Đề thi học kì 2 Ngữ Văn 12 - Kết nối tri thức

Đề thi học kì 2 Văn 12 Kết nối tri thức - Đề số 10


Từ lúc đó Lữ chẳng còn biết gì hết. Anh ngất đi gần hai tiếng đồng hồ. Trên mặt đất địch đã rút hết bằng trực thăng. Lữ cựa quậy được.

Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 12 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Hoá - Sinh - Sử - Địa

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề thi

I. ĐỌC HIỂU

Đọc đoạn trích sau:

Tóm lược: Truyện kể về Lữ, một chiến sĩ thông tin vô tuyến điện, bị thương và rơi xuống khe sâu sau trận chiến. Khi tỉnh lại, anh hoang mang, mất cảm giác về thời gian và không gian, nhưng rồi ý chí sống sót trỗi dậy. Anh kiểm tra chiếc đài vẫn hoạt động tốt, dù bản thân kiệt sức và đau đớn.

Từ lúc đó Lữ chẳng còn biết gì hết. Anh ngất đi gần hai tiếng đồng hồ. Trên mặt đất địch đã rút hết bằng trực thăng. Lữ cựa quậy được. Anh hồi tỉnh lại dần dần. Từ dưới đáy cái khe sâu hun hút tối mù mịt, Lữ nghe bên tai có tiếng kêu “vo vo” như đàn ong đang rời tổ, có lúc lại nghe “tuýt tuýt” như có người nào đang đánh tín hiệu ngay trên đầu mình, có lúc lại nghe như có tiếng người nói, có lúc nghe như tiếng chim. Anh đã mất hết cảm giác về thời gian và không gian, cả cái cảm giác rõ rệt về sự tồn tại của bản thân mình nữa. “Mình chết rồi ư?”. Anh chợt nhận ra, mình vẫn còn sống bắt đầu từ cái ý nghĩ ấy. Mình chết thế nào được! Không có lý một thằng bao giờ cũng yêu đời và mang bao nhiêu hoài bão như mình lại có thể chết giữa một mùa xuân mới bắt đầu hai mươi tuổi? Anh chợt nhớ một lần ở nhà anh nằm mê thấy mình chết, giữa cõi chết, giữa cái chốn “âm ty” rất xa lạ ấy anh đạp vỡ một cái phích nước sôi để trên chiếc bàn kê cuối giường ngủ.

(...) Tất cả những ý nghĩ đến với anh, những hồi ức gia đình xa xôi đó xác định là anh vẫn còn sống. Lữ mừng đến muốn trào nước mắt khi anh nhận ra cái vật đang đè trĩu ngay trên ngực mình vẫn là chiếc đài. Bây giờ là mấy giờ? Ban ngày hay ban đêm? Lữ cố nhấc thử bàn tay đặt giữa cái núm đèn báo. Ngón tay cứng như gỗ mãi mới ấn được. Chiếc đèn báo điện do Đàm chữa hộ vẫn còn tốt. Hình ảnh Đàm hiện ra trước mắt Lữ như một pho tượng tạc bằng đá. Trong vùng ánh sáng tròn tròn xanh xanh màu lá cây chỉ bằng miệng chén, Lữ quan sát chung quanh thấy những đám rêu trơn nhẫy, một tảng đá nằm dưới chân và hình như chỗ nào cũng có cây cối cành lá xanh tốt. Thế giới chung quanh hiện tại của anh đây! Anh mở đài. Nghe tiếng kêu rẹt rẹt, máy vẫn bắt được tốt nhưng không gian im lặng như tờ. Lại nghe tiếng kêu của con chim ban nãy, y như con chim đang kêu nhỏ nhẻ ở trong cái đầu nóng bừng của anh. Và anh thấy khát nước, khát đến cháy cổ! Anh cố nhấc mình lên để bò đi nhưng khắp mình mẩy chỗ nào cũng đau ê ẩm. Anh cố nhớ lại tất cả diễn biến chi tiết cuộc chiến đấu vừa qua thật rành rọt, bằng tất cả nghị lực của trí nhớ và xác định hoàn cảnh hiện tại của mình: mình mẩy thâm tím, có lẽ do cuộc chiến đấu giáp lá cà vừa qua hoặc va vào đá khi lăn xuống khe. Đài thì vẫn tốt, không hề hư hỏng. Trên mặt đất có lẽ địch đã cuốn đi hết vì không nghe tiếng súng. Cái bờ dốc cây cối тọc rất rậm rạp. Anh cố gắng leo lên mấy lần nhưng kiệt sức lại ngã xuống, mồ hôi vã ra. Chiếc dây da đeo máy thít chặt hai bên vai đau đến không thở được. Chính lúc đó anh càng nhận thức được tất cả nỗi sung sướng của một chiến sĩ thông tin vô tuyến điện. Thế là cuối cùng anh vẫn bảo vệ được máy. Anh vẫn bảo vệ được “tiếng nói” của anh.

(Trích tiểu thuyết Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu,

in trong Nguyễn Minh Châu tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.338-339)

 

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích.

Câu 2. Theo đoạn trích, Lữ đã cảm nhận thế giới xung quanh ngay khi vừa tỉnh lại dưới đáy cái khe sâu bằng những giác quan nào?

Câu 3. Phân tích hiệu quả của việc sử dụng biện pháp liệt kê trong câu văn: Trong vùng ánh sáng tròn tròn xanh xanh màu lá cây chỉ bằng miệng chén, Lữ quan sát chung quanh thấy những đám rêu trơn nhẫy, một tảng đá nằm dưới chân và hình như chỗ nào cũng có cây cối cành lá xanh tốt.

Câu 4. Nhận xét về phẩm chất của nhân vật Lữ được thể hiện qua chi tiết: Lữ mừng đến muốn trào nước mắt khi anh nhận ra cái vật đang đè trĩu ngay trên ngực mình vẫn là chiếc đài.

Câu 5. Từ nội dung văn bản, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống hiện đại (trình bày trong khoảng 5 - 7 dòng).

II. VIẾT

Câu 1.

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lí của nhân vật Lữ trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

Câu 2.

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về niềm hạnh phúc của tuổi trẻ khi được cống hiến cho đất nước.

 

----------- Hết ----------

Đáp án

ĐÁP ÁN

I. PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu 1:

Phương pháp:

- Vận dụng kiến thức về ngôi kể

- Căn cứ vào cách xưng hô, điểm nhìn trong đoạn trích.

Cách giải:

Ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích: ngôi thứ ba.

Câu 2:

Phương pháp:

- Đọc kỹ đoạn văn

- Xác định các từ ngữ chỉ giác quan

Cách giải:

Theo đoạn trích, Lữ đã cảm nhận thế giới xung quanh ngay khi vừa tỉnh lại dưới đáy cái khe sâu bằng những giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác.

Câu 3:

Phương pháp:

- Xác định biện pháp liệt kê

- Phân tích hiệu quả nghệ thuật

Cách giải:

- Liệt kê: những đám rêu trơn nhẫy; một tảng đá nằm dưới chân; cây cối cành lá xanh tốt. 

- Tác dụng: 

+ Tạo nhịp điệu, giúp câu văn trở nên sống động, gợi hình, gợi cảm…

+ Làm nổi bật, gây ấn tượng về đặc điểm địa hình xung quanh nhân vật Lữ.

+ Thể hiện thái độ trân trọng, cảm phục của tác giả trước bản lĩnh của người chiến sĩ trong hoàn cảnh khó khăn.

Câu 4:

Phương pháp:

- Đặt chi tiết trong mạch truyện

- Phân tích ý nghĩa của chiếc đài với nhân vật và nhiệm vụ của người chiến sĩ thông tin.

Cách giải:

- Phẩm chất của nhân vật Lữ được thể hiện qua chi tiết Lữ mừng đến muốn trào nước mắt khi anh nhận ra cái vật đang đè trĩu ngay trên ngực mình vẫn là chiếc đài: ý thức trách nhiệm, tình yêu đối với công việc, tình yêu Tổ quốc.

- Nhận xét: Nhân vật Lữ hội tụ nhiều phẩm chất tốt đẹp, đại diện cho vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, bản lĩnh.

Câu 5:

Phương pháp:

- Đoạn trích tái hiện câu chuyện về nhân vật Lữ sau khi rơi xuống khe sâu, hồi tỉnh và niềm hạnh phúc khi bảo vệ được chiếc đài.

- Học sinh trình bày được suy nghĩ của bản thân về tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống hiện đại; có lí giải hợp lí, thuyết phục.

Gợi ý: Tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống hiện đại giúp con người nhận thức đúng về bổn phận, công việc của mình, sống chủ động, dám đương đầu với khó khăn, được yêu quý, tôn trọng…

Cách giải:

Đoạn văn tham khảo:

Qua nhân vật Lữ trong đoạn trích, người chiến sĩ dù bị thương nặng, rơi xuống khe sâu vẫn hạnh phúc vì bảo vệ được chiếc đài, em nhận thấy tinh thần trách nhiệm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống hiện đại. Tinh thần trách nhiệm giúp mỗi người hiểu rõ bổn phận của mình, từ đó sống chủ động, dám đương đầu với khó khăn thay vì lảng tránh. Khi có trách nhiệm, chúng ta sẽ cố gắng hoàn thành tốt công việc được giao, nhờ đó nhận được sự yêu quý và tôn trọng từ mọi người. Vì vậy, mỗi học sinh cần rèn luyện tinh thần trách nhiệm ngay từ những việc nhỏ như học tập đầy đủ, giữ lời hứa và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

II. PHẦN VIẾT

Câu 1:

Phương pháp:

1. Phân tích được diễn biến tâm lí của nhân vật Lữ qua những bằng chứng dẫn từ văn bản đọc hiểu.

- Trạng thái hoang mang, mất phương hướng khi vừa tỉnh lại: nghe thấy những âm thanh mơ hồ, mất hết cảm giác về thời gian và không gian, cả cái cảm giác rõ rệt về sự tồn tại của bản thân mình nữa.

- Trạng thái hồi tỉnh, sự trỗi dậy khát vọng sống: dòng độc thoại nội tâm, ý nghĩ không chấp nhận cái chết, hồi ức gia đình giúp nhân vật vượt qua được nghịch cảnh.

- Trạng thái tỉnh táo, hạnh phúc: cố gắng xác định hoàn cảnh hiện tại, leo lên mấy lần nhưng kiệt sức lại ngã xuống, cảm giác sung sướng khi vẫn bảo vệ được máy.

2. Đánh giá.

      Nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật Lữ chân thực, tinh tế, thể hiện qua ngôn ngữ, hành động, tâm trạng… góp phần tái hiện chiều sâu vẻ đẹp tâm hồn nhân vật và tài năng của nhà văn.

Cách giải:

Đoạn văn tham khảo:

Trong đoạn trích, diễn biến tâm lí của nhân vật Lữ được nhà văn Nguyễn Minh Châu khắc họa chân thực, tinh tế qua ba trạng thái nối tiếp. Trước hết, khi vừa tỉnh lại dưới đáy khe sâu, Lữ rơi vào trạng thái hoang mang, mất phương hướng. Anh nghe thấy những âm thanh mơ hồ như tiếng ong, tiếng chim, tiếng người lẫn lộn, mất hết cảm giác về thời gian, không gian và cả sự tồn tại của bản thân, thậm chí tự hỏi “Mình chết rồi ư?”. Sau đó, khát vọng sống trỗi dậy mạnh mẽ qua dòng độc thoại nội tâm đầy phản kháng: “Không có lý một thằng bao giờ cũng yêu đời… lại có thể chết…”. Hồi ức về gia đình, về giấc mơ đạp vỡ phích nước ở “âm ty” chính là cột mốc giúp anh khẳng định mình vẫn còn sống, vượt qua nghịch cảnh. Cuối cùng, Lữ trở nên tỉnh táo và hạnh phúc. Anh cố gắng xác định hoàn cảnh, kiểm tra đài, leo lên dốc nhiều lần dù kiệt sức rồi lại ngã xuống. Đỉnh điểm là cảm giác sung sướng đến muốn trào nước mắt khi nhận ra chiếc đài vẫn tốt, anh đã bảo vệ được “tiếng nói” của mình. Bằng ngôn ngữ, hành động và dòng nội tâm sống động, nhà văn đã khắc họa thành công vẻ đẹp tâm hồn kiên cường, giàu trách nhiệm của người chiến sĩ thông tin, đồng thời thể hiện tài năng miêu tả tâm lí xuất sắc.

Câu 2:

Phương pháp:

1. Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.

2. Thân bài:

* Giải thích được vấn đề nghị luận.

- Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc tích cực khi con người cảm thấy thỏa mãn về mặt tinh thần, đạt được mục tiêu hoặc ý nghĩa trong cuộc sống.

- Cống hiến là tự nguyện đem tài năng, sức lực, trí tuệ phục vụ lợi ích chung, vì lí tưởng cao đẹp.

-> Được cống hiến hết mình cho đất nước là cách tuổi trẻ tạo ra hạnh phúc thực sự, ý nghĩa.

* Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận.

- Phân tích, chứng minh được vì sao tuổi trẻ cảm thấy hạnh phúc khi được cống hiến cho đất nước:

+ Tuổi trẻ là chủ nhân, tương lai của đất nước, có sức trẻ, trí tuệ, nhiệt huyết và khát vọng khẳng định bản thân nên hạnh phúc khi được cống hiến.

+ Cống hiến giúp tuổi trẻ góp phần vào sự vươn mình, phát triển của đất nước, tiếp nối truyền thống các thế hệ trước nên mang lại niềm tự hào và hạnh phúc bền vững.

- Phân tích, chứng minh được ý nghĩa của vấn đề nghị luận:

+ Cống hiến cho đất nước giúp người trẻ rèn luyện bản lĩnh, tự tin, trưởng thành, từ đó khẳng định được chính mình, đạt được thành công.

+ Cống hiến cho đất nước không chỉ tạo ra hạnh phúc cá nhân, mà còn lan tỏa lý tưởng sống đẹp trong cộng đồng.

* Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận và rút ra bài học.

- Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận: Cống hiến không đồng nghĩa với đánh đổi tất cả mà cần nhận thức đúng giới hạn của bản thân và có định hướng phát triển rõ ràng…

- Rút ra bài học: Để những cống hiến cho đất nước thực sự mang lại hạnh phúc, tuổi trẻ cần hiểu rõ nhiệm vụ cá nhân, luôn chủ động, sáng tạo, có ý thức trách nhiệm cao…trong học tập, lao động.

3. Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.

Cách giải:

Bài văn tham khảo:

Trong đoạn trích “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu, nhân vật Lữ dù bị thương nặng, rơi xuống khe sâu nhưng lại vỡ òa hạnh phúc khi bảo vệ được chiếc đài, thứ được coi là “tiếng nói” của anh. Chi tiết ấy đã gợi lên một chân lý giản dị mà sâu sắc: tuổi trẻ thực sự hạnh phúc khi được cống hiến hết mình cho đất nước.

Trước hết, cần hiểu rõ những khái niệm cơ bản. Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc tích cực khi con người cảm thấy thỏa mãn về mặt tinh thần, đạt được mục tiêu hoặc ý nghĩa trong cuộc sống. Cống hiến là tự nguyện đem tài năng, sức lực, trí tuệ phục vụ lợi ích chung, vì lí tưởng cao đẹp. Như vậy, được cống hiến hết mình cho đất nước chính là cách tuổi trẻ tạo ra hạnh phúc thực sự, bền vững và giàu ý nghĩa.

Vì sao tuổi trẻ lại cảm thấy hạnh phúc khi được cống hiến? Trước hết, tuổi trẻ là chủ nhân, là tương lai của đất nước. Họ có sức trẻ dồi dào, trí tuệ sáng tạo, nhiệt huyết sôi nổi và khát vọng khẳng định bản thân. Được cống hiến chính là cơ hội để họ chứng tỏ năng lực, thỏa mãn những hoài bão lớn lao. Hơn nữa, cống hiến giúp tuổi trẻ góp phần vào sự phát triển của đất nước, tiếp nối truyền thống vẻ vang của cha ông. Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ đã tình nguyện lên vùng cao, đến những nơi khó khăn nhất để cống hiến. Hình ảnh những cô giáo trẻ như cô giáo Hà Ánh Phượng, người đã mang con chữ đến với học sinh vùng cao Phù Yên, Sơn La, hay những y bác sĩ trẻ trong đội hình thanh niên tình nguyện chống dịch Covid 19, họ đã tìm thấy niềm hạnh phúc đích thực khi được góp sức mình cho cộng đồng. Cảm giác được làm chủ, được góp một phần công sức vào sự vươn mình của dân tộc mang lại niềm tự hào và hạnh phúc vô cùng bền vững, khác hẳn những niềm vui tầm thường, nhất thời.

Không chỉ vậy, cống hiến còn mang lại những ý nghĩa sâu sắc đối với mỗi người trẻ. Khi dấn thân vào những công việc chung, họ phải đối mặt với khó khăn, thử thách, từ đó rèn luyện bản lĩnh, sự tự tin và trưởng thành. Những trải nghiệm quý giá ấy giúp họ khẳng định được chính mình, đạt được thành công trong cuộc sống. Hơn thế, tinh thần cống hiến còn lan tỏa lý tưởng sống đẹp trong cộng đồng, tạo nên một thế hệ trẻ giàu khát vọng, biết sống vì người khác, vì Tổ quốc.

Tuy nhiên, cống hiến không đồng nghĩa với việc đánh đổi tất cả. Mỗi người trẻ cần nhận thức đúng giới hạn của bản thân, có định hướng phát triển rõ ràng, cân bằng giữa trách nhiệm với đất nước và hạnh phúc cá nhân. Để những cống hiến thực sự mang lại hạnh phúc, tuổi trẻ cần hiểu rõ nhiệm vụ của mình, luôn chủ động, sáng tạo và có ý thức trách nhiệm cao trong học tập, lao động và cuộc sống hàng ngày.

Tóm lại, được cống hiến cho đất nước là niềm hạnh phúc lớn lao và chân chính của tuổi trẻ. Mỗi người trẻ hôm nay hãy sống hết mình với khát vọng, góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, bởi như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 12 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Group 2K8 ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...