo lại miêu tả đời sống làng xã, gia đình, nơi phụ nữ hiện hữu, chịu nhiều áp lực nhưng cũng đầy khát vọng. Những vở chèo kinh điển như Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Kim Nham đều phản ánh bi kịch, nghị lực và phẩm chất của người phụ nữ dưới xiềng xích xã hội phong kiến.
Trích đoạn “Xúy Vân giả dại” trong Kim Nham là điển hình thể hiện nội tâm đầy mâu thuẫn của nhân vật Xúy Vân. Xúy Vân vừa mang nét đẹp truyền thống, vừa thể hiện tư tưởng phá cách, vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến. Giáo sư Trần Bàng từng khẳng định: “Tích trò của Chèo dành cho cuộc đời của những con người bình thường, ca ngợi những tấm gương cao cả trong tình bạn, tình yêu chung thủy, lòng hiếu thảo và khát vọng tự do. Giữ vị trí trung tâm trong các tích Chèo là số phận người phụ nữ, tầng lớp chịu nhiều đau khổ nhất dưới chế độ phong kiến.” (Trần Bàng, Chèo - một hiện tượng sân khấu của dân tộc).
Theo giáo sư Hà Văn Cầu, mỗi nhân vật trong Chèo đều mang khát vọng và niềm tin mãnh liệt, thể hiện rõ ràng tính cách và mục tiêu dù đối mặt với nghịch cảnh [1, tr. 167]. Nhân vật nữ trong Chèo được chia thành ba nhóm: nữ chính, nữ lệch và nữ pha. Nữ chính thường cam chịu, giữ phẩm chất cao đẹp, điển hình như Đào Chính. Nữ lệch táo bạo, phản kháng trước lễ giáo hà khắc, còn nữ pha là sự kết hợp giữa hai dạng trên, vừa nhẫn nhục vừa phá cách khi cần thiết.
Nhân vật Xúy Vân là một minh chứng tiêu biểu cho sự biến hóa tâm lý và chiều sâu nhân vật trong Chèo. Ban đầu, nàng là cô gái ngoan ngoãn, tuân thủ đạo lý “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Khi về làm dâu trong gia đình Kim Nham, Xúy Vân hy vọng xây dựng một hạnh phúc giản dị: “chồng cày vợ cấy”. Tuy nhiên, thực tế phũ phàng: Kim Nham đi học hành dài ngày, gia đình chồng thờ ơ, khiến nàng cô đơn và bất lực. Trước những áp lực và sự cô đơn, Xúy Vân buộc phải giả điên để thoát khỏi cuộc hôn nhân không hạnh phúc.
Tình yêu và khát vọng hạnh phúc cá nhân của Xúy Vân xung đột với lễ giáo phong kiến, xã hội phong kiến và những ràng buộc gia đình. Sự lựa chọn của nàng, dù bị đánh giá là phụ bạc với Kim Nham, thực chất là hành động tự bảo vệ quyền được yêu và được hạnh phúc. Khi Trần Phương xuất hiện, Xúy Vân dám bứt ra khỏi khuôn khổ xã hội, tìm kiếm tình yêu chân chính nhưng phải trả giá bằng bi kịch cá nhân: điên loạn và cái chết cuối cùng. Những câu hát, hình ảnh nghịch lý trong trích đoạn như “Con cá rô nằm giữa vũng chân trâu/ Để cho năm bảy cái cần câu châu vào” gợi lên sự bế tắc, cô đơn và đau khổ sâu sắc của nhân vật.
Như vậy, Kim Nham không chỉ phản ánh bi kịch người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, mà còn đề cao khát vọng tự do, quyền lựa chọn hạnh phúc và tình yêu. Xúy Vân là hình tượng vừa đẹp về phẩm chất, vừa bi thương về số phận, đồng thời thể hiện tư tưởng tiến bộ vượt thời đại. Tác phẩm là lời nhắc nhở rằng, dù xã hội có ràng buộc, người phụ nữ vẫn luôn có quyền tìm kiếm hạnh phúc và khát vọng riêng, và điều đó luôn đi kèm với những thử thách nghiệt ngã của cuộc sống.
- Soạn bài Nói và nghe Lắng nghe và phản hồi về nội dung một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài Củng cố, mở rộng trang 151 SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài Thực hành đọc Hồn thiêng đưa đường SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài Múa rối nước hiện đại soi bóng tiền nhân SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài Huyện đường SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Kết nối tri thức - Xem ngay
Các bài khác cùng chuyên mục
- Soạn bài thực hành đọc Cánh đồng SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Mãi mãi tuổi hai mươi SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Tính cách của cây SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Con khướu xổ lồng SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Bạch Đằng hải khẩu SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Cánh đồng SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Mãi mãi tuổi hai mươi SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Tính cách của cây SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Con khướu xổ lồng SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn
- Soạn bài thực hành đọc Bạch Đằng hải khẩu SGK Ngữ Văn 10 tập 2 Kết nối tri thức - siêu ngắn





Danh sách bình luận