1001+ mẫu mở bài, kết bài phân tích tác phẩm hay nhất 200+ Mở bài, Kết bài nghị luận về một tác phẩm thơ song..

Viết bài văn nghị luận phân tích đoạn trích "Đuôi con mắt châu sa thấm giấy ... Hương thề sao chửa thấu nơi cửu trùng" của Than nỗi oan (trích Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ)


Đoạn trích trong Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ là tiếng khóc đau đớn về nỗi oan khiên của một kiếp người bất hạnh. Qua mười hai câu thơ, tác giả đã khéo léo sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để lột tả sự bế tắc, tuyệt vọng và khát khao được minh oan giữa cuộc đời dâu bể.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Mở bài gián tiếp Mẫu 1

Đoạn trích trong Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ là tiếng khóc đau đớn về nỗi oan khiên của một kiếp người bất hạnh. Qua mười hai câu thơ, tác giả đã khéo léo sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để lột tả sự bế tắc, tuyệt vọng và khát khao được minh oan giữa cuộc đời dâu bể. 

Mở bài gián tiếp Mẫu 2

Với ngôn từ giàu sức biểu cảm và hình ảnh ước lệ, đoạn thơ Đuôi con mắt châu sa thấm giấy... Hương thề sao chửa thấu nơi cửu trùng đã khắc họa sắc nét tâm trạng đau đớn tột cùng của Cao Bá Nhạ. Đây là lời tự sự đẫm nước mắt về một số phận oan ức, đồng thời thể hiện tấm lòng trung trinh của người trí thức trước nghịch cảnh. 

Mở bài gián tiếp Mẫu 3

Đoạn thơ trên thuộc tác phẩm Tự tình khúc là bức tranh tâm trạng đầy bi kịch của nhân vật trữ tình trước nỗi oan tày đình. Bằng cách sử dụng các thi liệu cổ điển, Cao Bá Nhạ không chỉ diễn tả nỗi đau xé lòng mà còn gửi gắm niềm u uất khi tiếng lòng mình chưa được thấu hiểu giữa chốn cửu trùng. 

Mở bài gián tiếp Mẫu 1

Bằng ngôn ngữ gợi tả:
Mười hai câu thơ là những dòng lệ đẫm trang giấy, khắc họa nỗi đau xé lòng và tiếng kêu oan tuyệt vọng của Cao Bá Nhạ trong Tự tình khúc. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình nhuốm màu tang tóc, đoạn trích đã mở ra một thế giới nội tâm đầy u uất, nơi con người lẻ loi đơn bóng giữa gánh nặng gia tình và nỗi oan khiên chưa thấu tận trời cao.

Mở bài gián tiếp Mẫu 2

Bằng liên hệ văn học:
Nếu Nguyễn Du từng viết "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", thì đến với Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, ta lại bắt gặp một tâm hồn đồng điệu qua những vần thơ đẫm lệ. Đoạn trích Đuôi con mắt châu sa thấm giấy... Hương thề sao chửa thấu nơi cửu trùng không chỉ là tiếng kêu oan xé lòng như nàng Vũ Nương bên dòng Hoàng Giang, mà còn là nỗi đau tự thân của một trí thức sa cơ, tạo nên một khúc ca bi tráng về thân phận con người trong nghịch cảnh.

Mở bài gián tiếp Mẫu 3

Bằng lí luận văn học:
Văn học là tiếng nói của tâm hồn, là nơi con người gửi gắm những rung động mãnh liệt nhất trước cuộc đời. Qua đoạn trích trong Tự tình khúc, Cao Bá Nhạ đã thực hiện thiên chức ấy bằng cách biến nỗi đau oan khuất thành những vần thơ đẫm lệ. Với đặc trưng của thể loại ngâm khúc và bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện, mười hai câu thơ không chỉ là lời tự sự cá nhân mà còn là biểu tượng cho sự va đập giữa khát vọng công lý và hiện thực tàn khốc.

Mở bài gián tiếp Mẫu 4

Bằng phép đối:
Sử dụng nghệ thuật đối lập triệt để giữa cái tôi nhỏ bé và nỗi oan tày đình, đoạn trích trong Tự tình khúc là tiếng khóc lay động đất trời của Cao Bá Nhạ. Giữa một bên là gánh nặng gia tình tám năm dư và một bên là sự im lặng của cửu trùng, mười hai câu thơ đã tạo nên một thế đối trọng kịch tính, lột tả trọn vẹn bi kịch của một kiếp người tài hoa nhưng vướng vòng lao lý.

Mở bài gián tiếp Mẫu 5

Đi từ chủ đề:
Chủ đề bi kịch thân phận người trí thức trong xã hội cũ được thể hiện đầy ám ảnh qua mười hai câu thơ của Cao Bá Nhạ. Từ nỗi đau thể xác đến sự giày vò về tinh thần, đoạn trích là bản cáo trạng đẫm nước mắt về một thế giới mà ở đó, lòng trung trinh và nỗi oan ức tày trời vẫn chưa thể thấu tận cửa cửu trùng.

Mở bài gián tiếp Mẫu 6

Bằng câu hỏi tu từ:
Liệu có nỗi đau nào xé lòng hơn cảnh giọt lệ châu sa thấm đẫm trang giấy và máu chảy pha son nơi đầu ngón tay? Qua đoạn trích trong Tự tình khúc, Cao Bá Nhạ đã gửi vào không trung những câu hỏi đầy nhức nhối về nỗi oan khiên tày đình và gánh nặng gia tình đeo đẳng. Mười hai câu thơ là tiếng lòng u uất, tự vấn đất trời rằng tại sao lòng trung trinh và hương thề nguyện nồng nàn lại chẳng thể thấu tận nơi cửu trùng?

Mở bài gián tiếp Mẫu 7

Đi từ tác giả:
Chứng kiến gia tộc sụp đổ và bản thân rơi vào cảnh tù đày, Cao Bá Nhạ đã mượn thơ ca làm phương tiện duy nhất để thanh minh cho tấm lòng mình. Đoạn trích Đuôi con mắt châu sa thấm giấy... là sự kết tinh của những trải nghiệm đau thương nhất trong cuộc đời tác giả, thể hiện một cái tôi cô độc nhưng đầy tự trọng, đang khắc khoải đi tìm một ánh sáng công lý giữa cõi nhân gian mịt mờ.

Kết bài không mở rộng Mẫu 1

Tóm lại, đoạn thơ trên là một nốt trầm đau xót trong Tự tình khúc, thể hiện trọn vẹn bi kịch của Cao Bá Nhạ. Bằng ngôn từ giàu sức gợi và bút pháp tả cảnh ngụ tình, tác giả đã khắc họa thành công nỗi oan khiên tày đình cùng tấm lòng trung trinh, để lại dư âm sâu sắc về thân phận con người trong nghịch cảnh. 

Kết bài không mở rộng Mẫu 2

Qua mười hai câu thơ, người đọc thấy được hình ảnh một trí thức tài hoa nhưng bạc mệnh đang quằn quại trong nỗi đau và tuyệt vọng. Đoạn trích không chỉ là lời kêu oan thấu thiết của riêng Cao Bá Nhạ mà còn là tiếng lòng nhân đạo, khẳng định giá trị của phẩm giá con người ngay cả khi rơi vào cảnh bế tắc, cùng cực nhất. 

Kết bài không mở rộng Mẫu 3

Khép lại đoạn thơ, hình ảnh làn khói hương nguyện cầu không thấu nơi cửu trùng vẫn để lại nỗi ám ảnh khôn nguôi trong lòng độc giả. Với nghệ thuật đối và ngôn ngữ biểu cảm đặc sắc, Cao Bá Nhạ đã biến nỗi đau cá nhân thành một áng văn chương lay động, khẳng định sức sống lâu bền của tác phẩm trong dòng chảy văn học ngâm khúc Việt Nam. 

Kết bài mở rộng Mẫu 1

Bằng ngôn ngữ gợi tả:
Đoạn kết khép lại nhưng dư âm về những giọt lệ châu sa và làn khói hương nồng vẫn còn vương hất giữa không gian u uất. Mười hai câu thơ là một bản nhạc buồn đau đớn, nơi nỗi đau không chỉ hiện hình trên mặt giấy mà còn thấm đẫm vào cỏ cây, hoa lá. Tiếng lòng của Cao Bá Nhạ đã thực sự chạm đến trái tim độc giả bằng những hình ảnh rỉ máu, để lại một nỗi ám ảnh khôn nguôi về một kiếp người tài hoa nhưng bạc mệnh.

Kết bài mở rộng Mẫu 2

Bằng liên hệ văn học:
Cũng như tiếng kêu cứu vô vọng của nàng Vũ Nương trước sóng nước Hoàng Giang hay nỗi sầu muộn của người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc, đoạn thơ của Cao Bá Nhạ đã chạm đến tận cùng của bi kịch nhân sinh. Những vần thơ đẫm lệ này không chỉ dừng lại ở nỗi đau của một cá nhân, mà đã trở thành tiếng lòng đồng điệu với bao kiếp người chịu oan ức trong văn học, để lại dư âm về một khát vọng công lý chưa bao giờ nguôi tắt.

Kết bài mở rộng Mẫu 3

Bằng lí luận văn học:
Đoạn thơ là minh chứng cho chức năng thanh lọc của văn chương, nơi nỗi đau cá nhân được nghệ thuật hóa để trở thành tiếng lòng nhân loại. Thông qua thể loại ngâm khúc, Cao Bá Nhạ đã chuyển hóa bi kịch cuộc đời thành một chỉnh thể nghệ thuật giàu giá trị nhân đạo, khẳng định phẩm giá con người ngay trong sự bế tắc cùng cực của số phận.

Kết bài mở rộng Mẫu 4

Bằng phép đối:
Khép lại đoạn thơ, sự đối lập giữa cái tôi nhỏ bé và nỗi oan tày đình đã đẩy bi kịch lên đến đỉnh điểm. Một bên là gánh nặng gia tình tám năm đằng đẵng, một bên là sự thinh lặng vô tình của cửu trùng cao xa. Chính phép đối tài tình này đã khắc sâu nỗi đau bế tắc, đồng thời tôn vinh tấm lòng trung trinh bất khuất của Cao Bá Nhạ trước dông bão cuộc đời.

Kết bài mở rộng Mẫu 5

Đi từ chủ đề:
Như vậy, chủ đề bi kịch thân phận con người trước nghịch cảnh đã được tác giả thể hiện trọn vẹn bằng những vần thơ đẫm máu và nước mắt. Đoạn thơ là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của nhân cách: dù trong hoàn cảnh bế tắc nhất, con người vẫn giữ trọn đạo hiếu, nghĩa tình và khát khao được minh oan, tạo nên một giá trị nhân văn sâu sắc cho toàn tác phẩm.

Kết bài mở rộng Mẫu 6

Bằng câu hỏi tu từ:
Khép lại đoạn trích, người đọc vẫn không khỏi xót xa trước câu hỏi: Phải chăng lòng trung trinh và nỗi oan thấu trời của một kiếp người mãi mãi chẳng thể chạm tới nơi cửu trùng cao xa? Mười hai câu thơ là tiếng thở dài bất lực, để lại nỗi ám ảnh khôn nguôi về một xã hội mà ở đó, tiếng kêu cứu của những linh hồn tài hoa, bạc mệnh như Cao Bá Nhạ vẫn cứ chìm trong im lặng đến tàn nhẫn.

Kết bài mở rộng Mẫu 7

Đi từ tác giả:
Khép lại đoạn trích, ta càng thêm thấu hiểu và trân trọng cốt cách của Cao Bá Nhạ – một trí thức dù rơi vào cảnh lầm than vẫn giữ trọn lòng hiếu nghĩa. Mười hai câu thơ không chỉ là tiếng lòng rỉ máu của người trong cuộc, mà còn là minh chứng cho bản lĩnh nghệ sĩ khi biến bi kịch cá nhân thành áng văn chương bất hủ, để lại cho đời một tiếng kêu oan đầy nhân phẩm và kiêu hãnh.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...