Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 5


Đêm trăng, Lụa và mấy cô bạn ra bờ sông hóng mát. Mùa này, nước sông còn cạn, dòng sông hẹp, tiếng trẻ con đùa tắm trên bãi bên kia vọng sang nghe rõ mồn một.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề bài

A. KIỂM TRA ĐỌC

I. Đọc thành tiếng

- Học sinh đọc đoạn văn bản “Hải Thượng Lãn Ông” (SGK Tiếng Việt 4 tập 2 - Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 12). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 - 5 phút.

- Dựa vào nội dung bài đọc, học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao Hải Thượng Lãn Ông quyết định học nghề y?

II. Đọc thầm văn bản sau:

CÔ THỢ GẠCH TRÊN SÔNG ĐÀ

Đêm trăng, Lụa và mấy cô bạn ra bờ sông hóng mát. Mùa này, nước sông còn cạn, dòng sông hẹp, tiếng trẻ con đùa tắm trên bãi bên kia vọng sang nghe rõ mồn một. Mảnh đất mà Lụa đang đứng, mai đây sẽ mọc lên một thành phố thủy điện. “Công trình thủy điện sông Đà” - điều vào hai năm trước đây với Lụa như một ước mơ vô cùng đẹp đẽ nhưng hết sức xa xôi. Thế mà hôm nay đã bắt đầu hình thành một cái gì cụ thể.

Cái hôm mới đến công trường, được nghe trình bày về quy hoạch của công trình thuỷ điện, Lụa có cảm giác như đang xem một bộ phim màu. Trên tường hôm ấy treo một tấm bản đồ lớn. Con sông Đà từ Tây Bắc chảy về, đến Hoà Bình thì uốn cong thành một vòng cánh cung. Giữa vòng cung ấy sẽ hiện lên một thành phố chừng bốn vạn dân. Trên bản đồ thành phố tương lai, màu xanh là khu nhà ở cho công nhân, màu đỏ là khu vực xây những công trình như nhà máy cơ khí, nhà máy bê-tông, bến cảng... Công trình chính được tô màu tím: con đập lớn ngăn sông và nhà máy thủy điện có công suất lớn do Liên Xô giúp ta xây dựng.

Để kiến thiết các khu vực này, ngoài xi-măng, sắt thép, cần phải có hàng triệu hàng triệu viên gạch mà Lụa đang góp phần sản xuất ra. Lụa sung sướng cảm thấy sự có mặt của mình ở công trường này có ý nghĩa biết bao!

(Ngô Quân Miện)

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Nhân vật Lụa và các bạn của mình đã ra bờ sông hóng mát vào lúc nào?

A. Vào một buổi chiều hè.

B. Vào một buổi tối.

C. Vào một đêm trăng.

D. Vào giữa giờ giải lao.

Câu 2. Hai năm trước đây, ước mơ vô cùng đẹp đẽ nhưng hết sức xa xôi của Lụa là gì?

A. Là một công việc ổn định.

B. Là một thước phim màu ấn tượng.

C. Là một thành phố thủy điện lớn.

D. Là công trình thủy điện sông Đà.

Câu 3. Vì sao Lụa lại cảm thấy sự có mặt của mình ở công trường có ý nghĩa?

A. Vì Lụa là một công nhân chăm chỉ và năng động.

B. Vì Lụa tham gia thiết kế nên bản đồ của thành phố thủy điện.

C. Vì Lụa tham gia sản xuất những viên gạch đang xây dựng nên thành phố.

D. Vì Lụa là một trong những công nhân đầu tiên ở công trường.

Câu 4. Trong các câu sau, câu nào có từ in đậm là động từ?

A. Đêm trăng, Lụa và mấy cô bạn ra bờ sông hóng mát.

B. Mảnh đất mà Lụa đang đứng, mai đây sẽ mọc lên một thành phố thủy điện.

C. Trên tường hôm ấy treo một tấm bản đồ lớn.

D. Con sông Đà từ Tây Bắc chảy về, đến Hòa Bình thì uốn cong thành một vòng cánh cung.

Câu 5. Viết 1-2 câu nêu cảm nhận của em về thành phố thủy điện được nhắc đến trong bài đọc.

Câu 6. Điền dấu ngoặc kép vào vị trí thích hợp trong câu văn sau và nêu tác dụng của dấu ngoặc kép em vừa điền.

Văn bản Cô thợ gạch trên sông Đà là lời kể của cô Lụa về những năm tháng đầu tiên bắt đầu xây dựng nhà máy thủy điện bên bờ sông Đà.

Câu 7. Viết tiếp vào chỗ trống trạng ngữ thích hợp để hoàn thành câu văn sau. Cho biết trạng ngữ đó bổ sung thông tin gì cho câu.

………………………………………………………… em tham gia hoạt động trồng và chăm sóc cây xanh trên vỉa hè do phường tổ chức.

B. KIỂM TRA VIẾT

Đề bài: Viết bài văn miêu tả một cây bóng mát trên sân trường em.

-------- Hết --------

Lời giải

  HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1. A

2. D

3. C

4. B

A. KIỂM TRA ĐỌC

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Nhân vật Lụa và các bạn của mình đã ra bờ sông hóng mát vào lúc nào?

A. Vào một buổi chiều hè.

B. Vào một buổi tối.

C. Vào một đêm trăng.

D. Vào giữa giờ giải lao.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ hai để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Khi Thời Lượng lên ba, bố mẹ gửi cậu cho sư thầy.

Đáp án A.

Câu 2. Hai năm trước đây, ước mơ vô cùng đẹp đẽ nhưng hết sức xa xôi của Lụa là gì?

A. Là một công việc ổn định.

B. Là một thước phim màu ấn tượng.

C. Là một thành phố thủy điện lớn.

D. Là công trình thủy điện sông Đà.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ hai để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Thời Lượng được sư thầy yêu, bạn mến vì cậu là người vừa học giỏi lại chuyên cần, ngoan ngoãn.

Đáp án D.

Câu 3. Vì sao Lụa lại cảm thấy sự có mặt của mình ở công trường có ý nghĩa?

A. Vì Lụa là một công nhân chăm chỉ và năng động.

B. Vì Lụa tham gia thiết kế nên bản đồ của thành phố thủy điện.

C. Vì Lụa tham gia sản xuất những viên gạch đang xây dựng nên thành phố.

D. Vì Lụa là một trong những công nhân đầu tiên ở công trường.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn cuối để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Chi tiết cho thấy Thời Lượng là người “uống nước nhớ nguồn” là “Ông đề nghị đón mình tại chùa để tạ ơn Phật, sư thầy rồi về thăm cha mẹ.”.

Đáp án C.

Câu 4. Trong các câu sau, câu nào có từ in đậm là động từ?

A. Đêm trăng, Lụa và mấy cô bạn ra bờ sông hóng mát.

B. Mảnh đất mà Lụa đang đứng, mai đây sẽ mọc lên một thành phố thủy điện.

C. Trên tường hôm ấy treo một tấm bản đồ lớn.

D. Con sông Đà từ Tây Bắc chảy về, đến Hòa Bình thì uốn cong thành một vòng cánh cung.

Phương pháp giải:

Em đọc lại bài đọc để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Nguyễn Thời Lượng đỗ Trạng Nguyên vì sống nương nhờ cửa Phật và do sáng dạ, chăm chỉ đèn sách.

Đáp án B.

Câu 5. Viết 1-2 câu nêu cảm nhận của em về thành phố thủy điện được nhắc đến trong bài đọc.

Phương pháp giải:

Qua những hành động, phẩm chất của Thời Lượng, em học tập được điều gì ở tấm gương ấy.

Lời giải chi tiết:

Qua bài đọc, em rút ra bài học là phải học tập chăm chỉ, ngoan ngoãn, dù hoàn cảnh khó khăn vẫn phải cố gắng rèn luyện bản thân và biết ơn người giúp đỡ mình.

Câu 6. Điền dấu ngoặc kép vào vị trí thích hợp trong câu văn sau và nêu tác dụng của dấu ngoặc kép em vừa điền.

Văn bản Cô thợ gạch trên sông Đà là lời kể của cô Lụa về những năm tháng đầu tiên bắt đầu xây dựng nhà máy thủy điện bên bờ sông Đà.

Phương pháp giải:

Em đặt câu hỏi để tìm các thành phần câu.

Lời giải chi tiết:

a. Mùi mít chín (CN) / thơm thoang thoảng (VN) ở góc vườn nhà ông Tuyên (TN).

b. Sau tiếng chuông chùa (TN), mặt trăng (CN) / đã nhỏ lại, sáng vằng vặc (VN).

Câu 7. Viết tiếp vào chỗ trống trạng ngữ thích hợp để hoàn thành câu văn sau. Cho biết trạng ngữ đó bổ sung thông tin gì cho câu.

………………………………………………………… em tham gia hoạt động trồng và chăm sóc cây xanh trên vỉa hè do phường tổ chức.

Phương pháp giải:

Em lưu ý đặt câu có trạng ngữ.

Lời giải chi tiết:

Để làm bố mẹ vui lòng, em đã chăm chỉ học tập và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra.

Trạng ngữ “Để làm bố mẹ vui lòng” bổ sung thông tin chỉ mục đích.

B. KIỂM TRA VIẾT

Đề bài: Viết bài văn miêu tả một cây bóng mát trên sân trường em.

Phương pháp giải:

Em xác định đối tượng của đề bài rồi lập dàn ý.

Dựa vào dàn ý để viết đoạn văn hoàn chỉnh.

Lời giải chi tiết:

Dàn ý:

- Mở bài: Giới thiệu câu chuyện về một người anh hùng chống ngoại xâm.

- Thân bài:

+ Kể các sự việc chính theo diễn biến của câu chuyện (mở đầu, diễn biến, kết thúc)

+ Phân tích những suy nghĩ, hành động… của người anh hùng trong khi kể

- Kết bài: Cảm nghĩ của em về người anh hùng đó và câu chuyện vừa kể

Bài tham khảo 1:

            An Dương Vương là một trong những người anh hùng chống giặc ngoại xâm đầu tiên của dân tộc ta. Rất nhiều những câu chuyện dân gian đã được kể và lưu truyền về ông. Và Sự tích thành Cổ Loa là một trong số đó.

            Theo truyện kể, An Dương Vương chính là người đã lập nên nhà nước Âu Lạc. Ông đã lãnh đạo nhân dân ta đoàn kết chống lại cuộc xâm lược của nhà Tần. Sau khi dành chiến thắng, nhận thấy được mối nguy hại từ lũ giặc phương Bắc, An Dương Vương đã quyết định xây thành để phòng giặc. Tuy nhiên, việc xây thành đã gặp phải một vấn đề rất lớn: Hễ xây lên cao thì tường thành sẽ đổ sập xuống. Dù thử nhiều cách nhưng lần nào không thành công nên An Dương Vương rất lo lắng và buồn bã. Cuối cùng, ông quyết định lập đàn cầu trời phù hộ cho nước Âu Lạc ta thành công đắp thành. Từ một làn khói trắng bay ra từ đàn cầu trời, một ông già râu tóc bạc phơ hiện ra, nói với vua rằng: “Sáng mai, nhà vua ra đón ở bờ sông, sẽ có Thần Kim Quy đến giúp.”. Quả thật vậy, sáng hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, vua An Dương Vương đã ra bờ sông chờ và thật sự gặp được một con rùa vàng khổng lồ. Rùa tự xưng là thần Kim Quy - sứ giả của Vua Thủy Tề. Thần Kim Quy dùng phép thần thông, tìm ra được con yêu quái vẫn luôn ẩn nấp phá hoại thành của nước ta và tiêu diệt nó. Từ hôm đó, việc xây thành diễn ra vô cùng thuận lợi, chảng bao lâu đã đắp xong thành Cổ Loa. Trước lúc ra về, Thần Kim Quy còn đưa cho An Dương Vương một chiếc móng của mình, dặn dò vua đem ra làm lẫy nỏ để giết giặc, bảo vệ đất nước.

            Câu chuyện trên đã kể về sự kiện xây thành của vua An Dương Vương với màu sắc hư ảo đặc trưng của các chuyện kể dân gian. Từ câu chuyện, em cảm nhận được một vị vua vừa dũng mãnh, thông minh lại luôn hết lòng lo lắng cho đất nước, muôn dân. Thật tự hào khi những trang sử của nước Việt ta có ghi lại cuộc đời của một người anh hùng như thế.

Bài tham khảo 2:

            Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nổi tiếng là chăm chỉ, hiền lành và phúc đức. Hai ông bà đã lớn tuổi mà vẫn chưa có con. Một lần, bà ra đồng thì trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân lên ướm thử xem thua kém bao nhiêu. Đến khi về nhà, bà lại thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Kì lạ là, đứa trẻ lên ba tuổi vẫn chưa biết nói, biết cười, ai đặt đâu thì ngồi đấy.

            Lúc bấy giờ, giặc Ân đến xâm lược nước ta. Thế giặc mạnh khiến nhà vua lo sợ. Vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài. Đến làng Gióng, cậu bé nghe tiếng sứ giả bỗng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, cậu liền bảo: “Ông về tâu với nhà vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, liền vội vàng về tâu với nhà vua.

            Kể từ sau hôm gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không no. Hai vợ chồng làm ra không đủ để nuôi con, phải nhờ cậy bà con hàng xóm. Ai cũng vui vẻ giúp đỡ vì đều mong cậu bé có thể đánh tan lũ giặc.

            Lúc bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước lúc này rất nguy. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Bỗng, chú bé vùng dậy, vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc. Giặc bị tiêu diệt hết lớp này đến lớp khác. Bỗng roi sắt gãy, tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm lên nhau chạy trốn.

            Tráng sĩ một mình một ngựa, lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Nhà vua nhớ công ơn phong là Phù Đổng Thiên Vương, cho lập đền thờ ở quê nhà. Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng. Người ta còn kể rằng những bụi tre ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả màu vàng óng, còn những vết chân ngựa nay thành những ao hồ liên tiếp. Người ta còn kể rằng ngựa thét ra lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu
  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 4

    Tiếng nổ xình xịch giòn giã vang động cánh đồng. Con mương rộng, nước về đầy ắp, chảy từ thôn Thượng qua thôn Trung xuống thôn Hạ, chảy qua bãi Bò Liếm thì nó dừng lại.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3

    Trạng Nguyên Nguyễn Kỳ Bố mẹ Thời Lượng rất nghèo, ăn ở hiền lành, tuổi đã ngoài tứ tuần mà vẫn chưa có con. Có người biết tướng số trong vùng bảo rằng: ông bà sẽ sinh quý tử nhưng số ông bà phải hầu cửa Phật. Từ đấy, ông bà họ Nguyễn sớm hôm lên chùa dâng hoa, đèn nhang thờ Phật. Sau đấy hai năm thì sinh ra Thời Lượng.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 2

    Câu chuyện hai hạt lúa Có hai hạt lúa nọ được người chủ chọn làm hạt giống cho mùa sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt, to khoẻ và chắc mẩy. Một hôm, người chủ định đem chúng gieo xuống cánh đồng. Hạt thứ nhất nhủ thầm: Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 1

    Quê hương nghĩa nặng Từ lúc thoát li gia đình cho đến ngày về yên nghỉ trên đất mẹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn tâm niệm: “Quảng Bình là nhà tôi, khi nào rảnh việc nước thì tôi về nhà.”. Lần đầu tiên Đại tướng về thăm nhà sau chiến thắng Điện Biên Phủ là mùa hạ năm 1959. Hình ảnh oai phong mà gần gũi của ông đã được ghi tạc trong tâm trí người dân An Xá.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...