Giải VBT ngữ văn 8 bài Ông đồ


Giải câu hỏi 1, 2, 3, 4, 5 Ông đồ trang 6 VBT Ngữ văn 8 tập 2.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1

Câu 1 (trang 6 VBT Ngữ văn 8, tập 2)

Phân tích hình ảnh ông đồ ngồi viết chữ nho ngày Tết trong hai khổ thơ đầu và hình ảnh của chính ông ở khổ 3, 4. Hãy so sánh để làm rõ sự khác nhau giữa hai hình ảnh đó. Sự khác nhau này gợi cho người đọc cảm xúc gì về tình cảnh ông đồ?

Lời giải chi tiết:

- Khổ 1+2: hình ảnh ông Đồ viết chữ nho ngày Tết là một hình ảnh đẹp, đem lại niềm vui cho mọi người. Ngày ấy nghệ thuật thư pháp còn được coi trọng

- Khổ 3+4: vẫn diễn tả không gian ấy, thời gian ấy, nhưng không khí khác: vắng vẻ theo từng năm, đến giờ thì hầu như không còn "người thuê viết".

=> Sự khác nhau gợi cho người đọc cảm xúc thương cảm ông đồ, ông đang bị lãng quên cùng với thú chơi câu đối một thời.

Câu 2

Câu 2 (trang 6 VBT Ngữ văn 8, tập 2)

Phân tích khổ thơ cuối theo hướng đối sánh với hai khổ thơ đầu.

Lời giải chi tiết:

      Một năm nữa trôi qua với những thay đổi của đất trời và thời đại kéo theo đó là bao sự đổi thay. Hoa đào vẫn nở, xuân lại về nhưng ta không còn nhìn thấy hình bóng ông đồ nữa bởi người đời đâu ai còn nhớ ông. Trở lại với hai khổ thơ đầu, thời vàng son vinh quang của ông đồ, ai ai cũng yêu quý và chuộng nét chữ của ông. Nhưng năm nay ông không còn được nữa. Ông đã cố bám lấy xã hội hiện đại nhưng ông đã bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, của một nghề, mà là dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn tưởng niệm, hay ân hận sám hối. Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc, về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: Những người muôn năm cũ. Muôn năm, thật ra chỉ là vài ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử. Chữ muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng gợi sự bâng khuâng tiếc nuối khôn nguôi.

Câu 3

Câu 3 (trang 7 VBT Ngữ văn 8, tập 2)

Tâm tư của nhà thơ thể hiện qua bài thơ như thế nào?

Lời giải chi tiết:

- Tâm tư của nhà thơ thể hiện qua bài thơ một cách kín đáo. Tác giả đã mô tả hai cảnh đối lập và gợi niềm thương cảm ông đồ một cách gián tiếp.

- Không chỉ cảm thương cho ông đồ, mà còn là cảm thương một lớp người đã trở thành quá khứ. Hơn thế nữa, sự hoài cổ còn là hoài niệm một vẻ đẹp văn hoá gắn với những giá trị tinh thần truyền thống. Chính vì thế mà bài thơ có sức lay động sâu xa.

Câu 4

Câu 4 (trang 7 VBT Ngữ văn 8, tập 2)

Bài thơ hay ở những điểm nào? (Gợi ý: cách dựng hai cảnh cùng miêu tả ông đồ ngồi viết thuê ngày Tết bên phố nhưng rất khác nhau gợi sự so sánh, những chi tiết miêu tả đầy gợi cảm; sử dụng thể thơ năm chữ và ngôn ngữ giản dị mà cô đọng, nhiều dư vị...)

Lời giải chi tiết:

- Không chỉ hay ở nội dung hoài niệm, bài thơ còn hay ở nghệ thuật.

+ Trước hết là dựng cảnh tương phản. Một bên tấp nập đông vui, một bên buồn bã, hiu hắt. Một bên nét chữ cũng như bay múa: phượng múa, rồng bay; bên kia cả giấy cũng buồn, cả mực cũng sầu, thêm nữa lại kèm lá vàng, mưa bụi.

+ Bài thơ được cấu trúc theo kiểu kết cấu đầu cuối tương ứng. Cũng là thời gian ngày giáp tết, cũng là không gian mùa xuân, cũng vẫn có hoa đào nở. Nhưng hình ảnh ông đồ thì cứ nhạt nhoà dần. Cuối cùng thì không thấy ông đồ nữa. Ông đã thành “ông đồ xưa”. Không phải là ông đồ cũ. Ông đã thành xưa, như đã không còn tồn tại nữa.

+ Bài thơ làm theo thể năm chữ, thể thơ ngũ ngôn vốn có từ lâu. Lời lẽ của bài thơ dung dị, không có gì tân kì. 

Câu 5

Câu 5 (trang 7 VBT Ngữ văn 8, tập 2)

Phân tích để làm rõ cái hay của những câu thơ sau:

- Giấy đỏ buồn không thắm; 

Mực đọng trong nghiên sầu...

- Lá vàng rơi trên giấy;

Ngoài giời mưa bụi bay.

Lời giải chi tiết:

Những câu thơ:

- Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu…

- Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

Là nhưng câu thơ không chỉ tả cảnh. Tác giả đã dùng biện pháp nhân hoá làm cho giấy, mực, những vật vô tri như cũng biết sầu buồn. Phải chăng, cái buồn của bản thân ông đồ cũng làm lây nhiễm sang cảnh vật? Lá vàng, mưa bụi thật là buồn. Lá lại rơi trên giấy không thắm, mưa bụi lại làm cho cảnh vật như nhoè mờ. Ông đồ đã bị lãng quên, càng bị khuất lấp. Những câu thơ như thế đã làm cho bài thơ tạo được cho người đọc ấn tượng và ám ảnh sâu sắc.

Loigiaihay.com


Bình chọn:
4.4 trên 11 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 8 - Xem ngay

Tham Gia Group Dành Cho 2K11 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí