Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Tiếng hát con tàu: "Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ ... Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa"


Đoạn thơ trên đây của Chế Lan Viên là một tiếng lòng được nâng lên thành một triết lí đẹp: Hạnh phúc khi được gặp lại nhân dân. Bốn câu thơ, câu nào cũng có hình ảnh đẹp, mới lạ biểu lộ một cá tính sáng tạo sắc sảo, tài hòa.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý

I. Mở bài

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận

II. Thân bài

* Vị trí đoạn trích

* Phân tích:

- Tình cảm này được nhà thơ hình tượng hóa bằng tình yêu giữa anh và em. Mạch thơ dường như đột ngột chuyển sang một rung cảm khác, một suy tưởng khác: về tình yêu đất lạ. Đoạn thơ tưởng như không ăn nhập gì với bài thơ nhưng vẫn lôgíc, vẫn liền mạch, vẫn một giọng thơ nhất quán của Chế Lan Viên: từ những hình ảnh cụ thể dẫn đến những suy nghĩ triết luận.

Sự sáng tạo hình ảnh bằng những so sánh bất ngờ, mới lạ: nói về tình yêu không phải chuyện xa lạ với Chế Lan Viên và với thơ ca. Tuy nhiên, đoạn thơ vẫn hay, hấp dẫn vì khả năng sử dụng chữ nghĩa, hình ảnh, cách nói sáng tạo, độc đáo, sự liên tưởng bất ngờ, thông minh (Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét - Tình yêu ta như cánh kiến, hoa vàng - Như xuân đến chim rừng lông trở biếc...). Tất cả làm cho những câu thơ Chế Lan Viên viết về tình yêu lấp lánh những sắc màu, xôn xao những tâm trạng.

- Khả năng phát hiện chân lí của đời sống, quy luật của tình cảm: Chế Lan Viên đã phát hiện được những quy luật của tình cảm, nói được rõ ràng nhưng biểu hiện tinh tế của tâm hồn... mà đôi khi ta chỉ cảm nhận được một cách mơ hồ. Phẩm chất này làm cho thơ Chế Lan Viên có những câu đầy sức khái quát, có lúc như một châm ngôn (Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét, Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương).

Tính chất triết lí: Chế Lan Viên thích triết lí, hay triết lí. Đoạn thơ cũng thể hiện rõ phẩm chất ấy. Hiện thực ở đây thực ra chỉ là cớ đế nhà thơ triết lí. Ông đã chỉ ra rằng các sự vật hiện tượng muốn tồn tại được phải có mối quan hệ khăng khít với sự vật và hiện tượng khác. Như cái rét với mùa đông, cánh kiến với hoa vàng, mùa xuân với chim rừng... Cũng như người nghệ sĩ chỉ sáng tạo được khi gắn bó khăng khít với đời sống của nhân dân. Hóa ra tình yêu ở đây không chỉ là tình yêu giữa anh và em, nó là kết tinh của tình cảm với quê hương đất nước. Nói về tình yêu giữa anh và em mà cuối cùng vẫn là nói về tình cảm với nhân dân, đất nước. Như thế, đoạn thơ vẫn nằm trong mạch suy tư, dòng cảm xúc chung của toàn bài.

III. Kết bài

- Khái quát vấn đề cần nghị luận

Bài mẫu

Bài tham khảo số 1

     Năm 1960, tập thơ Ánh sáng và phù sa ra đời, một bước tiến mới về tư tưởng và nghệ thuật của Chế Lan Viên. Bài thơ Tiếng hát con tàu nói lên tình yêu Tây Bắc và khát vọng lên đường đi đến mọi chân trời mơ ước để hiến dâng và sáng tạo. Bài thơ gồm có 3 phần: 1 - Tiếng gọi lên đường; 2 - Nỗi nhớ Tây Bắc; 3 - Khúc hát lên dường. Đây là khổ thơ thứ 5 trích trong phần 2 bài Tiếng hát con tàu nói lên niềm hạnh phúc to lớn được gặp lại nhân dân:

                                                  Con gập lại nhân dân như nai về suối cũ

                                                  Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa

                                                  Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

                                                  Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

       Tư tưởng gặp lại nhân dân là một tư tưởng đẹp. Tư tưởng ấy được cụ thể hóa, hình tượng hóa bằng năm hình ảnh ẩn dụ so sánh vừa mới lạ, vừa giàu chất thơ. Câu thơ “Con gập lại nhân dân như nai vệ suối cũ” là một so sánh độc đáo. Mùa đông tàn tạ, đàn nai đi kiếm ăn ở rừng xa. Nay mùa xuân đến, đàn nai trở về “suối cũ” mảnh đất đã bao đời gắn bó thân thiết yêu thương. “Nai về suối cũ” là sự thể hiện tình nghĩa thủy chung ở đời như “con gặp lại nhân dân”, được sống trong lòng nhân dân. Một chữ “con” dùng rất tinh tế, đã thể hiện một tình cảm chân thành, ấm áp. Đọc lên, ai cũng cảm thấy có mình trong đó.

       Câu thơ “Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa” mở ra trong lòng ta bao liên tưởng đẹp. Ba tháng mùa đông, cỏ cây tàn tạ xơ xác úa vàng. Giêng hai đem hơi ấm mùa xuân cho vạn vật; cỏ trở nên xanh mướt, tốt tươi. Mùa xuân là mùa của sắc cỏ. “Phương thảo lien thiên bích” (Cổ thi); “Cỏ non xanh tận chân trời" (Thiên Kiều). Mùa xuân cũng là mùa của chim én: “Ngày xuân con én đưa thoi” (Nguyễn Du). Én gặp mùa xuân để kết đàn, sinh sôi nảy nở... Chữ “đón’’ (cỏ đón giêng hai), chữ “gặp" (chim én gặp mùa) diễn tả niềm hạnh phúc được hồi sinh, phát triển, trở nên tươi đẹp. Lấy thế giới cỏ cây, chim muôn để nói về niềm vui sướng hanh phúc khi “con gặp lại nhân dân” là một cách nói thấm thía, đậm đà. Cánh én và sắc cỏ mùa xuân trong thơ Chế Lan Viên lúc nào cũng đẹp và đáng yêu:

                                                  Tháng giêng, hai xanh mượt cỏ đồi

                                                  Tháng giêng, hai vút trời bay cánh én.

                                            (Ý nghĩa mùa xuân)

       Còn gì vui sướng hơn, hạnh phúc hơn khi “Đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa”, khi “Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa?’’ Dòng sữa ngọt ngào cũng là tình thương của mẹ nuôi dưỡng trẻ thơ. Cánh tay của mẹ, của bà... nhẹ đưa khi “chiếc nôi ngừng”…, đã nâng giấc ngủ bé thơ. Giấc ngủ êm đềm trong lời ru tiếng hát, trong tình yêu thương. Mẹ và bà đã đến với em thơ trong sự khát khao, mong đợi. Và đó cũng là niềm vui hạnh phúc được sống trong tình yêu thương như khi “con gặp lại nhân dân”.

       Ý tưởng con gặp lại nhân dân được thể hiện một cách phong phú, đa dạng. Gặp lại nhân dân là được sống trong hạnh phúc, trong tình nghĩa thủy chung. Là được tiếp thêm sức sống, sức mạnh mà trở nên tươi tốt, sinh sôi, phát triển. Là được sống trong tình thương san sẻ, vỗ về, được thỏa nỗi chờ mong.

       Đoạn thơ trên thể hiện rõ bút pháp nghệ thuật của Chế Lan Viên: giàu tính triết lí và vẻ đẹp trí tuệ. Triết lí mà không khô khan, vì nhà thơ đã sáng tạo nên nhiều hình ảnh đẹp, mới lạ và ngôn ngữ sắc sảo. Ý tưởng đẹp, hồn thơ đẹp cứ quyện lấy lòng ta.

       Tư tưởng yêu nước và “thân dân ” được thể hiện cảm động đó đây trong thơ ca dân tộc từ mấy trăm năm trước. Nhưng sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, tư tưởng vĩ đại ấy đã được một số nhà thơ như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... nói lên một cách chân thành, thấm thía và sâu sắc hơn:

                                                  Con chim biết nhớ đàn nhớ tổ,

                                                  Ta nhớ người đau khổ nuôi ta. ơn người như mẹ như cha

                                                  Lòng dân yêu Đảng như là yêu con...

                                                                                  (Tố Hữu)

                                                  Tôi cùng xương thịt với nhăn dân của tôi

                                                  Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu

                                                  Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

                                                  Của triệu người yêu dấu gian lao

                                                                              (Xuân Diệu)

       Đoạn thơ trên đây của Chế Lan Viên là một tiếng lòng được nâng lên thành một triết lí đẹp: Hạnh phúc khi được gặp lại nhân dân. Bốn câu thơ, câu nào cũng có hình ảnh đẹp, mới lạ biểu lộ một cá tính sáng tạo sắc sảo, tài hòa. Qua đó, ta mới thấm thìa như một nhà thơ lớn phương Tây đã nói: “Câu thơ đẹp phải là câu thơ nói được một tình cảm đẹp”.

Xem các bài tham khảo khác tại đây

Bài tham khảo số 2

Bài tham khảo số 3

 

 Loigiaihay.com


Bình chọn:
4.2 trên 5 phiếu

>> Luyện thi tốt nghiệp THPT và Đại học năm 2021, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn cùng các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu trên Tuyensinh247.com. Đã có đầy đủ các khóa học từ nền tảng tới luyện thi chuyên sâu.


Gửi bài