Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 4


Tiếng nổ xình xịch giòn giã vang động cánh đồng. Con mương rộng, nước về đầy ắp, chảy từ thôn Thượng qua thôn Trung xuống thôn Hạ, chảy qua bãi Bò Liếm thì nó dừng lại.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề bài

A. KIỂM TRA ĐỌC

I. Đọc thành tiếng

- Học sinh đọc đoạn văn bản “Vệt phấn trên mặt bàn” (SGK Tiếng Việt 4 tập 2 - Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 12). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 - 5 phút.

- Dựa vào nội dung bài đọc, học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao Thi Ca làm Minh bực mình?

II. Đọc thầm văn bản sau:

NƯỚC VỀ ĐỒNG

Tiếng nổ xình xịch giòn giã vang động cánh đồng. Con mương rộng, nước về đầy ắp, chảy từ thôn Thượng qua thôn Trung xuống thôn Hạ, chảy qua bãi Bò Liếm thì nó dừng lại. Cứ gặp đá ngầm, nó dựng đứng sôi sục, cuộn tròn, tung mình lên để vượt qua, nhưng không thoát được, đành ngoan ngoãn chui đầu xuống trước sức hút của vòi bơm. Phía trên, từ miệng ống, một vùng nước xoã rộng ra, trắng xoá, cuồn cuộn, ồn ào dồn vào trong mương. Con mương trôi miên miết, oà vào các cánh đồng...

Những khối nước to lớn, mát lạnh từ sông xa về thấm dần, tràn vào các thớ đất khô cứng nứt nẻ. Mặt đất ọc ạch, chuyển động, run rẩy, quấn riết lấy nước như đứa bé đói tìm được bầu vú mẹ... Tiếng nước chảy rí rách, rì rầm, liu riu... như tiếng gió rất nhẹ, như tiếng lá rụng, như tiếng đàn cá quẫy. Trời đất như mát hơn, như rộng ra. Trăng đầu tháng mờ xanh. Mặt nước pha một chút lơ mỏng, phơn phớt. Những chiếc lá lúa, những cụm lúa quẫy quẫy rung rung, trông xa như những cái đuôi nhỏ xíu đang chạy.

(Nguyễn Thị Ngọc Tú)

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Dòng nước chảy qua mương nước để đổ về đâu?

A. Đổ về mương nước

B. Đổ về thôn Hạ

C. Đổ về bãi Bò Liếm

D. Đổ về cánh đồng

Câu 2. Người dân đưa nước từ con mương về bằng cách nào?

A. Đào mương nhỏ

B. Dùng máy kéo

C. Dùng vòi bơm

D. Dùng máy cày

Câu 3. Vì sao người dân cần phải dẫn nước về ruộng lúa?

B. Vì nước mương chứa nhiều khoáng chất, tốt cho sự phát triển của cây lúa.

A. Vì bao đời nay người dân vẫn làm như thế.

C. Vì cánh đồng đang rơi vào mùa cạn, đất khô cứng, nứt nẻ.

D. Vì nước ở con mương là miễn phí.

Câu 4. Tìm từ ngữ miêu tả âm thanh tiếng nước chảy ở đoạn 2 bài đọc.

A. Quẫy quẫy, rung rung

B. Chuyển động, run rẩy

C. Rí rách, rì rầm

D. Lơ mỏng, phơn phớt

Câu 5. Viết 1-2 câu nêu suy nghĩ của em về vai trò của nước đối với cánh đồng lúa trong bài đọc.

Câu 6. Sửa lại tên cơ quan, tổ chức viết sai:

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

- Bộ giao thông Vận tải

- Bộ thông tin và truyền thông

Câu 7. Em hãy đặt một câu sử dụng trạng ngữ chỉ phương tiện. Trong câu có sử dụng chủ ngữ "người nông dân".

B. KIỂM TRA VIẾT

Đề bài: Viết bài văn miêu tả một cây hoa mà em thấy trong vườn trường hoặc trên đường đi học.

-------- Hết --------

Lời giải

  HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1. D

2. C

3. C

4. C

A. KIỂM TRA ĐỌC

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Dòng nước chảy qua mương nước để đổ về đâu?

A. Đổ về mương nước

B. Đổ về thôn Hạ

C. Đổ về bãi Bò Liếm

D. Đổ về cánh đồng

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ nhất để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Dòng nước chảy qua mương nước để đổ về cánh đồng.

Đáp án D.

Câu 2. Người dân đưa nước từ con mương về bằng cách nào?

A. Đào mương nhỏ

B. Dùng máy kéo

C. Dùng vòi bơm

D. Dùng máy cày

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ nhất để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Người dân đưa nước từ con mương về bằng cách dùng vòi bơm.

Đáp án C.

Câu 3. Vì sao người dân cần phải dẫn nước về ruộng lúa?

B. Vì nước mương chứa nhiều khoáng chất, tốt cho sự phát triển của cây lúa.

A. Vì bao đời nay người dân vẫn làm như thế.

C. Vì cánh đồng đang rơi vào mùa cạn, đất khô cứng, nứt nẻ.

D. Vì nước ở con mương là miễn phí.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ hai để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Vì cánh đồng đang rơi vào mùa cạn, đất khô cứng, nứt nẻ nên người dân cần phải dẫn nước về ruộng lúa.

Đáp án C.

Câu 4. Tìm từ ngữ miêu tả âm thanh tiếng nước chảy ở đoạn 2 bài đọc.

A. Quẫy quẫy, rung rung

B. Chuyển động, run rẩy

C. Rí rách, rì rầm

D. Lơ mỏng, phơn phớt

Phương pháp giải:

Em đọc đianj thứ hai để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Từ ngữ miêu tả âm thanh tiếng nước chảy ở đoạn 2 là rí rách, rì rầm.

Đáp án C.

Câu 5. Viết 1-2 câu nêu suy nghĩ của em về vai trò của nước đối với cánh đồng lúa trong bài đọc.

Phương pháp giải:

Em dựa vào nội dung bài đọc để nêu vai trò của nước đối với cánh đồng lúa.

Lời giải chi tiết:

Nước có vai trò rất quan trọng đối với cánh đồng lúa. Nước làm đất mềm ra và nuôi dưỡng cây lúa phát triển tươi tốt và mang lại mùa màng bội thu.

Câu 6. Sửa lại tên cơ quan, tổ chức viết sai:

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

- Bộ giao thông Vận tải

- Bộ thông tin và truyền thông

Phương pháp giải:

Em nhớ lại quy tắc viết tên cơ quan tổ chức.

Lời giải chi tiết:

- Bộ Giao thông Vận tải

- Bộ Thông tin và Truyền thông

Câu 7. Em hãy đặt một câu sử dụng trạng ngữ chỉ phương tiện. Trong câu có sử dụng chủ ngữ "người nông dân".

Phương pháp giải:

Em lưu ý đặt câu có trạng ngữ chỉ phương tiện.

Lời giải chi tiết:

Bằng chiếc máy bơm, người nông dân dẫn nước về ruộng lúa.

B. KIỂM TRA VIẾT

Đề bài: Viết bài văn miêu tả một cây hoa mà em thấy trong vườn trường hoặc trên đường đi học.

Phương pháp giải:

Em lập dàn ý cho bài văn:

Mở bài: Giới thiệu cây hoa em định tả

- Cây hoa ở đâu (vườn trường / ven đường / trước cổng trường…)

- Ấn tượng chung của em về cây hoa

Thân bài:

- Miêu tả chung về cây hoa:

+ Cây hoa ấy hiện đã bao nhiêu tháng tuổi? Đã bước vào giai đoạn ra hoa chưa?

+ Cây hoa đó có kích thước như thế nào? (chiều cao, bề ngang…)

- Miêu tả từng bộ phận của cây:

+ Rễ cây (loại rễ, kích thước, màu sắc, công dụng…)

+ Thân cây (kích thước, màu sắc lớp vỏ bên ngoài…)

+ Cành cây (số lượng cành và nhánh cây, khoảng cách giữa các cành cây, phạm vi cành cây xòe ra bên ngoài…)

+ Lá cây (hình dáng, kích thước, gân lá, màu sắc, đặc điểm bề mặt…)

+ Hoa (mọc đơn lẻ hay mọc thành chùm, kích thước nụ hoa và khi hoa đã nở, đặc điểm của cánh hoa, mùi hương…)

Kết bài:

- Nêu tình cảm, cảm xúc của em dành cho cây hoa đó.

- Mong muốn của em đối với cây hoa (cây luôn xanh tốt, nở hoa đẹp…)

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

Trường em có một khu vườn nhỏ ở trước thư viện. Đó là một khu vườn hình tròn trồng rất nhiều những cây hoa hồng nhung.

Các cây hoa hồng nhung được trồng thẳng hàng với nhau. Các gốc cây chỉ to như ngón tay cái, phủ đầy gai nhọn. Từ gốc, mọc lên các cành nhỏ hơn, hướng thẳng lên trời. Hằng ngày, bác bảo vệ đều tỉa lại vườn hoa, nên các cành đều đảm bảo mọc thẳng, và đều chỉ cao đến khoảng 1m mà thôi. Phần thân hồng càng gần ngọn sẽ nhỏ lại và có màu xanh nhạt hơn. Đồng thời gai ở vị trí này cũng nhỏ và mềm hơn gai ở dưới gốc. Lá hoa hồng không quá lớn, hơi mỏng, có gai ở hai bên mép lá. Lúc nhỏ lá có màu đỏ tía, chờ lớn lên thì chuyển sang xanh sẫm. Trên cùng của các cành hồng, chính là hoa. Hoa hồng nở thành chùm, thường từ ba đến năm bông. Các bông hoa ở một nhánh như vậy sẽ nở lần lượt từ bông ở vị trí cao nhất. Khi còn là nụ, hoa hồng lớn như hạt trân châu, chờ khi nở thì có thể lớn như cái bánh dày. Hoa hồng nhung có cánh hoa dày, mềm mịn và đỏ sẫm như rượu vang. Hương hoa thơm ngát, lan xa, nên ai đi qua vườn cũng phải nán lại để ngắm nghía.

Em rất thích vườn hoa hồng của trường. Nên sáng sáng khi đi học, đều sẽ ghé qua vườn để thăm những cây hoa xinh xắn ấy.

Bài tham khảo 2:

Nơi góc sân trường nổi bật lên một sắc đỏ rực rỡ như ngọn lửa cháy giữa trời xanh, đó chính là cây phượng vĩ thân yêu của chúng em.

Thân cây phượng khá to, vòng tay nhỏ bé của em không thể ôm trọn. Vỏ cây màu nâu nhạt, sờ vào thấy mát lạnh và nhẵn bóng. Không như những cây cổ thụ có rễ nổi ngoằn ngoèo trên mặt đất, cây phượng nơi góc sân lại có rễ ăn sâu xuống lòng đất, bám chắc vào đất mẹ như bám lấy cội nguồn, âm thầm hút dưỡng chất nuôi cây lớn lên từng ngày. Những cành cây khẳng khiu như cánh tay khổng lồ vươn ra tứ phía, tạo nên một tán cây rộng, vừa để đón nắng đón gió, vừa che bóng mát cho cả một khoảng sân trường vào những ngày hè oi ả.

Lá phượng mảnh mai, mọc thành từng phiến đều đặn. Mỗi khi gió thổi, những tán lá rung rinh như đuôi con chim phượng múa lượn trong nắng. Mùa xuân đến, cây phủ lên mình màu xanh mướt mát của lá non. Khi hè sang, trên những cành cây bắt đầu xuất hiện những nụ hoa nhỏ xinh, màu xanh nhạt, chỉ bằng đầu ngón tay. Chẳng mấy chốc, những nụ hoa ấy lần lượt bung nở, để lộ ra những cánh hoa đỏ thắm. Hoa phượng không nở đơn lẻ mà kết thành từng chùm lớn, dày đặc trên các cành cây. Nhìn từ xa, cả cây phượng như một ngọn đuốc đỏ rực cháy giữa trời xanh. Hoa rơi lả tả như những cánh bướm nhỏ bay trong gió, trải thảm đỏ trên mặt sân. Khi hoa tàn, những quả phượng dài, cứng cáp xuất hiện.

Cây phượng không chỉ là một loài cây đẹp, mà còn là một phần không thể thiếu trong ký ức tuổi học trò của em. Em yêu cây phượng biết bao! Em mong cây sẽ luôn khỏe mạnh, vươn cao, bung nở rực rỡ mỗi mùa hè để tiếp tục chứng kiến những lứa học sinh khác lớn lên.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu
  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 5

    Đêm trăng, Lụa và mấy cô bạn ra bờ sông hóng mát. Mùa này, nước sông còn cạn, dòng sông hẹp, tiếng trẻ con đùa tắm trên bãi bên kia vọng sang nghe rõ mồn một.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 3

    Trạng Nguyên Nguyễn Kỳ Bố mẹ Thời Lượng rất nghèo, ăn ở hiền lành, tuổi đã ngoài tứ tuần mà vẫn chưa có con. Có người biết tướng số trong vùng bảo rằng: ông bà sẽ sinh quý tử nhưng số ông bà phải hầu cửa Phật. Từ đấy, ông bà họ Nguyễn sớm hôm lên chùa dâng hoa, đèn nhang thờ Phật. Sau đấy hai năm thì sinh ra Thời Lượng.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 2

    Câu chuyện hai hạt lúa Có hai hạt lúa nọ được người chủ chọn làm hạt giống cho mùa sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt, to khoẻ và chắc mẩy. Một hôm, người chủ định đem chúng gieo xuống cánh đồng. Hạt thứ nhất nhủ thầm: Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 - Đề số 1

    Quê hương nghĩa nặng Từ lúc thoát li gia đình cho đến ngày về yên nghỉ trên đất mẹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn tâm niệm: “Quảng Bình là nhà tôi, khi nào rảnh việc nước thì tôi về nhà.”. Lần đầu tiên Đại tướng về thăm nhà sau chiến thắng Điện Biên Phủ là mùa hạ năm 1959. Hình ảnh oai phong mà gần gũi của ông đã được ghi tạc trong tâm trí người dân An Xá.

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...