(35+ mẫu) Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học hay nhất - Ngữ văn 10


Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ

Tổng hợp đề thi học kì 2 lớp 10 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - Lí - Hóa - Sinh - Sử - Địa...

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Bài mẫu 1

     Nguyễn Quang Sáng là nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Các sáng tác của ông tập trung chủ yếu về cuộc sống và con người Nam Bộ trong hai cuộc chiến cũng như sau hòa bình. Chiếc lược ngà là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông được sáng tác năm 1966. Tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.

     Tác phẩm xây dựng tình huống truyện éo le: Ông Sáu sau tám năm xa nhà đi kháng chiến, ông được nghỉ ba ngày phép về thăm nhà, thăm con. Trước nỗi xúc động và tình cảm yêu mến của ông, bé Thu – đứa con gái ông yêu quý, mong nhớ suốt tám năm trời đã không nhận ra ông là ba. Ngày ông phải trả phép về đơn vị cũng chính là ngày con bé nhận ông là ba. Ở đơn vị, ông Sáu dồn tất cả tình yêu, nỗi nhớ, nỗi ân hận vào việc làm chiếc lược ngà để tặng con. Nhưng chưa kịp trao cây lược cho con thì ông đã hi sinh trong một trận càn lớn của Mỹ. Từ tình huống truyện, tác phẩm đề cao, ngợi ca tình ca tình cha con sâu nặng, đồng thời tố cáo tội ác chiến tranh.

     Truyện xoay quanh hai nhân vật chính là bé Thu và ông Sáu, thông qua tình huống truyện éo le, mỗi nhân vật bộc lộ tính cách, phẩm chất của mình. Trước hết về bé Thu, em là con của ông Sáu nhưng từ nhỏ đã phải xa cha do ba vào chiến trường. Sau tám năm xa cách, Thu được gặp lại ba, những tưởng đó sẽ là cuộc đoàn viên đầy hạnh phúc, nhưng trái ngược với ông Sáu mừng rỡ lao về phía em thì Thu dửng dưng, thậm chí hốt hoảng gọi “Má! Má!”. Những ngày sau đó, dù ông Sáu hết lòng chăm sóc nhưng bé Thu vẫn lạnh nhạt, thậm chí xa lánh, ngang ngạnh cự tuyệt ông Sáu. Dù ông đã làm hết cách nhưng bé Thu vẫn không gọi ông là ba. Những lúc gặp khó khăn, nguy cấp Thu chỉ gọi trống không, không nhận được sự trợ giúp của ông Sáu, nó cũng loay hoay tự làm một mình.

     Trong bữa cơm, ông Sáu gắp cho nó cái trứng cá, Thu gạt ra, bị ông Sáu đánh, cô bé lập tức bỏ về nhà bà ngoại. Nguyễn Quang Sáng đã miêu tả thật chính xác thái độ, hành động khác thường của bé Thu. Bởi trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt em không hiểu những éo le mà chiến tranh gây ra, nên chỉ vì một vết thẹo trên mặt ông Sáu em kiên quyết không nhận ba. Điều đó cũng cho thấy Thu là đứa trẻ bướng bỉnh, cá tính nhưng đằng sau sự từ chối đến cứng đầu đó là tình yêu thương thắm thiết Thu dành cho ba mình.

     Bé Thu cứng đầu chối từ sự ân cần của cha bao nhiêu thì giây phút nhận ra cha lại mãnh liệt, xúc động bấy nhiêu. Sau khi nghe bà ngoại giải thích, bé Thu đã trở về nhà trong sáng ngày ông Sáu lên đường về đơn vị. Con bé đã thay đổi hoàn toàn thái độ trong sự ngỡ ngàng của ông Sáu và mọi người, tiếng gọi ba của Thu là tiếng gọi kìm nén suốt tám năm, tám năm yêu thương, đợi chờ ngày ba về. Không chỉ gọi, con bé con lao tới, nhảy lên người ba và hôn khắp cùng, hôn mặt, hôn má, và hôn cả vết thẹo dài trên mặt ba, vết thẹo đã khiến con bé bướng bỉnh không nhận ba. Thu ôm chặt anh, quàng cả chân vào người anh Sáu, bởi nó sợ buông lơi anh Sáu sẽ đi mất, cái ôm cái hôn ấy còn như muốn bày tỏ tất cả tình cảm Thu dành cho ba. Trong khoảnh khắc đó, ai cũng như lặng người đi vì xúc động. Với lối miêu tả chân thực, giàu cảm xúc tác giả đã cho thấy tình yêu thương sâu nặng Thu dành cho ba, dù có những lúc gan góc, bướng bỉnh nhưng em rất giàu tình cảm và dễ xúc động.

     Về phía ông Sáu, trong ba ngày về nghỉ phép, ông dành trọn yêu thương cho đứa con gái bé bỏng. Thuyền chưa cập bến ông đã vội vàng nhảy lên bờ, chạy về phía con, đôi bàn tay sẵn sàng dang ra chờ đợi đứa con sà vào lòng. Nhưng trái ngược với điều ông tưởng tượng, bé Thu cự tuyệt, lảng tránh, điều đó làm ông hết sức đau lòng, hai tay ông buông thõng như bị gãy. Khuôn mặt ấy thật đáng thương biết bao, ông không biết làm thế nào để có thể xóa nhòa khoảng cách thời gian và không gian ấy. Để bù đắp cho con, ba ngày nghỉ phép ông không đi đâu, chỉ quanh quẩn bên con, yêu thương, ân cần bên con mong Thu sẽ thay đổi. Trước sự cứng đầu của Thu, ông chỉ khẽ lắc đầu, chứ không hề trách mắng con. Chỉ đến khi ông gắp thức ăn cho nó bị Thu bỏ ra, bao nhiêu buồn đau dồn nén bấy lâu ông đã đánh Thu, điều ấy đã làm ông ân hận mãi về sau. Khoảnh khắc hạnh phúc nhất mà cũng đau lòng nhất của ông chính là được nghe tiếng gọi ba thiêng liêng, nhưng đó cũng là lúc ông phải chia tay con trở về đơn vị.

     Một người lính từng trải, gan góc trên chiến trường lại khóc bởi tiếng gọi đầy thân thương. Những giọt nước mắt không thể kiềm chế, cứ thế trào ra. Trong những ngày ở chiến trường ông ân hận vì đánh con, không quên lời hứa, ông dồn tâm huyết vào làm chiếc lược ngà. Ông chi chút, tỉ mẩn mài từng chiếc răng lược cho nhẵn bóng. Thậm chí, cái chết cũng không cướp đi được tình yêu thương con của ông Sáu. Vết thương nặng trong một trận càn khiến ông kiệt sức, không trăn trối được điều gì nhưng ông vẫn dồn hết tàn lực móc cây lược trao cho đồng đội và gửi gắm đồng đội mình qua ánh mắt đầy yêu thương. Cây lược ấy đã được người đồng đội trao lại cho bé Thu. Tình cha con đã không chết, nâng đỡ cô bé trưởng thành, vượt lên mọi đau thương mất mát. Ông Sáu là biểu tượng cho tình yêu thương, sự ân cần và che chở của người cha dành cho con mình. Qua đó ta thấy được sự bất tử của tình cảm cha con trong hoàn cảnh chiến tranh.

     Tác phẩm đã xây dựng được tình huống truyện độc đáo, bất ngờ qua đó thể hiện chủ đề của tác phẩm cũng như cách sử dụng nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc, phù hợp với lứa tuổi của Nguyễn Quang Sáng. Cùng với đó, truyện ngắn có lối kể chuyện chân thực, tự nhiên, giàu cảm xúc kết hợp với hình ảnh giản dị, mà giàu giá trị, ý nghĩa biểu tượng, kết tinh trong hình tượng chiếc lược ngà với ngôn ngữ đậm giản dị và đậm chất Nam Bộ. Chiếc lược ngà đã tái hiện thành công bức tranh về tình cha con sâu nặng của bé Thu và ông Sáu. Từ đó, tác giả cũng thể hiện hoàn hảo sự tàn bạo của chiến tranh; những bi kịch cùng tình cảm gia đình đẹp đẽ trong thời chiến và đồng thời tác phẩm cũng ca ngợi tình cảm phụ tử thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt.

Bài mẫu 2

Để một tác phẩm văn học trở nên thành công thì cần có rất nhiều yếu tố tác động vào như nội dung, nghệ thuật, cùng các giá trị nhân văn mà nó mang lại. Một trong những yếu tố quan trọng đó chính là cách xây dựng tình huống truyện. Một truyện ngắn muốn hay, cuốn hút người đọc thì phải có được một cốt truyện hấp dẫn. Một trong số ít nhà văn được mệnh danh là bậc thầy trong xây dựng cốt truyện đó chính là Kim Lân. Các tác phẩm của ông đều có những nét riêng biệt, đặc sắc, nội bật trong số đó chính là tác phẩm “Vợ nhặt”. Truyện ngắn phản ánh sự thật về nạn đói những năm 1945 và cuộc sống nghèo khổ của nhân dân thời bấy giờ.

Truyện ngắn nói về nhân vật Tràng, một người dân ngụ cư nghèo khổ sống cùng mẹ. Nhà văn Kim Lân đã miêu tả Tràng như một sản phẩm vội vàng của tạo hóa “hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai quai hàm bạnh ra, cái mặt bặm lại lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lý thú vừa dữ tợn. Cái đầu trọc nhẵn chúi về đằng trước, cái lưng dài rộng như là lưng gấu lại thêm tật vừa đi vừa ngẩng mặt lên trời cười hềnh hệch". Quả thực Tràng là một thanh niên rất xấu xí, chả ai thèm ngó ngàng. Chẳng những vậy, cái nghèo, cái đói luôn đeo bám, quẩn quanh hai mẹ con Tràng. Kim Lân đã dùng những từ ngữ chân thật để miêu tả cuộc sống và ngôi nhà mà Tràng đang ở “những búi cỏ dại lổn nhổn”, “đống quần áo rách vắt khươm mươi niên trong một góc nhà”, “hai cái ang nước để khô cong trơ trọi dưới gốc cây ổi”…. Cuộc sống túng thiếu của hai mẹ con hiện lên thật giản dị, tội nghiệp, khiến người khác không khỏi cảm thấy xót thương cho hai số phận. Nhưng điều làm cho Tràng cảm thấy tủi nhục nhất đó chính là mang trong mình cái danh dân ngụ cư, bị dân làng khinh miệt, coi thường.

Tuy nghèo đói nhưng chàng vẫn có một công việc để làm, để trông mong, đó chính là phu xe, hàng ngày bốc vác, chở gạo ra các chợ. Công việc thì vất vả, đói khát nhưng quả thật anh ta lúc nào cũng có thể vui vẻ, lạc quan. Giữa trời trưa nắng gắt, phải kéo cả một xe gạo đầy nặng trĩu, nhưng chàng ta vẫn có sức cất lên những câu hò:

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này

Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”

Những câu hò này không hẳn là có ý trêu ghẹo những cô gái ngồi bên đường, mà chủ yếu để giúp chàng ta quên đi những mệt mỏi, đói khát mà mình đang phải chịu. Ấy vậy mà chỉ bằng vài ba lời hát vu vơ mà khiến Tràng được một người con gái để ý và đi theo đẩy giúp. Tràng là ngưởi hiểu rõ hơn ai hết những gì mà mình hát ở trên không phải là sự thật, làm gì mà có gạo trắng mà ăn chứ nói gì đến giò chả. Để rồi đến khi gặp người con gái ấy lần thứ hai, Tràng đã rất đỗi ngạc nhiên trước sự thay đổi ngoại hình của Thị “Thị hôm nay rách quá, trên khuôn mặt lưỡi cày chỉ trơ lại hai con mắt”.

Quả thực Thị đã gầy đi rất nhiều, có lẽ vì đói, vì khát mà cơ thể con người Thị đã bị tàn phá nhanh đến như vậy. Thị chạy đến sưng sỉa trước mặt Tràng “Điêu! người thế mà điêu”, mới đầu hắn ta chẳng hiểu gì nhưng rồi một lúc cũng ngộ ra rồi mời Thị đi ăn “thích ăn gì thì ăn”. Thị ta chẳng ngại ngùng gì mà cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc, quả thực lúc này thị ta nhìn rất trơ trẽn. Người ngoài nhìn vào có người sẽ khinh bỉ, cho rằng thị ta đang vứt hết cả lòng tự trọng đi để ăn, nhưng cũng sẽ có những người xót thương, đồng cảm cho một con người đang phải chịu cơn đói hành hạ. Khi ấy, con người ta chẳng còn bận tâm đến danh dự, hay nhân phẩm gì nữa, ăn no mới là điều quan trọng trước hết. Đợi đến khi Thị ăn xong, Tràng có nói câu nửa vui nửa đùa rằng “về với tớ thì khuôn hàng lên xe rồi cùng về”. Tưởng Thị sẽ cười chê mình, nào ngờ Thị về thật, về làm dâu nhà Tràng. Một đám cưới diễn ra.

Việc một con trai lớn lên, xây nhà, cưới vợ là việc quá đỗi bình thường, nhưng nhân vật Tràng lại là một thanh niên xấu xí, nghèo đói, gia cảnh khó khăn, đặc biệt là dân ngụ cư nữa nên việc Tràng có được vợ làm rất nhiều người ngạc nhiên. Qua đây, ta đã thấy được nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo của Kim Lân: vợ đáng lẽ ra là người ta yêu, qua tìm hiểu, đính ước mà đến với nhau, nhưng ở đây, Tràng ta lại “nhặt” được vợ theo đúng nghĩa đen và của hồi môn chắc có lẽ chỉ là vài bát bánh đúc mà thị ta vừa ăn lúc trước.

Việc Tràng có vợ khiến rất nhiều người ngạc nhiên, cụ Tứ – mẹ Tràng cùng tất cả những người thôn ngụ cư, người trong xóm lạ lắm: Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Đến khi hiểu ra là Tràng có vợ theo về, thì họ lại càng ngạc nhiên hơn nữa. Người thì “cười lên rung rúc", người lại lo dùm cho anh ta "Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ dài về". Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”. Người đời cười chê, chế nhạo thế nhưng chẳng làm hai vợ chồng Tràng cảm thấy tủi nhục, xấu hổ. Cho đến khi dẫn Thị về nhà, cả cụ Tứ lẫn Tràng đều không tin nhà mình có con dâu.

Cụ Tứ vừa vui vừa buồn, vừa cảm thấy thương xót cho con trai mình. Bà vui vì con trai mình đến tuổi trưởng thành đã cưới được vợ, bà mừng cho hai đứa chúng nó, nhưng bà cũng buồn, buồn vì gia đình nhà mình quá nghèo. Đám cưới gì mà chẳng có cờ có hoa, không một mâm cỗ, không kèn trống, không người đưa đón, chỉ đơn giản là đưa dẫn nhau về ở chung, cùng nhau vun vén, xây dựng gia đình. Bước vào căn nhà lụp xụp mà hai mẹ con Tràng đang ở mà Thị chỉ biết thở dài, bắt tay vào công việc dọn dẹp. Đến bữa ăn về nhà chồng cũng chỉ là nồi cháo loãng với chút muối trắng, cuộc sống của ba con người quả thực rất nghèo khổ.

Qua câu chuyện, nhà văn đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất đối với con người nghèo khổ bằng cả tấm lòng nhân hậu của mình. Ông xót thương cho dân tộc trước thảm họa đói chết. Ông cũng ái ngại cho người con gái bị nạn đói cướp đi gần hết (gia đình, nhan sắc, tính cách, tên tuổi…).

Không những vậy, nhà văn còn rất tinh tế khi phát hiện ra khát vọng hạnh phúc và niềm vui khi nhặt vợ của Tràng; cái duyên thầm của thị qua cái liếc mắt với Tràng…Có thể nói, nhà văn rất trân trọng và tự hào về vẻ đẹp nhân tính của con người lao động nghèo trước thảm họa đau thương, chết chóc.

Đồng thời nhà văn còn tập trung ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân lao động qua hình ảnh của bà cụ Tứ: một người mẹ giàu tình thương con, giàu lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống và đây cũng chính là niềm tin của nhà văn vào phẩm chất tốt đẹp của con người.

Thông qua tình huống truyện, nhà văn lên án và tố cáo tội ác của Nhật – Pháp đã đẩy nhân dân ta vào thảm họa đói nghèo, chết chóc. Chính chúng đã làm cho giá trị con người trở thành rẻ rúng như rơm như rác: vợ mà nhặt được.

Đúng là một tình huống truyện rất lạ mà Kim Lân đã dựng nên. Nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào một tình huống éo le để làm nổi bật lên những giá trị nhân văn sâu sắc. Ông không chỉ muốn nói lên nét đẹp trong tính cách con người Việt Nam là dù có ở trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào, lúc nào cũng có thể đối mặt với cái chết nhưng họ vẫn yêu thương, quan tâm nhau mà ông còn muốn lên án chế độ thực dân độc ác đã khiến nhân dân ta trở nên nghèo đói, lầm than.

Bài mẫu 3

Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của người nông dân, của làng quê Việt Nam bởi trong các tác phẩm của ông luôn hướng tới hình ảnh người nông dân. Với văn phong giản dị, mộc mạc nhưng sâu sắc thấm đẫm tinh thần nhân văn, tác giả Kim Lân đã gửi tới người đọc một tác phẩm kinh điển thể hiện tình cảm đậm đà của ông dành cho những số phận người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ.

Tác phẩm “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm đặc sắc đại diện cho văn phong, cũng như nhân sinh quan của tác giả Kim Lân. Vợ nhặt ra đời khi nước ta đang trong giai đoạn một cổ hai tròng vừa bị thực dân Pháp đô hộ, vừa bị phát xít Nhật cai trị, kèm theo chế độ phong kiến trong thời kỳ suy tàn, thối nát làm cho người dân vô cùng khốn khổ. Câu chuyện xoay quanh bối cảnh nạn đói kinh điển năm 1945 làm chết hai triệu đồng bào ta. Tại một xóm ngụ cư nghèo nơi tập trung những gia đình đi di tản từ khắp nơi kéo tới đây, tạo thành một khu ngụ cư mới. Ngay cái nhan đề của tác phẩm “Vợ nhặt” đã gợi lên cho người đọc nhiều suy nghĩ về nội dung câu chuyện, thể hiện một việc trọng đại của đời người chính là việc dựng vợ gả chồng nhưng lại được làm rất qua loa, như việc nhặt một món đồ, một viên gạch ngoài đường mang về nhà.

Mở đầu tác phẩm tác giả Kim Lân đã phác họa lên hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Chỉ bằng vài chi tiết nho nhỏ tác giả Kim Lân đã khiến cho người đọc hình dung ra được hình ảnh nhân vật. Nhân vật Tràng là người có ngoại hình thô kệch, xấu xí, gia cảnh thì mẹ góa con côi, bần hàn. Hắn chẳng có điểm nào thu hút phụ nữ. Công việc của Tràng làm nghề kéo xe bò thuê chở hàng cho người ta, một công việc lao động tay chân, bán mồ hôi sức lao động để kiếm vào đồng xu lẻ. “Hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”.

Sự đói nghèo bần hàn, vây quanh lấy hắn, nhưng trong đầu hắn luôn hiện lên những suy nghĩ lạ lùng thỉnh thoảng lại thấy hắn ngửa mặt cười cười một cái gì đó. Tràng thật sự là một con người kỳ quái. Giữa khung cảnh nghèo đói, cùng cực ấy. Một con người xấu xí, thô kệch nghèo khổ như Tràng những tưởng vĩnh viễn phải sống kiếp cô độc vì chả có gì thu hút người khác thì làm sao mà lấy được vợ. Nhưng không ngờ Tràng vẫn lấy được vợ, mà con lấy được một cách dễ dàng “nhặt” được vợ như nhặt một cục đá mà thôi.

Chỉ bằng những câu nói bông đùa vu vơ, mà Tràng nhặt được vợ “Muốn ăn cơm trắng với giò, thì ra đây đẩy xe bò với anh nào” Chỉ có như thế thôi nhưng một cô gái ngoan ngoãn ra đẩy xe với hắn. Rồi theo hắn về nhà làm vợ. Tác giả Kim Lân đã xây dựng tình huống truyện vô cùng thú vị, độc đáo làm thay đổi số phận của nhân vật Tràng. Làm cho câu chuyển sang một hướng rẽ mới thú vị và thu hút người đọc. Hành động nhặt được vợ của Tràng khiến người ta phải suy nghĩ, bởi việc lấy vợ lấy chồng là việc vô cùng quan trọng trong đời người, bình thường người ta phải làm thật cẩn thận suy tính trước sau. Cô gái làm vợ Tràng cũng thật thiệt thòi biết bao, làm vợ người ta mà không có một lễ cưới, không được làm dăm ba mâm ra mắt họ hàng, không có giấy đăng ký kết hôn, không có chứng nhận của hai bên họ hàng.

Sự nghèo khó đã đẩy những con người khốn khổ xích lại gần nhau hơn. Họ tìm đến với nhau để nương tựa vào nhau trong lúc khó khăn, cho bớt cơ cực. Họ cũng hy vọng khi có nhau rồi cuộc sống của họ sẽ thay đổi ít nhiều có thêm niềm vui vào tương lai. Hình ảnh vợ Tràng hiện lên làm người đọc không khỏi xúc động “thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn”.

Khi đưa thị về nhà khung cảnh xóm ngụ cư hiện lên đìu hiu, buồn bã, ảm đạm như những con người sống trong xóm nghèo đó “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma…” Những người hàng xóm tò mò hỏi Tràng về người phụ nữ đi bên cạnh Tràng. Họ tò mò vì một người nghèo khổ xấu xí như Tràng mà cũng có gái theo. Nhưng có người cũng thực tế hơn họ cho rằng trong thời kỳ đói khổ miếng ăn không có như hiện nay mà còn cưới vợ vác thêm một miệng ăn về nhà thì khác nào vác một cục nợ.

Cứ như thế Tràng và thị đi trong những tiếng xì xào, bàn tán nhưng họ cứ mặc kệ cứ bước đi bên nhau và hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn. Cuộc gặp gỡ giữa mẹ chồng nàng dâu cũng khiến nhiều người phải ám ảnh bà cụ Tứ mẹ Tràng “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…”

Lúc đầu bà cụ lo lắng lắm nhưng rồi bà cụ Tứ cũng nhận ra vấn đề “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Những suy nghĩ đau đớn chua xót của một người mẹ thương con, được tác giả Kim Lân tái hiện qua những trang viết vô cùng xúc động làm lay động trái tim người đọc.

Bà cụ Tứ vui mừng chấp nhận người vợ của con trai mình. Hình ảnh bữa cơm đầu tiên sau đêm tân hôn hiện ra khiến nhiều người không khỏi nghẹn ngào đắng ngắt trong cổ họng. Đó chính là “nồi cháo cám” với đĩa muối trắng, hoa chuối thái vội. Một hình ảnh đại diện cho cái nghèo, hiện lên chân thực, mộc mạc. Tuy nhiên, trong bữa cơm ấy ba con người trong câu chuyện lại ăn uống rất ngon. Họ còn nói chuyện với nhau về tin đồn Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho dân nghèo. Trong bữa cơm ấy, ba con người khốn khổ cùng mơ ước có một ngày được thấy ngọn cờ đỏ sao vàng, được sống một kiếp sống khác. Họ cùng nhau tin tưởng vào tương lai.

Nhân đạo trong tác phẩm Kim Lân cũng thật đặc biệt. Ông đẩy mỗi nhân vật đến tận cùng của khổ sở, để rồi sau đó mở ra con đường, tương lai cho họ. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện cuối tác phẩm, đã mở ra một tương lai tươi sáng, giải thoát cuộc đời của những con người dưới đáy xã hội. Giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện rõ nét nhất ở chia tiết này.

Những dòng văn cuối cùng đã kết đọng tinh thần nhân đạo sâu sắc của nhà văn Kim Lân. Ông trân trọng, yêu thương từng cá nhân, từng số phận. Đồng thời ta cũng thấy được nghệ thuật miêu tả, và tạo dựng tình huống bậc thầy của nhà văn này.

Bài mẫu 4

Nguyễn Tuân được đánh giá là một "định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa", một cái tôi độc đáo bậc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Suốt cuộc đời mình, ông kiên trì lên đường để kiếm tìm và tôn vinh cái Đẹp, cái Thật. Trước Cách mạng tháng Tám, khi đang chênh vênh giữa thực tại ngột ngạt của xã hội giao thời, Nguyễn Tuân đã chọn cách "thoát li" vào quá khứ, tìm về một thời "Vang bóng" – nơi những giá trị đạo đức và thú chơi tao nhã của cha ông vẫn còn giữ được vẻ trang trọng, tinh khiết. Trong tập truyện ngắn danh tiếng "Vang bóng một thời" (1940), "Chữ người tử tù" hiện lên như một viên ngọc sáng giá nhất, kết tinh trọn vẹn phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác và tấm lòng thiết tha với những di sản văn hóa dân tộc.

Ngay từ nhan đề, tác phẩm đã tạo ra một sự đối đầu đầy kịch tính giữa "Chữ" và "Người tử tù". "Chữ" vốn là hiện thân của sự thanh cao, là kết tinh của trí tuệ và linh hồn người nghệ sĩ thư pháp. Ngược lại, "Tử tù" lại gợi lên hình ảnh của bóng tối, sự chết chóc và những tội danh bị gạt ra ngoài lề xã hội. Việc đặt hai khái niệm này cạnh nhau không chỉ tạo nên một tình huống truyện éo le mà còn là dụng ý nghệ thuật sâu sắc của Nguyễn Tuân: khẳng định sự chiến thắng của ánh sáng cái đẹp ngay trong lòng hang tối của cái ác, cái xấu.

Tác phẩm mở đầu bằng một cuộc gặp gỡ định mệnh trong một không gian đặc biệt: nhà tù tỉnh Sơn. Đây là nơi hội tụ của hai nhân vật đứng ở hai đầu chiến tuyến về mặt xã hội nhưng lại là tri âm về mặt tâm hồn. Huấn Cao – người tử tù mang án đại nghịch, là một nghệ sĩ thư pháp lừng lẫy với khí phách hiên ngang; còn viên quản ngục – người đại diện cho quyền lực thống trị nhưng lại mang trong mình một "thanh âm trong trẻo" của lòng yêu cái đẹp. Sự gặp gỡ này không chỉ là sự đối đầu giữa người tù và kẻ coi tù, mà là cuộc kỳ ngộ giữa người kiến tạo cái đẹp và kẻ thưởng thức cái đẹp. Chính tình huống truyện độc đáo này đã trở thành "đòn bẩy" để đẩy mâu thuẫn lên cao trào, từ đó bộc lộ trọn vẹn nhân cách cao thượng của các nhân vật.

Huấn Cao hiện thân cho hình tượng mẫu mực về cái tài gắn liền với cái tâm. Cái tài của ông đạt đến độ siêu phàm, khiến cho một nét chữ không chỉ là mực tàu giấy trắng mà còn là "vật báu" chứa đựng khát vọng cả một đời người. Nhưng đáng quý hơn cả tài năng chính là "thiên lương" trong sáng. Nguyễn Tuân đã khắc họa một Huấn Cao đầy khí tiết: "Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ". Ông chỉ trao tặng cái đẹp cho những người thực sự thấu hiểu và trân trọng nó. Sự "khoảnh" của ông không phải là sự kiêu ngạo tầm thường, mà là sự kiêu hãnh của một nhân cách lớn, luôn biết giữ mình trước những cám dỗ và cường quyền. Khí phách của Huấn Cao còn rực sáng hơn khi ông đứng trước cái chết. Dù ngày mai phải vào kinh chịu án chém, ông vẫn bình thản nhận rượu thịt, vẫn hiên ngang đuổi quản ngục ra khỏi phòng giam, coi cái gông xiềng và cái chết nhẹ tựa lông hồng.

Đối diện với Huấn Cao là viên quản ngục – một nhân vật mang bi kịch của sự "lầm đường lạc lối". Sống trong môi trường ngục tù tàn nhẫn, nơi mà con người dễ dàng bị tha hóa bởi danh lợi và bạo lực, quản ngục vẫn giữ được sở nguyện cao quý là có được chữ của Huấn Cao để thờ. Nỗi lòng "biệt nhỡn liên tài" của ông chính là minh chứng cho sức mạnh cảm hóa diệu kỳ của cái đẹp. Hành động khúm lúm, thái độ nhẫn nhục trước sự khinh bạc của Huấn Cao không phải là sự hèn yếu, mà là thái độ sùng kính của một tín đồ trước một thánh nhân nghệ thuật. Quản ngục chính là minh chứng cho việc cái Đẹp có thể nảy mầm và tỏa hương ngay cả trên mảnh đất khô cằn nhất.

Đỉnh cao nghệ thuật của tác phẩm chính là "cảnh cho chữ" – một đoạn văn được mệnh danh là "cảnh tượng xưa nay chưa từng có". Nguyễn Tuân đã huy động toàn bộ bút pháp tương phản để khắc họa khoảnh khắc này. Giữa một buồng giam tối tăm, ẩm thấp, tường đầy mạng nhện và đất đầy phân chuột, lại bừng sáng lên màu trắng tinh khôi của tấm lụa hồ và mùi thơm của mực tàu. Dưới ánh đuốc bập bùng, một người tử tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang đậm tô từng nét chữ vuông vắn, tươi tắn. Ở đó, trật tự xã hội hoàn toàn bị đảo ngược: người tù trở thành người ban phát cái đẹp và lời khuyên răn, còn quản ngục và thơ lại – những kẻ có quyền lực – lại khúm lúm, run run tiếp nhận. Lời vái lạy của quản ngục: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh" chính là khoảnh khắc thiên lương thức tỉnh, là sự quỳ gối của bóng tối trước ánh sáng của chân lý và nghệ thuật.

Bằng ngôn ngữ điêu luyện, cổ kính và nhịp điệu văn chương thong thả, Nguyễn Tuân đã phục dựng thành công một không gian văn hóa xa xưa đầy hoài niệm. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện về việc cho chữ, mà là một bản tuyên ngôn về niềm tin vào sự chiến thắng tất yếu của cái đẹp, cái thiện trước cái xấu xa, tàn nhẫn. Qua hình tượng Huấn Cao, nhà văn gửi gắm thông điệp sâu sắc: để chơi chữ, trước hết phải giữ được thiên lương; cái đẹp không thể tồn tại chung với cái ác.

Khép lại "Chữ người tử tù", độc giả không chỉ bồi hồi trước số phận của những con người tài hoa mà còn thêm trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nguyễn Tuân đã dùng ngòi bút của mình để tạc nên một bức tượng đài bất tử về khí phách và lòng tự trọng của người nghệ sĩ. Tác phẩm vẫn luôn là một trang văn mẫu mực, khẳng định vị thế của Nguyễn Tuân như một người khổng lồ trong nền văn xuôi Việt Nam, người đã biến ngôn từ thành những đường nét hội họa tinh tế để tôn vinh vẻ đẹp vĩnh cửu của tâm hồn con người.

Bài mẫu 5

Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, nổi bật với phong cách tài hoa, uyên bác và niềm đam mê suốt đời đi tìm cái đẹp. Trong sự nghiệp sáng tác của ông, truyện ngắ "Chữ người tử tù" được xem như một đỉnh cao nghệ thuật, nơi hội tụ đầy đủ những quan niệm thẩm mĩ độc đáo của nhà văn về cái đẹp, cái tài và cái thiện. Tác phẩm không chỉ kể một câu chuyện đặc biệt mà còn mở ra một thế giới tư tưởng sâu sắc về nhân cách con người.

Câu chuyện xoay quanh cuộc gặp gỡ giữa hai con người tưởng chừng ở hai phía đối lập: Huấn Cao – một tử tù mang án chém, và viên quản ngục – đại diện cho bộ máy cai trị. Thế nhưng, chính trong hoàn cảnh éo le ấy lại nảy sinh một mối quan hệ đặc biệt, gắn kết họ bằng sự đồng điệu trong tâm hồn. Huấn Cao là người nổi tiếng với tài viết chữ đẹp, còn viên quản ngục lại là người say mê cái đẹp ấy đến mức sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để xin được chữ. Tình huống truyện được xây dựng đầy nghịch lí: nơi ngục tù – biểu tượng của tăm tối và tội ác – lại trở thành nơi tỏa sáng của cái đẹp và thiên lương.

Nhân vật Huấn Cao hiện lên như một hình tượng lí tưởng hội tụ đầy đủ vẻ đẹp của tài năng, khí phách và nhân cách. Trước hết, ông là một nghệ sĩ tài hoa với tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”. Nhưng chữ của Huấn Cao không chỉ đơn thuần là nghệ thuật thư pháp mà còn là sự kết tinh của nhân cách và tâm hồn. Mỗi nét chữ là một biểu hiện của khí phách, của chí khí tung hoành và khát vọng tự do. Chính vì vậy, chữ của ông trở nên vô cùng quý giá, không thể mua bán bằng vật chất tầm thường.

Không dừng lại ở tài năng, Huấn Cao còn là người có khí phách hiên ngang, bất khuất. Dù đang ở trong cảnh tù đày, đối diện với cái chết cận kề, ông vẫn giữ thái độ ung dung, khinh bạc, không hề run sợ trước quyền lực. Những hành động như dỗ gông, lời nói lạnh lùng với quản ngục đã thể hiện rõ một bản lĩnh kiên cường của người anh hùng. Ẩn sau vẻ ngoài cứng cỏi ấy là một tâm hồn trong sáng, biết trân trọng cái đẹp và tấm lòng của con người. Khi nhận ra tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục, Huấn Cao đã thay đổi thái độ, không chỉ cho chữ mà còn dành cho ông lời khuyên chân thành về cách giữ gìn thiên lương. Chính chi tiết này đã làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách cao cả của Huấn Cao – một con người “tài – tâm” vẹn toàn.

Bên cạnh Huấn Cao, viên quản ngục cũng là một nhân vật giàu chiều sâu. Ông là người sống trong môi trường đầy bạo lực, giả dối nhưng vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, biết yêu cái đẹp. Sở thích “chơi chữ” của ông không chỉ là thú vui tao nhã mà còn thể hiện khát vọng hướng thiện, hướng đến những giá trị tinh thần cao quý. Viên quản ngục kính trọng Huấn Cao không phải vì thân phận mà vì tài năng và nhân cách. Hành động “khúm núm”, “vái người tử tù” khi nhận chữ cho thấy sự đảo lộn trật tự thông thường: kẻ có quyền lực lại cúi đầu trước cái đẹp và cái thiện.

Đỉnh cao của tác phẩm chính là cảnh cho chữ – một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Nguyễn Tuân đã tạo nên một sự đối lập đầy nghệ thuật: giữa bóng tối của ngục tù với ánh sáng của ngọn đuốc, giữa cái dơ bẩn của hiện thực với vẻ đẹp thanh cao của nghệ thuật. Trong không gian “ẩm ướt, tối tăm, đầy phân chuột phân gián”, những nét chữ vẫn hiện lên “vuông vắn, tươi tắn” như một biểu tượng của cái đẹp không thể bị vấy bẩn. Đặc biệt, sự đảo ngược vị thế đã làm nên giá trị sâu sắc: người tử tù trở thành người ban phát cái đẹp, còn viên quản ngục lại là người đón nhận với sự kính cẩn. Qua đó, Nguyễn Tuân khẳng định sức mạnh của cái đẹp và thiên lương có thể vượt lên trên mọi hoàn cảnh.

Với nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo, thủ pháp tương phản sắc nét và ngôn ngữ giàu tính tạo hình, “Chữ người tử tù” đã thể hiện rõ quan niệm của Nguyễn Tuân: cái đẹp luôn gắn liền với cái thiện, và cái đẹp có khả năng cảm hóa con người. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện về chữ nghĩa mà còn là bản ngợi ca vẻ đẹp nhân cách, khẳng định giá trị bền vững của con người trước mọi thử thách của hoàn cảnh.

Bài mẫu 6

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa nhất mực của nền văn học Việt Nam, người đã dành cả đời để đi tìm những "vàng mười" trong tâm hồn con người. Trong thế giới nghệ thuật của ông, hình tượng Huấn Cao trong truyện ngắn "Chữ người tử tù" chính là một đỉnh cao chói lọi, đại diện cho cốt cách kẻ sĩ kiên trung và tấm lòng trọng đãi người tài. Tác phẩm không chỉ thành công về mặt xây dựng nhân vật mà còn là một bài ca trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống đang dần tàn phai dưới gót giày thực dân.

Huấn Cao hiện lên trước hết là một kẻ sĩ xả thân vì đại nghĩa. Trong xã hội đương thời mục nát, ông không cam tâm làm kiếp nô lệ, đã dũng cảm cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình. Dù sự nghiệp không thành, bị khép vào tội chết, nhưng trong mắt mọi người, ông vẫn là một bậc anh hùng "chọc trời khuấy nước". Với quân lính áp giải, ông là kẻ "ngạo ngược và nguy hiểm nhất", cần phải đề phòng gắt gao. Với thầy thơ lại, ông là người "văn võ đều có tài cả". Còn đối với quản ngục, Huấn Cao là một thần tượng, một báu vật sống về nghệ thuật thư pháp. Những góc nhìn đa diện ấy đã khắc họa nên một chân dung Huấn Cao bộc trực, hào khí, toát lên sự thanh cao thoát tục ngay cả giữa chốn xiềng xích nhơ bẩn.

Cái tài của Huấn Cao được Nguyễn Tuân tô đậm qua nghệ thuật viết chữ. "Chữ ông Huấn Cao đẹp và vuông lắm", ai sở hữu được chữ của ông là có được diễm phúc lớn lao trong đời. Chữ viết lúc này không còn là ký tự vô hồn, nó là cốt cách, là linh hồn của người nghệ sĩ. Nhưng điều khiến Huấn Cao thực sự trở thành một kẻ sĩ đáng trọng chính là sự tôn nghiêm đối với nghệ thuật. Ông viết chữ đẹp nhưng chưa bao giờ dùng cái tài đó để cầu vinh hay nịnh hót uy quyền. "Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết bao giờ". Ông chỉ viết cho những người thực sự xứng đáng, những người là tri kỷ của ông. Thái độ này chứng tỏ ông coi trọng giá trị nhân cách hơn mọi thứ vật chất tầm thường trên đời.

Mối quan hệ giữa Huấn Cao và viên quản ngục là một điểm sáng tuyệt đẹp của tình người. Ban đầu, Huấn Cao khinh miệt quản ngục, coi ông ta chỉ là hạng tay sai tiểu nhân. Thế nhưng, qua lời kể của thầy thơ lại, Huấn Cao đã thấu hiểu nỗi lòng và sở thích cao quý của quản ngục. Sự xúc động của ông: "Nào ta biết đâu một người như thầy quản mà lại có những sở thích cao quý như vậy... Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các ngươi" chính là sự gặp gỡ của những tâm hồn thanh cao. Cụm từ "phụ một tấm lòng trong thiên hạ" cho thấy Huấn Cao là người trọng nghĩa khinh tài, luôn hướng về cái đẹp và sự thiện lương. Cuộc hội ngộ này chứng minh rằng, dù ở bất cứ vị trí nào, con người vẫn có thể tìm thấy nhau nếu cùng chung một niềm tin vào cái đẹp.

Cảnh cho chữ cuối tác phẩm là đoạn kết trác tuyệt, khẳng định sự bất tử của cái đẹp. Diễn ra giữa chốn ngục tù hôi hám, ba con người hiện lên lung linh như những người nghệ sĩ đang tâm đắc với tác phẩm cuối cùng. Hình ảnh Huấn Cao vướng xiềng xích, cổ đeo gông nhưng vẫn "đậm tô từng nét chữ" vuông vắn thực sự là hình ảnh đẹp nhất, kì vĩ nhất. Đó không phải là tư thế của một kẻ tử tù, mà là tư thế của một vị anh hùng nghệ sĩ đang chiến thắng cái chết. Hình ảnh viên quản ngục khúm lúm vái lạy người tù và Huấn Cao đỡ ông dậy là một khoảnh khắc ám ảnh về sự lên ngôi của nhân cách.

Gấp trang sách lại, hình ảnh Huấn Cao vẫn hiển hiện rõ nét trong tâm trí độc giả với vẻ oai phong, đĩnh đạc. Ông chính là biểu tượng của cái đẹp vĩnh cửu, của khí tiết kiên trung không bao giờ bị dập tắt. Qua "Chữ người tử tù", Nguyễn Tuân không chỉ phục dựng một nét đẹp văn hóa xưa cũ mà còn gửi gắm niềm tin mãnh liệt vào sự chiến thắng tất yếu của thiên lương con người. Tác phẩm mãi là một bài học sâu sắc về nhân sinh, nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của cái đẹp trong việc cứu rỗi và hoàn thiện tâm hồn con người giữa muôn vàn những cám dỗ và bóng tối của cuộc sống.

Bài mẫu 7

Nguyễn Tuân, người lữ hành không mệt mỏi trên hành trình đi tìm cái đẹp, đã để lại cho hậu thế những trang văn mà ở đó, mỗi chữ, mỗi câu đều chứa đựng linh hồn của dân tộc. Truyện ngắn "Chữ người tử tù" không chỉ là một kiệt tác thư pháp bằng ngôn từ mà còn là bài ca về sự chiến thắng của ánh sáng trước bóng tối. Đặc biệt, cảnh cho chữ ở cuối tác phẩm đã được tác giả tập trung miêu tả, tô đậm, biến nó thành một "cảnh tượng xưa nay chưa từng có", nơi thiên lương con người được thức tỉnh và tỏa sáng rực rỡ nhất.

Để hiểu hết giá trị của cảnh tượng này, cần phải xét đến không gian và thời gian mà nó diễn ra. Nguyễn Tuân đã chọn một thời điểm vô cùng nghiệt ngã: đêm cuối cùng trước khi Huấn Cao bị đưa về kinh chịu án tử. Không gian là một buồng giam tối tăm, ẩm thấp, nơi bóng tối thống trị và mùi hôi hám của phân chuột, mạng nhện bao trùm. Đó là một chốn "hạ đẳng", một địa ngục trần gian. Thế nhưng, chính tại nơi tăm tối ấy, cái đẹp đã nảy mầm và nở hoa một cách phi thường. Sự đối lập gay gắt giữa không gian tù túng và hành động sáng tạo nghệ thuật đã tạo nên một sức ép thẩm mỹ mạnh mẽ, khiến người đọc không thể không rung động.

Cảnh cho chữ hiện lên như một bức tranh sơn dầu đầy ánh sáng và bóng tối. Giữa màn đêm mịt mùng, bỗng bừng sáng lên "ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu" và làn "khói tỏa như đám cháy nhà". Trong quầng sáng ấy, ba con người – vốn ở hai đầu chiến tuyến về mặt xã hội – lại đang chụm đầu bên nhau quanh một tấm lụa bạch trắng tinh khôi. Sự giao thoa này chính là cuộc hội ngộ của những tâm hồn đồng điệu. Huấn Cao – người tử tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng – đang dồn hết những tàn lực và tinh hoa cuối cùng của đời mình vào những nét chữ "vuông tươi tắn". Trong khoảnh khắc ấy, ông không còn là một tội đồ, mà là một vị thánh đang ban phát ánh sáng trí tuệ.

Hành động của viên quản ngục và thầy thơ lại trong cảnh này mới thực sự khiến chúng ta cảm động. Một viên quan nắm quyền sinh quyền sát trong tay, giờ đây lại "khúm lúm" cất từng đồng tiền kẽm, thầy thơ lại thì "run run" bưng chậu mực. Sự "thay bậc đổi ngôi" này không mang tính chất chính trị, mà mang tính chất nhân văn sâu sắc. Cái cúi đầu của quản ngục không phải trước quyền lực bạo lực, mà là cái cúi đầu sùng kính trước cái Tài và cái Tâm. Nó chứng minh rằng cái Đẹp có sức mạnh cảm hóa mãnh liệt, có thể khiến những con người đang sống trong vũng bùn tăm tối phải thức tỉnh và khao khát vươn tới ánh sáng.

Sau khi nét chữ cuối cùng được viết xong, Huấn Cao đã dành cho quản ngục lời khuyên chân thành nhất: "Hãy thay chỗ ở đi... ở đây khó giữ thiên lương cho trong sạch". Đây không chỉ là lời khuyên về nơi ăn chốn ở, mà là lời cảnh tỉnh về môi trường sống. Cái đẹp và cái thiện không thể chung sống với cái xấu, cái ác. Nếu muốn chơi chữ, trước hết phải giữ được cái tâm trong sạch. Những giọt nước mắt nghẹn ngào và cái vái lạy "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh" của quản ngục là đỉnh cao của sự xúc động. Đó là những giọt nước mắt của sự hối cải, của niềm vui sướng khi tìm thấy ánh sáng chân lý giữa cuộc đời rối ren.

Qua cảnh tượng đầy kịch tính này, Nguyễn Tuân đã khẳng định vị thế bất tử của cái đẹp. Dù ở bất cứ đâu, dù là nơi tối tăm nhất, cái đẹp vẫn tồn tại và tỏa sáng. Nó giống như một sức mạnh vô hình chỉ đường dẫn lối cho những người tốt đang bị lạc lối trở về với con đường chân chính. Bằng nghệ thuật dựng cảnh tài tình, bút pháp đối lập tương phản và ngôn ngữ điêu luyện, nhà văn đã tạo nên một bức tranh với hai mảng màu sáng tối đối lập, khiến ánh sáng của nét chữ và thiên lương trở nên rực rỡ hơn bao giờ hết. Tác phẩm khép lại nhưng âm hưởng của lời khuyên răn và hình ảnh người tử tù hiên ngang vẫn mãi ám ảnh, gieo vào lòng người đọc niềm tin bất diệt vào những giá trị "Chân - Thiện - Mỹ" của con người Việt Nam.

Bài mẫu 8

Nguyễn Tuân là một định nghĩa đầy đủ nhất về người nghệ sĩ tài hoa, một kẻ suốt đời đi săn tìm cái đẹp và cái thật. Nói đến ông là nói đến một phong cách độc đạo, nơi mỗi lời văn đều trác tuyệt như một nét chạm khắc tinh xảo trên mặt đá quý của ngôn ngữ. Trong kho tàng văn chương của người nghệ sĩ ấy, "Chữ người tử tù" hiện lên như một viên ngọc sáng giá nhất, trích từ tập truyện "Vang bóng một thời" – tác phẩm mà Vũ Ngọc Phan từng nhận định là "một văn phẩm gần tới sự hoàn thiện". Nổi bật lên trong tác phẩm không chỉ là một cốt truyện éo le mà còn là hình tượng nhân vật Huấn Cao cùng cảnh cho chữ – một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, nơi cái Đẹp đăng quang giữa chốn ngục tù nhơ bẩn.

Huấn Cao là nhân vật điển hình bậc nhất cho bút pháp lãng mạn của Nguyễn Tuân trước Cách mạng. Chúng ta đều biết văn học lãng mạn thường mô tả theo những mẫu hình lý tưởng, nơi nhà văn thả trí tưởng tượng của mình để theo đuổi những vẻ đẹp hoàn hảo, tinh khôi nhất. Nhân vật của bút pháp này không bao giờ là những con người tầm thường, nhỏ bé; họ mang tầm vóc phi thường, là biểu tượng cho những khát khao, mơ ước về một lẽ sống cao cả. Huấn Cao chính là một nhân vật như thế. Từ đầu đến cuối truyện, ông hiện ra với vẻ đẹp toàn diện: từ tài hoa nghệ sĩ đến thiên lương trong sáng, từ thiên lương đến khí phách hiên ngang. Có thể nói, Huấn Cao là "giấc mơ hồng" đầy tính nhân văn mà ngòi bút Nguyễn Tuân đã dày công gây dựng để đối lập với thực tại phàm tục.

Phẩm chất đầu tiên làm nên sức lôi cuốn của Huấn Cao chính là tài hoa phát tiết ra ngoài. Thiên truyện được mở đầu bằng một cuộc đối thoại gián tiếp giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Qua những lời trầm trồ, kính phục của họ, Huấn Cao hiện lên là một người văn võ song toàn, nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn về tài viết chữ đẹp. Nguyễn Tuân đã chọn thư pháp – một bộ môn nghệ thuật truyền thống cao siêu – để khắc họa tài năng của nhân vật. Trong quan niệm xưa, chữ viết không chỉ là phương tiện giao tiếp, nó là sự gửi gắm, ký thác toàn bộ những tâm nguyện sâu xa, là sự hiện thân của nhân cách người viết. Chữ Huấn Cao "vuông tươi tắn", "đẹp lắm, vuông lắm", nó quý giá không chỉ bởi giá trị thẩm mỹ mà còn bởi nó chứa đựng cái "chí" tung hoành của một đời người tự do. Vì lẽ đó, việc có được chữ của ông Huấn đã trở thành "sở nguyện" lớn nhất, thiêng liêng nhất của viên quản ngục, một tâm nguyện mà ông sẵn sàng đánh đổi cả sinh mệnh và sự nghiệp để đạt được.

Thế nhưng, Huấn Cao không chỉ có cái "Tài" mà còn có cái "Tâm" – một tấm lòng luôn biết quý trọng thiên lương. Gốc rễ của tài năng chân chính luôn nằm ở trái tim. Trong mắt Huấn Cao ban đầu, quản ngục chỉ là một kẻ tiểu nhân đắc chí, một quân cờ của triều đình thối nát. Chính vì thế, ông đã giữ thái độ khinh bạc đến điều. Nhưng khi nhận ra tấm lòng chân thành của quản ngục – "một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ" – Huấn Cao đã vô cùng xúc động. Lời tự trách của ông: "Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người... Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ" đã bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trọng nghĩa, trọng tình. Ông nhận ra rằng cái đẹp không thể tồn tại đơn độc, nó cần những tâm hồn tri âm để thấu cảm và giữ gìn.

Vẻ đẹp thứ ba hoàn thiện chân dung Huấn Cao chính là khí phách hiên ngang, uy vũ bất năng khuất. Là một lãnh tụ khởi nghĩa chống lại triều đình, dù đại sự không thành và phải đối mặt với án chém, Huấn Cao chưa bao giờ run sợ. Ngay cả khi đứng trước sự đe dọa của binh lính hay gông cùm hôi hám, ông vẫn thản nhiên như không. Hình ảnh ông "dỗ gông" đánh thuỳnh một cái xuống nền đá hay thái độ khinh bạc trước sự quan tâm của quản ngục đã chứng minh một bản lĩnh sắt đá. Đối với Huấn Cao, ngục tù có thể giam giữ thể xác nhưng không thể xích xiềng được tinh thần tự do.

Những phẩm chất tuyệt vời đó của Huấn Cao đã hội tụ và chói sáng trong cảnh tượng cuối cùng – cảnh cho chữ. Đây là đoạn văn hay nhất, tinh tế nhất, nơi Nguyễn Tuân sử dụng bút pháp tương phản để tôn vinh cái đẹp. Lẽ ra cảnh cho chữ phải diễn ra giữa chốn thư phòng sang trọng, nhưng ở đây nó lại diễn ra trong căn buồng giam tối tăm, ẩm thấp, tường đầy mạng nhện và đất đầy phân chuột. Sự đối lập giữa ánh sáng đỏ rực của bó đuốc và bóng tối âm u, giữa mùi thơm của chậu mực và mùi hôi hám của nhà tù, giữa tấm lụa trắng tinh khôi và thực tại nhơ bẩn đã tạo nên một sức mạnh nghệ thuật kinh ngạc.

Ở đó, một sự "đổi ngôi" vĩ đại đã diễn ra: người tử tù cổ đeo gông lại là người ban phát cái đẹp và lời khuyên răn, còn kẻ cầm quyền hành trong tay lại khúm lúm, run run đón nhận. Lời vái lạy cùng câu nói "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh" của quản ngục là minh chứng cho sự chiến thắng tuyệt đối của cái đẹp và thiên lương. Nguyễn Tuân đã khẳng định rằng: cái đẹp có thể sinh ra từ chốn nhơ bẩn nhưng không bao giờ bị vấy bẩn. Nó có sức mạnh cứu rỗi linh hồn, giúp con người tìm về bản ngã lương thiện của mình. Qua hình tượng Huấn Cao và cảnh cho chữ, nhà văn không chỉ tôn vinh nghệ thuật truyền thống mà còn thể hiện một lòng yêu nước thầm kín, sâu nặng đối với những giá trị tinh hoa của dân tộc đang dần bị mai một.

Bài mẫu 9

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân được xem là một nghệ sĩ tài hoa, độc đáo với phong cách sáng tác không trộn lẫn. Ông luôn khao khát đi tìm và tôn vinh cái đẹp – cái đẹp của thiên nhiên, của con người, và đặc biệt là cái đẹp của nhân cách. Truyện ngắn “Chữ người tử tù” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật ấy. Không chỉ dừng lại ở việc kể một câu chuyện về xin chữ và cho chữ, tác phẩm còn mở ra một thế giới tư tưởng sâu sắc, nơi cái đẹp, cái thiện và cái tài hòa quyện, soi sáng lẫn nhau.

Điểm đặc sắc trước hết của tác phẩm nằm ở tình huống truyện độc đáo, giàu tính kịch. Nguyễn Tuân đã đặt các nhân vật vào một hoàn cảnh đầy nghịch lí: cuộc gặp gỡ giữa một tử tù – người đang chờ ngày bị hành hình – và viên quản ngục – người đại diện cho quyền lực nhà tù. Về mặt xã hội, họ đứng ở hai chiến tuyến đối lập: một bên là kẻ phản nghịch, một bên là công cụ của triều đình. Thế nhưng, vượt lên trên ranh giới ấy, họ lại gặp nhau ở một điểm chung rất đặc biệt: lòng tôn kính cái đẹp và sự trân trọng tài năng. Chính sự đối lập này đã tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện, đồng thời làm nổi bật tư tưởng chủ đạo của tác phẩm – cái đẹp có thể xóa nhòa mọi khoảng cách, thậm chí cả ranh giới giữa thiện và ác, giữa quyền lực và thân phận.

Nhân vật trung tâm của truyện – Huấn Cao – được Nguyễn Tuân xây dựng như một hình tượng lí tưởng hội tụ nhiều vẻ đẹp. Trước hết, đó là vẻ đẹp của tài năng. Huấn Cao nổi tiếng với tài viết chữ đẹp, “chữ ông đẹp lắm, vuông lắm”, khiến bao người ao ước có được. Nhưng điều đáng nói là chữ của ông không chỉ đẹp về hình thức mà còn chứa đựng chiều sâu tinh thần. Mỗi nét chữ là sự kết tinh của khí phách, của nhân cách, của một tâm hồn tự do không chịu khuất phục. Chính vì vậy, chữ của Huấn Cao trở thành biểu tượng của cái đẹp hoàn thiện, vừa có giá trị nghệ thuật vừa mang ý nghĩa đạo đức.

Không chỉ có tài, Huấn Cao còn là người có khí phách hiên ngang, bất khuất. Dù đang ở trong cảnh ngục tù, chịu sự kìm kẹp của quyền lực, ông vẫn giữ được tư thế ung dung, không hề run sợ. Thái độ “lạnh lùng”, “khinh bạc” của ông đối với viên quản ngục không phải là sự kiêu ngạo vô cớ, mà là biểu hiện của một nhân cách không chịu khuất phục trước cường quyền. Những chi tiết như việc ông dỗ gông, lời nói đầy khí phách đã cho thấy rõ bản lĩnh của một con người dám sống, dám chống lại cái xấu, cái ác. Ở Huấn Cao, ta thấy được sự kết hợp hài hòa giữa tài năng và khí phách – một vẻ đẹp rất đặc trưng trong sáng tác của Nguyễn Tuân.

Tuy nhiên, điều làm nên giá trị sâu sắc nhất của nhân vật Huấn Cao chính là vẻ đẹp của tâm hồn. Ông không phải là một con người lạnh lùng vô cảm, mà ngược lại, rất trọng nghĩa khí và biết trân trọng những tấm lòng trong thiên hạ. Ban đầu, ông tỏ ra thờ ơ với sự biệt đãi của viên quản ngục vì cho rằng đó chỉ là sự giả tạo. Nhưng khi hiểu ra tấm lòng chân thành của người này, ông đã xúc động thốt lên: “Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”. Chính khoảnh khắc này đã cho thấy chiều sâu nhân cách của Huấn Cao – một con người biết nhìn nhận, biết cảm thông và sẵn sàng trân trọng cái đẹp ở người khác. Hành động cho chữ của ông vì thế không chỉ là một cử chỉ nghệ thuật mà còn là một nghĩa cử cao đẹp, thể hiện sự tri âm giữa những con người đồng điệu.

Song song với Huấn Cao, viên quản ngục cũng là một nhân vật mang nhiều ý nghĩa. Ông là đại diện cho một lớp người sống trong môi trường đầy tăm tối nhưng vẫn giữ được ánh sáng của thiên lương. Giữa chốn ngục tù nơi “người ta sống bằng tàn nhẫn và lừa lọc”, viên quản ngục hiện lên như “một thanh âm trong trẻo”. Ông yêu cái đẹp, trân trọng tài năng và có một sở nguyện rất giản dị mà cao quý: xin được chữ của Huấn Cao để treo trong nhà. Điều đáng quý là ông không chỉ ngưỡng mộ từ xa mà còn dám hành động để thực hiện ước mơ ấy, bất chấp nguy hiểm và những quy định khắt khe của nhà tù. Chính điều đó đã cho thấy sức mạnh của cái đẹp – nó có thể khiến con người vượt qua nỗi sợ hãi và cả những ràng buộc của thực tại.

Cảnh cho chữ là đỉnh cao nghệ thuật của tác phẩm, nơi tất cả những giá trị tư tưởng được kết tinh rõ nét nhất. Nguyễn Tuân đã dựng nên một khung cảnh đầy đối lập: một bên là không gian ngục tù tối tăm, bẩn thỉu; một bên là ánh sáng của bó đuốc, của tấm lụa trắng và những nét chữ tươi đẹp. Chính sự tương phản này đã làm nổi bật ý nghĩa biểu tượng của cảnh cho chữ. Trong hoàn cảnh tưởng như không thể nảy sinh cái đẹp, cái đẹp vẫn xuất hiện một cách mạnh mẽ và đầy sức sống. Điều đặc biệt hơn cả là sự đảo ngược vị thế: người tử tù trở thành người ban phát cái đẹp, còn viên quản ngục – người có quyền lực – lại trở thành kẻ đón nhận với tất cả sự kính trọng. Qua đó, Nguyễn Tuân đã khẳng định rằng cái đẹp chân chính luôn ở vị trí cao hơn mọi quyền lực vật chất.

Không chỉ dừng lại ở giá trị nội dung, tác phẩm còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật đặc sắc. Nguyễn Tuân đã sử dụng thành công thủ pháp tương phản, đối lập để làm nổi bật chủ đề. Ngôn ngữ của ông giàu tính tạo hình, giàu chất tạo hình, vừa cổ kính vừa trang trọng, góp phần làm tăng vẻ đẹp cho câu chuyện. Cách xây dựng nhân vật mang tính lí tưởng hóa nhưng vẫn rất thuyết phục, tạo nên sức hấp dẫn lâu bền.

Tóm lại, “Chữ người tử tù” không chỉ là một truyện ngắn đặc sắc mà còn là một tuyên ngôn nghệ thuật của Nguyễn Tuân về cái đẹp. Qua tác phẩm, nhà văn đã khẳng định rằng cái đẹp không chỉ tồn tại mà còn có sức mạnh cảm hóa con người, giúp con người vượt lên trên hoàn cảnh để giữ gìn nhân cách. Dù trong bóng tối của cuộc đời, ánh sáng của cái đẹp và thiên lương vẫn luôn có thể tỏa sáng, dẫn dắt con người hướng tới những giá trị cao quý hơn.

Bài mẫu 10

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân hiện lên như một nghệ sĩ suốt đời say mê đi tìm và tôn vinh cái đẹp. Ông không chỉ khám phá cái đẹp trong thiên nhiên, trong con người mà còn phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Truyện ngắn Chữ người tử tù là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua câu chuyện về cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa Huấn Cao và viên quản ngục, Nguyễn Tuân đã thể hiện sâu sắc quan niệm về cái đẹp, cái thiện và sức mạnh cảm hóa của chúng đối với con người.

Tác phẩm xoay quanh tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ giữa một tử tù – người sắp bị xử chém – và viên quản ngục – đại diện cho quyền lực nhà tù. Ở phương diện xã hội, họ thuộc hai thế đối lập: một bên là kẻ chống lại triều đình, một bên là người thi hành pháp luật. Thế nhưng, ở phương diện tinh thần, họ lại gặp nhau ở điểm chung là sự tôn thờ cái đẹp. Chính sự đối lập mà thống nhất ấy đã tạo nên sức căng nghệ thuật đặc biệt cho câu chuyện, đồng thời làm nổi bật chủ đề của tác phẩm.

Nhân vật Huấn Cao được Nguyễn Tuân khắc họa như một hình tượng lí tưởng, hội tụ đầy đủ vẻ đẹp của tài năng, khí phách và thiên lương. Trước hết, ông là người có tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”, đến mức chữ của ông trở thành niềm khao khát của nhiều người. Nhưng tài năng ấy không đơn thuần là kĩ năng mà còn là biểu hiện của nhân cách. Mỗi nét chữ của Huấn Cao là kết tinh của khí phách, của chí lớn và của một tâm hồn tự do. Vì vậy, ông không bao giờ dùng tài năng của mình để phục vụ quyền lực hay danh lợi. Thái độ “không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết chữ” cho thấy một nhân cách cao quý, đặt giá trị tinh thần lên trên mọi lợi ích vật chất.

Không chỉ có tài, Huấn Cao còn mang vẻ đẹp của khí phách hiên ngang. Dù bị giam cầm, chịu án tử hình, ông vẫn giữ thái độ bình thản, coi thường cường quyền. Hành động “rỗ gông” hay lời nói lạnh lùng trước viên quản ngục thể hiện rõ sự bất khuất, không khuất phục trước hoàn cảnh. Tuy nhiên, điều làm nên chiều sâu nhân vật chính là thiên lương trong sáng. Khi hiểu ra tấm lòng chân thành của viên quản ngục, Huấn Cao đã thay đổi thái độ, không chỉ cho chữ mà còn chân thành khuyên ông “nên tìm về chốn thanh sạch mà giữ thiên lương”. Chính khoảnh khắc ấy đã làm bừng sáng vẻ đẹp nhân cách của Huấn Cao: một con người vừa tài hoa vừa nhân hậu.

Bên cạnh Huấn Cao, viên quản ngục cũng là một nhân vật đặc sắc. Ông sống trong môi trường đầy rẫy sự tàn nhẫn, nhưng lại giữ được tâm hồn trong sạch và niềm đam mê cái đẹp. Sở nguyện lớn nhất của ông là có được chữ của Huấn Cao, không phải vì danh lợi mà vì lòng trân trọng nghệ thuật. Nguyễn Tuân đã ví ông như “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn”, qua đó nhấn mạnh sự đối lập giữa con người và hoàn cảnh. Hành động “khúm núm”, “vái người tử tù” cho thấy sự đảo ngược vị thế: kẻ nắm quyền lực lại cúi mình trước cái đẹp. Điều này khẳng định một chân lí: cái đẹp có sức mạnh vượt lên trên mọi ranh giới xã hội.

Đỉnh cao của tác phẩm là cảnh cho chữ – một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Đây không chỉ là điểm nút của cốt truyện mà còn là nơi hội tụ tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Không gian diễn ra cảnh cho chữ là buồng giam chật hẹp, bẩn thỉu, tối tăm – nơi tưởng như cái đẹp không thể tồn tại. Nhưng chính trong không gian ấy, ánh sáng của bó đuốc, của tấm lụa trắng và những nét chữ lại bừng lên rực rỡ. Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái đẹp và cái xấu đã làm nổi bật chiến thắng của cái đẹp. Hình ảnh người tử tù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” nhưng vẫn ung dung viết chữ, trong khi viên quản ngục lại “khúm núm” đứng bên, đã tạo nên một sự đảo ngược đầy ý nghĩa: cái đẹp, cái tài và cái thiện mới là giá trị tối cao.

Về nghệ thuật, tác phẩm thể hiện rõ phong cách tài hoa của Nguyễn Tuân. Ông xây dựng tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính; khắc họa nhân vật bằng bút pháp lãng mạn, lí tưởng hóa; đồng thời sử dụng thủ pháp đối lập, tương phản một cách triệt để. Ngôn ngữ của truyện giàu tính tạo hình, vừa cổ kính vừa trang trọng, góp phần tạo nên không khí “vang bóng một thời” đặc trưng.

Tóm lại, Chữ người tử tù không chỉ là câu chuyện về một cuộc gặp gỡ đặc biệt mà còn là bản tuyên ngôn nghệ thuật của Nguyễn Tuân về cái đẹp. Tác phẩm khẳng định rằng cái đẹp và cái thiện có sức mạnh cảm hóa con người, có thể tỏa sáng ngay cả trong những nơi tăm tối nhất. Với giá trị nội dung sâu sắc và nghệ thuật độc đáo, truyện ngắn này xứng đáng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại.

Bài mẫu 11

Trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại, khi khoa học chưa hình thành để giải mã những hiện tượng kì vĩ của thiên nhiên, con người đã dùng trí tưởng tượng bay bổng để dệt nên những huyền thoại. Thần thoại chính là tiếng khóc chào đời của tư duy, là nỗ lực đầu tiên của nhân loại để lí giải thế giới. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyện "Thần Trụ trời" hiện lên như một bức tranh tráng lệ, mở đầu cho hệ thống thần thoại suy nguyên của dân tộc. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện giải thích nguồn gốc vũ trụ mà còn là bản tuyên ngôn đầu tiên về sức mạnh, ý chí và khát vọng làm chủ thiên nhiên của tiền nhân.

Để hiểu hết tầm vóc của tác phẩm, trước hết cần nhìn vào không gian vũ trụ thuở sơ khai mà tác giả dân gian đã dày công phác họa. Đó là một thế giới trong trạng thái "hỗn độn, tối tăm, lạnh lẽo", nơi ranh giới giữa bầu trời và mặt đất vẫn còn là một khối mịt mùng, nhập nhẹm. Thời gian lúc bấy giờ cũng chỉ là một khái niệm phiếm chỉ, chưa được định hình: "Chưa có vũ trụ, chưa có muôn vật và loài người". Chính trong sự thinh lặng đầy bí ẩn và hư vô ấy, vị Thần Trụ trời đã xuất hiện. Sự ra đời của thần mang tính chất "tự hữu", là điểm khởi đầu cho mọi chuyển động kiến tạo. Thần hiện lên với vóc dáng khổng lồ vượt xa mọi giới hạn: "Chân thần dài không thể tả xiết", "mỗi bước chân thần có thể qua từ vùng này đến vùng nọ". Những chi tiết phóng đại này không chỉ tạo ra một cảm giác choáng ngợp về không gian mà còn khẳng định vị thế chủ nhân của vị thần đối với mặt đất bao la, biến thần thành trung tâm của mọi sự biến đổi.

Điểm đặc sắc nhất làm nên giá trị riêng biệt của "Thần Trụ trời" so với nhiều thần thoại sáng thế khác trên thế giới chính là phương thức tạo lập thế gian. Nếu ở nhiều nền văn hóa, các vị thần tạo ra thế giới bằng quyền năng biến hóa hay lời nói mầu nhiệm, thì Thần Trụ trời của người Việt lại bắt đầu công việc bằng sức lao động cơ bắp thuần túy. Thần "ngẩng đầu đội trời lên", "tự mình đào đất, đập đá, đắp thành một cái cột vừa cao, vừa to để chống trời". Hành động "hì hục vừa đào vừa đắp" này là một biểu tượng tuyệt đẹp phản chiếu thực tiễn đời sống của cư dân nông nghiệp lúa nước Việt cổ. Đó là hình ảnh của những con người đã quen với việc đào mương, đắp đê và khai khẩn đất đai. Qua ngòi bút dân gian, thần linh không phải là một đấng siêu nhiên xa vời mà là một "người lao động khổng lồ", tôn vinh giá trị của sức mạnh thể chất và sự kiên trì. Cột trụ càng cao, tấm trời càng mở rộng và khô ráo, xác lập ranh giới giữa khí quyển và thạch quyển một cách rõ ràng.

Hành trình kiến tạo không dừng lại ở việc phân chia trời đất. Sau khi trời đã vững chãi, thần phá cột đá và lấy đất đá ném ra mọi nơi. Từ những hành động mạnh mẽ, dứt khoát đó, các dạng địa hình tự nhiên như núi cao, dải đồi, đảo nhỏ hay biển cả mênh mông đã hình thành. Cách lý giải này tuy ngây thơ theo tư duy trực quan của người xưa nhưng lại chứa đựng một tư duy thẩm mỹ khoáng đạt. Nó biến những khối đất đá vô tri trở thành kết quả của một quá trình sáng tạo có ý thức, giúp con người thời cổ giải tỏa nỗi sợ hãi trước sự vĩ đại của thiên nhiên bằng cách đồng nhất sức mạnh ấy với hình hài và hành động của con người.

Thành công của tác phẩm còn nằm ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung và hình thức nghệ thuật đặc sắc. Thủ pháp cường điệu, phóng đại được sử dụng triệt để, biến mỗi cử động của thần thành một sự kiện vũ trụ. Sự tương phản giữa hình ảnh vị thần đơn độc giữa không gian tối tăm mênh mông càng làm tôn vinh bản lĩnh của đấng sáng tạo. Đặc biệt, kết thúc truyện bằng bài vè liệt kê danh sách các vị thần tiếp nối như "Ông Đếm cát", "Ông Tát bể", "Ông Đào sông"... đã tạo ra một hệ thống thần thoại suy nguyên chặt chẽ. Điều này cho thấy trong tâm thức người Việt, thế giới không được hoàn thiện chỉ bởi một cá nhân mà là sự hợp lực của nhiều lực lượng, phản chiếu tinh thần đoàn kết cộng đồng làng xã trong công cuộc chinh phục thiên nhiên.

Vượt lên trên một câu chuyện giải thích nguồn gốc, "Thần Trụ trời" chứa đựng khát vọng cháy bỏng của tiền nhân: khát vọng được hiểu biết và làm chủ thế giới. Tác phẩm khẳng định một chân lý nhân văn sâu sắc rằng thế giới này được dựng xây bằng sự nỗ lực và ý chí lao động. Mỗi ngọn núi, dòng sông chúng ta thừa hưởng hôm nay đều mang dấu ấn bàn tay của tổ tiên truyền lại từ buổi bình minh lịch sử. Dù khoa học hiện đại đã có những lời giải chính xác về địa chất học hay thiên văn học, nhưng "Thần Trụ trời" vẫn giữ nguyên giá trị thẩm mỹ và văn hóa bền vững. Nó mãi là minh chứng cho trí tuệ sáng tạo, là niềm tự hào về cốt cách mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong hành trình vươn mình ra biển lớn.

Bài mẫu 12

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, thần thoại giữ một vị trí đặc biệt quan trọng bởi đó là tiếng nói đầu tiên của con người khi đứng trước vũ trụ bao la, huyền bí. Khi khoa học chưa phát triển, con người nguyên thủy đã dùng trí tưởng tượng để lý giải thế giới xung quanh, từ đó sáng tạo nên những câu chuyện kì ảo nhưng giàu ý nghĩa. Thần Trụ Trời là một trong những tác phẩm tiêu biểu thuộc nhóm thần thoại suy nguyên, phản ánh cách người Việt cổ giải thích sự hình thành của trời đất, núi sông, đồng thời thể hiện khát vọng nhận thức và chinh phục tự nhiên. Không chỉ có giá trị về nội dung, truyện còn hấp dẫn bởi nghệ thuật xây dựng hình tượng thần linh độc đáo, giàu tính biểu tượng.

Trước hết, Thần Trụ Trời mở ra một không gian vũ trụ nguyên sơ, hỗn độn – nơi chưa có sự phân chia rõ ràng giữa trời và đất. Câu chuyện bắt đầu bằng hình ảnh “trời đất chỉ là một vùng hỗn độn, tối tăm, lạnh lẽo”, một cách miêu tả giản dị nhưng gợi cảm giác mênh mông, vô định. Không gian ấy không có ánh sáng, không có sự sống, không có trật tự – tất cả chìm trong trạng thái hỗn mang ban đầu. Thời gian trong truyện cũng mang tính phiếm chỉ: “thuở ấy”, “từ đó”, không xác định cụ thể, tạo nên sắc thái cổ xưa, huyền thoại. Chính bối cảnh đặc biệt này đã làm nổi bật vai trò của nhân vật trung tâm – Thần Trụ Trời – như một lực lượng sáng tạo vũ trụ.

Sự xuất hiện của Thần Trụ Trời là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hình thành thế giới. Vị thần được miêu tả với vóc dáng khổng lồ, sức mạnh phi thường: “chân thần dài không thể tả xiết”, mỗi bước đi có thể vượt qua những khoảng cách rộng lớn. Đây là đặc trưng quen thuộc của thần thoại – sử dụng thủ pháp phóng đại để tạo nên hình tượng siêu nhiên, vượt xa khả năng của con người. Nhưng đằng sau yếu tố kì ảo ấy là một ý nghĩa sâu xa: con người nguyên thủy đã hình dung ra một sức mạnh lớn lao để giải thích những biến đổi to lớn của tự nhiên.

Hành động của Thần Trụ Trời mang tính chất sáng tạo vũ trụ rõ rệt. Trước hết, thần “ngẩng đầu đội trời lên”, một chi tiết giàu tính biểu tượng, thể hiện quá trình tách biệt trời và đất. Sau đó, thần “đào đất, đập đá, đắp thành một cái cột vừa cao vừa to để chống trời”. Hình ảnh chiếc cột đá không chỉ là chi tiết tưởng tượng mà còn phản ánh tư duy cụ thể, trực quan của người xưa: họ hình dung việc nâng trời giống như chống một mái nhà bằng cột trụ. Cột càng cao thì trời càng được đẩy lên xa mặt đất, tạo nên khoảng không gian rộng lớn cho sự sống hình thành.

Khi công việc hoàn thành, thần phá cột đi và “ném đất đá khắp nơi”, từ đó tạo thành núi non, đồi cao, biển rộng. Những chi tiết này cho thấy cách người xưa giải thích địa hình tự nhiên: nơi đất đá rơi xuống thì thành núi, nơi đào đất thì thành biển. Dù mang màu sắc hoang đường, nhưng cách lý giải này lại rất logic theo tư duy nguyên thủy, phản ánh nỗ lực hiểu biết thế giới của con người. Qua đó, truyện không chỉ kể một câu chuyện mà còn thể hiện quá trình tư duy, nhận thức của nhân loại ở buổi bình minh của lịch sử.

Xét về chủ đề, Thần Trụ Trời trước hết là câu chuyện giải thích nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên. Tuy nhiên, giá trị của truyện không dừng lại ở đó. Ẩn sau những chi tiết kì ảo là khát vọng chinh phục thiên nhiên của con người. Hình tượng Thần Trụ Trời – với sức mạnh to lớn, khả năng “dời non lấp biển” – chính là sự phóng chiếu ước mơ của con người: mong muốn làm chủ thế giới, cải tạo tự nhiên để phục vụ cuộc sống. Điều này cho thấy, ngay từ thuở sơ khai, con người đã không thụ động trước thiên nhiên mà luôn khao khát khám phá và chế ngự nó.

Bên cạnh đó, truyện còn thể hiện niềm tin và sự tôn kính của con người đối với các lực lượng siêu nhiên. Sau khi hoàn thành công việc, Thần Trụ Trời được gọi là “Trời” hay “Ngọc Hoàng”, trở thành đấng tối cao cai quản vũ trụ. Điều này phản ánh đời sống tâm linh của người Việt cổ: họ tin rằng thế giới được vận hành bởi các vị thần, và những hiện tượng tự nhiên đều gắn với ý chí của thần linh. Niềm tin ấy vừa mang tính chất tín ngưỡng, vừa thể hiện sự biết ơn đối với những lực lượng đã “tạo ra” thế giới.

Về phương diện nghệ thuật, Thần Trụ Trời mang đầy đủ đặc trưng của thể loại thần thoại. Trước hết là nghệ thuật xây dựng nhân vật. Thần Trụ Trời không có tên riêng cụ thể, không có đời sống cá nhân như con người mà là hiện thân của sức mạnh sáng tạo. Nhân vật được khắc họa thông qua hành động, với những chi tiết phóng đại nhằm nhấn mạnh quyền năng siêu nhiên. Chính cách xây dựng này đã tạo nên một hình tượng vừa đơn giản, vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

Ngoài ra, truyện còn sử dụng thành công yếu tố kì ảo và trí tưởng tượng phong phú. Từ việc tạo ra cột chống trời đến việc ném đất đá hình thành núi non, tất cả đều mang màu sắc hoang đường nhưng lại rất sinh động, dễ hình dung. Điều này cho thấy khả năng sáng tạo nghệ thuật của người xưa, đồng thời giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn, giàu sức gợi.

Cốt truyện của Thần Trụ Trời tuy đơn giản nhưng chặt chẽ, xoay quanh một sự kiện chính là quá trình tạo lập vũ trụ. Không có nhiều tình tiết phức tạp, không có xung đột gay gắt, nhưng chính sự đơn giản ấy lại phù hợp với mục đích của thần thoại: giải thích thế giới. Ngôn ngữ truyện mộc mạc, gần gũi, mang đậm dấu ấn của văn học dân gian, dễ nhớ, dễ truyền miệng qua nhiều thế hệ.

Một điểm đáng chú ý khác là truyện còn có sự liên hệ với thần thoại của các dân tộc khác trên thế giới. Chẳng hạn, hình tượng Thần Trụ Trời có nét tương đồng với thần Bàn Cổ trong thần thoại Trung Quốc – cũng là vị thần khai thiên lập địa. Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại có cách lý giải riêng, tạo nên bản sắc văn hóa riêng biệt. Điều này cho thấy thần thoại vừa mang tính phổ quát của nhân loại, vừa mang dấu ấn riêng của từng nền văn hóa.

Từ góc nhìn hiện đại, chúng ta có thể nhận ra rằng những cách giải thích trong Thần Trụ Trời không còn phù hợp với khoa học ngày nay. Tuy nhiên, giá trị của truyện không nằm ở tính chính xác mà ở ý nghĩa văn hóa và tư tưởng. Nó giúp chúng ta hiểu được cách người xưa nhìn nhận thế giới, đồng thời trân trọng trí tưởng tượng phong phú và tinh thần sáng tạo của họ.

Tóm lại, Thần Trụ Trời là một tác phẩm thần thoại tiêu biểu, vừa có giá trị nội dung sâu sắc vừa có giá trị nghệ thuật đặc sắc. Truyện không chỉ giải thích nguồn gốc của vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên mà còn thể hiện khát vọng khám phá, chinh phục thế giới của con người thời cổ đại. Với hình tượng thần linh kì vĩ, cách kể chuyện giản dị mà giàu sức gợi, tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian Việt Nam và để lại dấu ấn bền vững trong lòng người đọc.

Bài mẫu 13

Chiến tranh qua đi, để lại biết bao mất mát tổn thương. Đó không chỉ là những nỗi đau về vật chất mà còn là nỗi đau về tinh thần. Như vết cứa rất sâu vào trái tim của con người, đặc biệt là những người phụ nữ. Truyện ngắn Người ở bến sông Châu là một truyện ngắn như thế, thấm đượm giá trị nhân văn và tình yêu thương, ca ngợi con người mà đặc biệt là những người phụ nữ.

Câu truyện xoay quanh về nhân vật dì Mây. Cô gái trẻ trung xinh đẹp, tóc dì đen dài, óng mượt "Dì đẹp gái nhất làng, có khối trai làng ra bến sông ngó trộm dì mày tắm”. Trước khi đi xung phong dì có mối tình đẹp đẽ, trong trẻo với chú San. Nhưng phải chia tay nhau vì chú San đi học nghề ở nước ngoài. Còn dì thì xung phong làm cô y sĩ Trường Sơn. Hoàn cảnh trớ trêu đã đẩy chú dì vào cảnh người mỗi ngả chia li cách biệt. Có thể thấy chiến tranh, bom đạn thật tàn nhẫn khi đã đẩy họ vào hoàn cảnh tách biệt.

Khi từ chiến trường bom đạn chờ về. Dì Mây bị đạn phạt vào chân, phải đi tập tễnh, bằng chân giả. Tuy nhiên nỗi đau thể chất đó không thấm vào đâu khi ngày dì trở về cũng là ngày dì phải chứng kiến người đàn ông mình yêu thương, nghĩ tới nhiều nhất, người đàn ông mà dì viết tên hằng ngày vào cuốn nhật kí ở Trường Sơn đã đi lấy người phụ nữ khác. Thử hỏi làm sao dì có thể chịu đựng được cú sốc tinh thần dã man tới vậy, lòng người con gái giờ đây là sự hụt hẫng, bàng hoàng, trớ trêu và đầy tuyệt vọng. Nhưng trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó ta vẫn thấy được sự kiên cường, mạnh mẽ của dì Mây. Thái độ của dì rất cương quyết, thể hiện sự bản lĩnh kiên cường của người phụ nữ. Dì nhất quyết không đồng ý trước lời đề nghị “Mây, chúng ta sẽ làm lại” của chú San. Trước sự thể đã rồi dì nhận phần thiệt thòi về mình, dì chỉ muốn một người đàn bà khổ. Có thể thấy dù đau đớn, tuyệt vọng nhưng dì vẫn nén vào trong, dì là đại diện cho phẩm chất kiên cường của những người phụ nữ bước ra từ chiến tranh và bom đạn

Ở dì Mây còn nổi bật lên phẩm chất tốt bụng, vị tha và bao dung. Khi dì Mây nghe tin cô Thanh vợ chú San khó sinh cô Thanh đẻ thiếu tháng lại tràng hoa quấn cổ dì đã ngay lập tức giúp đỡ không hề suy nghĩa, đắn đo điều gì. Mặc dù ở vào hoàn cảnh của dì việc làm đó chẳng hề dễ dàng, nhưng dì vẫn không chút e ngại, chần chừ, suy nghĩ gì mà lập tức tới giúp đỡ cô Thanh vượt qua cơn nguy hiểm, để mẹ tròn con vuông.

Có thể thấy dì Mây hiện lên với rất nhiều những phẩm chất cao thượng, tốt đẹp, dì đại diện cho những người con gái Việt Nam sẵn sàng hi sinh thầm lặng, đánh đổi cả thanh xuân tuổi trẻ và hạnh phúc của cá nhân mình vì những điều lớn lao khác.

Bài mẫu 14

Trong hệ thống thần thoại của dân tộc Việt Nam ta về sự sáng lập vũ trụ, Trần Trụ Trời được coi như truyện mở đầu. Truyện được các nhà khảo cứu văn hóa dân gian sưu tầm, kể lại bằng bản văn trong cuốn "Hợp tuyển thơ văn Việt Nam". Truyện thể hiện giá trị đặc sắc trên nhiều phương diện như chủ đề, hình thức nghệ thuật. Qua đó thể hiện sự tôn kính thiêng liêng của co người với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng và với trời đất.

Truyện kể rằng vào thời kì trời đất còn hỗn độn, tối tăm, chưa có thế gian và vạn vật, muôn loài, có một vị thần với ngoại hình và sức mạnh phi thường xuất hiện. Thần ngẩng đầu để đội trời lên rồi tự mình đào đất, đập đá tạo thành một cái cột chống trời. Khi trời đã cao và khô, thần đã phá cột đi và lấy đất đá ném tung khắp nơi tạo thành núi, đảo, đồi cao và biển rộng. Vì vậy, ngày nay, mặt đất không được bằng phẳng. Vị thần ấy được gọi là Trời hay Ngọc Hoàng. Sau đó, các vị thần khác tiếp tục xây dựng thế giới.

Qua cốt truyện Thần Trụ Trời, ta có thể dễ dàng nhận ra giá trị của truyện trước hết thể hiện qua chủ đề và bài học cuộc sống mà nó gửi gắm. Đây là một tác phẩm văn học dân gian thuộc nhóm truyện thần thoại suy nguyên (giải thích các hiện tượng tự nhiên), được nhân dân sáng tạo, lưu truyền từ xa xưa, lưu truyền từ xa xưa nhằm lý giải sự hình thành trời đất, núi sông, biển cả của những người xưa cổ bằng trực quan và tưởng tượng. Truyện thể hiện cái nhìn của con người cổ đại về hiện tượng thế giới được hình thành, được sắp đặt trật tự như bây giờ rất đơn giản nhưng chứa đựng nhiều giá trị, thông điệp sâu sắc về cuộc sống. Qua đó thể hiện sự tôn kính và thiêng liêng của con người đối với văn hóa tâm linh, niềm tin vào tín ngưỡng, trời đất.

Ngay từ thời nguyên thuỷ, cuộc sống sinh hoạt, lao động đã luôn đòi hỏi con người phải quan sát, suy ngẩm về các hiện tượng tự nhiên liên quan mật thiết tới mình. Truyện cho thấy người Việt cổ cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới này đã cố gắng tìm để hiểu rõ thế giới tự nhiên xung quanh họ. Vì trình độ của con người bấy giờ chưa đủ để nhận thức đúng các hiện tượng ấy nên từ những điều quan sát được kết hợp với trí tưởng tượng hồn nhiên, chất phác, ngây thơ, họ đã sáng tạo ra những yếu tố siêu nhiên, những vị thần linh để giải thích sự hình thành thế giới tự nhiên. Qua đó thể hiện ước mơ chinh phục thiên nhiên của người Việt cổ từ thời xa xưa.

Hành động đầu tiên khi Thần Trụ Trời xuất hiện là "vươn vai đứng dậy, ngẩng cao đầu đội trời lên" cũng là hành động có tính phổ biến của nhiều vị thần tạo thiên lập địa khác trên thế giới. Giống hệt như hình ảnh ông Bàn Cổ trong thần thoại Trung Quốc. Tuy nhiên vẫn có điểm khác biệt chính là sau khi đã xuất hiện trong cõi hỗn độn mà vũ trụ giống như quả trứng khổng lồ, ông đạp cho quả trứng tách đôi, nửa trên là trời, nửa dưới là đất. Rồi bằng sự biến hóa lớn lên không ngừng của bản thân, ông tiếp tục đẩy trời lên cao, đạp đất xuống thấp chứ không phải như Thần Trụ Trời đã xây cột chống trời. Tuy truyện có nhiều yếu tố hoang đường, phóng đại nhưng cũng có cái lõi của sự thật là con người thời cổ đã khai khẩn, xây dựng, tạo lập đất nước. Như vậy cho thấy việc khai thiên lập địa của ông Thần Trụ Trời ở Việt Nam và ông Bàn Cổ ở Trung Quốc vừa có điểm giống nhau vừa có điểm khác nhau. Và đó cũng chính là nét chung và nét riêng có ở trong thần thoại của các dân tộc. Dù vốn hiểu biết ít ỏi, nhưng từ thuở sơkhai, người Việt cổ cũng như các dân tộc khác trên thế giới không ngừng bổ sung, sáng tạo làm cho nền văn học, nghệ thuật ngày một đa dạng hơn. Nhờ vậy, hệ thống các truyện giải thích về vũ trụ, tự nhiên, vạn vật đã góp phần tạo nên kho tàng thần thoại phong phú, đồ sộ. Đồng thời truyện Thần trụ trời cũng giúp cho con người Việt Nam có nếp cảm, nếp nghĩ, nếp tư duy đầy hình tượng phóng đại và khoáng đạt. Cũng nhờ nghệ thuật phóng đại mà các nhân vật thần thoại có được sức sống lâu bền, vượt qua mọi thời gian để còn lại với chúng ta ngày nay. Qua đó thể hiện thái độ tôn kính thiêng liêng của mỗi người với văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, trời đất cũng như sự trân trọng, khâm phục ước mơ chinh phục thiên nhiên, mở rộng hiểu biết, khám phá thế giới của thế hệ con cháu chúng ta với cha ông từ thời sơ khai.

Như vậy có thể thấy Thần trụ trời là một trong những truyện thần thoại đầu tiên, tiêu biểu, đặc sắc trong kho tàng truyện thần thoại dân gian Việt Nam.

Góp phần tạo nên thành công cho câu chuyện, ngoài giá trị của chủ đề thì các hình thức nghệ thuật cũng rất đặc sắc, ấn tượng, làm nên giá trị của tác phẩm. Chính những hình thức nghệ thuật đặc sắc ấy đã giúp cho chủ đề và ý nghĩa truyện trở nên sâu sắc, thấm thía hơn và hấp dẫn độc giả hơn.

Nét hấp dẫn đầu tiên về đặc sắc nghệ thuật của truyện là về đặc trưng thể loại. Đây là một truyện thần thoại đặc sắc hấp dẫn với 4 đặc trưng tiêu biểu của thể loại. Đó là đặc trưng về không gian, thời gian, cốt truyện, nhân vật. Truyện lấy bối cảnh không gian sơ khai, rộng lớn là vũ trụ đang trong quá trình tạo lập. Thời gian của truyện được nhắc đến là "thuở ấy, từ đó". Đây cũng mang tính chất cổ sơ, không xác định cụ thể, không rõ ràng. Cốt truyện xoay quanh việc giải thích quá trình tạo lập ra vũ trụ, trời, đất, thế giới tự nhiên. Nhân vật được kể trong truyện cũng mang đặc trưng thể loại thần thoại. Tất cả các nhân vật đều là các vị thần. Từ nhân vật trung tâm là thần Trụ Trời đến các nhân vật phụ khác như thần Đếm cát, thần Tát bể (biển), thần Kể sao, thần Đào sông, thần Trồng cây, thần Xây rú (núi). Và tất cả các vị thần đều có vóc dáng khổng lồ và sức mạnh phi thường để thực hiện việc làm vĩ đại, phi thường, mang đậm giá trị nhân văn.

Thứ hai, truyện có cách xây dựng nhân vật độc đáo, mang đặc trưng của thể loại thần thoại. Nhân vật trung tâm của truyện là một vị thần. Đó là thần tối cao – thần Trụ Trời. Thần là năng lực siêu phàm, có khả năng phi thường, có ý chí, mạnh mẽ, tài năng, có công sáng tạo ra vũ trụ, thế giới tự nhiên và vạn vật. Vị thần ấy được gọi là Trời hay Ngọc Hoàng. Như vậy, hình tượng nhân vật trung tâm được kể trong truyện rất tiêu biểu, điển hình, rất sinh động, lôi cuốn.

Bài mẫu 15

Trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại, khi con người còn chưa có khả năng lí giải thế giới bằng khoa học, họ đã tìm đến trí tưởng tượng để dựng nên những câu chuyện kì ảo nhằm giải thích nguồn gốc vạn vật. Từ đó, thần thoại ra đời như một nhu cầu tất yếu của nhận thức và đời sống tinh thần. Trong kho tàng thần thoại Việt Nam, Thần Trụ Trời là một tác phẩm tiêu biểu thuộc nhóm thần thoại suy nguyên, không chỉ giải thích sự hình thành trời đất, núi sông mà còn phản ánh sinh động cách tư duy, cảm nhận và khát vọng của người Việt cổ. Qua việc xây dựng hình tượng Thần Trụ Trời và những chi tiết giàu tính biểu tượng, truyện đã thể hiện rõ giá trị nội dung sâu sắc cùng những đặc sắc nghệ thuật độc đáo.

Trước hết, Thần Trụ Trời là một câu chuyện mang tính giải thích nguồn gốc vũ trụ. Truyện mở ra trong một không gian hỗn độn, nơi “trời đất chưa phân”, mọi thứ chìm trong bóng tối và sự tĩnh lặng tuyệt đối. Không gian ấy vừa mênh mông, vừa trống rỗng, khiến con người cảm nhận rõ sự nhỏ bé và bất lực của mình trước vũ trụ. Thời gian cũng không xác định cụ thể mà chỉ được gợi lên bằng những cụm từ như “thuở ấy”, “từ đó”, mang đậm màu sắc huyền thoại. Chính bối cảnh này đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của một lực lượng siêu nhiên – Thần Trụ Trời – người sẽ đảm nhận vai trò kiến tạo thế giới.

Hình tượng Thần Trụ Trời được xây dựng với tầm vóc vũ trụ. Thần không chỉ “khổng lồ” về ngoại hình mà còn phi thường về sức mạnh. Những chi tiết như “chân dài không thể tả xiết”, “mỗi bước đi qua từ vùng này sang vùng khác” cho thấy sự phóng đại đặc trưng của thần thoại. Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ là kích thước mà còn là hành động của thần. Thần “ngẩng đầu đội trời lên”, “đào đất, đập đá, đắp cột chống trời” – những hành động cụ thể, gần gũi với lao động của con người. Điều này cho thấy một nét đặc biệt trong tư duy dân gian: dù xây dựng hình tượng thần linh, người xưa vẫn hình dung họ thông qua những hoạt động quen thuộc của con người, từ đó làm cho câu chuyện trở nên gần gũi và dễ hiểu.

Quá trình thần Trụ Trời tạo lập thế giới là trung tâm của câu chuyện. Trước hết, thần nâng trời lên khỏi mặt đất bằng cách dựng một cột đá khổng lồ. Khi cột càng cao, khoảng cách giữa trời và đất càng được mở rộng, tạo nên không gian cho sự sống. Đây là một cách lí giải rất trực quan: người xưa hình dung bầu trời như một vật thể hữu hình có thể nâng lên bằng sức lực. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, thần phá cột và dùng đất đá ném đi khắp nơi, từ đó hình thành núi non, đồi cao, biển cả. Những chi tiết này không chỉ thể hiện trí tưởng tượng phong phú mà còn phản ánh nỗ lực của con người trong việc giải thích các hiện tượng tự nhiên một cách hợp lí theo nhận thức của mình.

Nếu nhìn sâu hơn, ta sẽ thấy rằng Thần Trụ Trời không chỉ đơn thuần là một câu chuyện giải thích tự nhiên mà còn chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa. Trước hết, đó là khát vọng nhận thức thế giới. Người Việt cổ không chấp nhận sống trong sự mù mờ trước thiên nhiên mà luôn tìm cách hiểu và lí giải nó. Dù những lí giải ấy còn đơn giản, mang tính chất cảm tính, nhưng đó chính là bước khởi đầu của tư duy khoa học. Bên cạnh đó, truyện còn thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên. Hình tượng Thần Trụ Trời – với khả năng “đội trời”, “xây cột”, “tạo núi” – chính là sự phóng đại sức mạnh con người, thể hiện ước mơ làm chủ thiên nhiên từ thuở sơ khai.

Một khía cạnh đáng chú ý khác là yếu tố so sánh liên văn hóa. Khi đặt Thần Trụ Trời bên cạnh thần thoại của các dân tộc khác, ta nhận thấy nhiều điểm tương đồng thú vị. Chẳng hạn, trong thần thoại Trung Quốc, nhân vật Bàn Cổ cũng thực hiện công việc tách trời và đất, tạo lập vũ trụ. Tuy nhiên, cách thực hiện lại khác nhau: Bàn Cổ dùng chính cơ thể mình để phân chia trời đất, trong khi Thần Trụ Trời sử dụng cột đá. Sự khác biệt này phản ánh đặc trưng tư duy của từng dân tộc. Nếu thần thoại Trung Quốc thiên về sự huyền bí, trừu tượng thì thần thoại Việt Nam lại mang tính cụ thể, gần gũi với đời sống lao động. Điều này góp phần tạo nên bản sắc riêng cho văn hóa dân gian Việt Nam.

Về nghệ thuật, Thần Trụ Trời thể hiện rõ đặc trưng của thể loại thần thoại. Trước hết là việc sử dụng yếu tố kì ảo và phóng đại. Nhân vật thần có kích thước khổng lồ, sức mạnh vô hạn, có thể thực hiện những việc mà con người không thể làm được. Những chi tiết này không nhằm mục đích gây hoang mang mà để tạo ấn tượng mạnh mẽ, giúp người nghe dễ hình dung và ghi nhớ. Đồng thời, đó cũng là cách người xưa thể hiện sự tôn kính đối với các lực lượng siêu nhiên.

Bên cạnh đó, truyện còn có kết cấu đơn giản nhưng hợp lí. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh một chuỗi hành động liên tiếp: xuất hiện – tạo lập – hoàn thiện thế giới. Không có nhiều tuyến nhân vật, không có xung đột phức tạp, nhưng mỗi chi tiết đều phục vụ cho mục đích giải thích tự nhiên. Ngôn ngữ truyện mộc mạc, giàu tính hình ảnh, mang đậm dấu ấn của lối kể truyền miệng, giúp câu chuyện dễ dàng lan truyền qua nhiều thế hệ.

Đặc biệt, hình tượng Thần Trụ Trời mang tính biểu tượng cao. Thần không chỉ là một nhân vật cụ thể mà còn đại diện cho sức mạnh sáng tạo của con người. Qua hình tượng này, ta thấy được niềm tin của người Việt cổ vào khả năng cải tạo thế giới, dù họ còn chưa có công cụ khoa học để thực hiện điều đó. Chính niềm tin ấy đã trở thành động lực để con người không ngừng khám phá và phát triển.

Từ góc nhìn hiện đại, ta có thể thấy những chi tiết trong Thần Trụ Trời mang tính chất hoang đường, không phù hợp với tri thức khoa học ngày nay. Tuy nhiên, điều đó không làm giảm đi giá trị của tác phẩm. Ngược lại, nó càng làm nổi bật ý nghĩa lịch sử và văn hóa của thần thoại. Truyện giúp chúng ta hiểu được cách con người thời cổ đại nhìn nhận thế giới, đồng thời trân trọng trí tưởng tượng phong phú và tinh thần sáng tạo của họ.

Không chỉ dừng lại ở việc giải thích tự nhiên, Thần Trụ Trời còn góp phần hình thành thế giới quan của người Việt. Qua câu chuyện, con người nhận thức rằng vũ trụ có trật tự, có nguồn gốc, không phải là sự ngẫu nhiên. Điều này giúp họ cảm thấy yên tâm hơn trước những hiện tượng thiên nhiên khó lí giải. Đồng thời, niềm tin vào thần linh cũng góp phần định hình đời sống tâm linh và tín ngưỡng của cộng đồng.

Tóm lại, Thần Trụ Trời là một tác phẩm thần thoại đặc sắc, kết tinh trí tuệ và trí tưởng tượng của người Việt cổ. Truyện không chỉ giải thích nguồn gốc của vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên mà còn thể hiện khát vọng nhận thức và chinh phục thế giới của con người. Với nghệ thuật xây dựng hình tượng độc đáo, yếu tố kì ảo hấp dẫn và ý nghĩa sâu sắc, tác phẩm đã góp phần làm giàu thêm kho tàng văn học dân gian Việt Nam, đồng thời để lại những giá trị bền vững cho đến ngày nay.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Kết nối tri thức - Xem ngay

PH/HS Tham Gia Nhóm Lớp 10 Để Trao Đổi Tài Liệu, Học Tập Miễn Phí!

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...