Soạn bài Xưng hô trong hội thoại - Ngắn gọn nhất

Bình chọn:
4.1 trên 36 phiếu

Soạn văn lớp 9 tập 1 ngắn gọn bài Xưng hô trong hội thoại. Câu 1: Tất cả các danh từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt đều có thể trở thành từ xưng hô ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ hai.

Xưng hô trong hội thoại

I. Từ ngữ xưng hô và việc sử dụng từ ngữ xưng hô

Câu 1:

- Tất cả các danh từ chỉ quan hệ họ hàng trong tiếng Việt đều có thể trở thành từ xưng hô ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ hai.

 - Một số từ chỉ nghề nghiệp, chức danh cũng có thể dùng làm từ xưng hô.

Câu 2:

- Xác định từ ngữ xưng hô trong hai đoạn trích:

+ Từ ngữ xưng hô trong đoạn trích thứ nhất:  em – anh, ta – chú mày.

+ Từ ngữ xưng hô trong đoạn trích thứ hai: tôi – anh.

- Trong đoạn trích thứ nhất, sự xưng hô của hai nhân vật rất khác nhau, đó là sự xưng hô bất bình đẳng. Nhưng trong đoạn trích thứ hai, sự xưng hô thay đổi hẳn, đó là sự xưng hô bình đẳng.

- Vì tình huống giao tiếp thay đổi, vị thế của hai nhân vật không còn như trong đoạn trích thứ nhất nữa.

II. Luyện tập

Câu 1:

-  Thay vì dùng “chúng em”, cô học viên người châu Âu dùng “chúng ta” Trong tiếng Việt, có sự phân biệt giữa phương tiện xưng hô chỉ “ngôi gộp” (tức chỉ một nhóm ít nhất là hai người, trog đó có người nói và cả người nghe như “chúng ta”) và phương tiện xưng hô chỉ “ngôi trừ” (tức chỉ một nhóm ít nhất là hai người, trong đó có người nói, nhưng không có người nghe như “chúng tôi”, “chúng em”…). Ngoài ra, có phương tiện xưng hô vừa có thể được dùng để chỉ “ngôi gộp”, vừa có thể được dùng để chỉ “ngôi trừ” như “chúng mình”.

- Khác với tiếng Việt, nhiều ngôn ngữ châu Âu không có sự phân biệt đó, chẳng hạn We trong tiếng Anh có thể dịch sang tiếng Việt là “chúng tôi” hoặc “chúng ta” tùy thuộc vào tình huống. Do ảnh hưởng của thói quen trong tiếng mẹ đẻ (không phân biệt “ngôi gộp” và “ngôi trừ”), cô học viên đã có sự nhầm lẫn. Điều đáng chú ý là việc dùng “chúng ta”, thay vì dùng “chúng em”/ “chúng tôi”, trong tình huống này làm cho ta có thể hiểu lễ thành hôn là của cô học viên người châu Âu và vị giáo sư Việt Nam.

Câu 2:

- Việc dùng “chúng tôi” thay cho “tôi” trong các văn bản khoa học nhằm tăng thêm tính khách quan cho những luận điểm khoa học trong văn bản. Ngoài ra, việc xưng hô này còn thể hiện sự khiêm tốn của tác giả.

- Tuy nhiên, cần lưu ý trong những tình huống nhất định, chẳng hạn khi viết bài bút chiến, tranh luận, khi cần nhấn mạnh ý kiến riêng của cá nhân, thì dùng “tôi” tỏ ra thích hợp hơn.

Câu 3: Trong truyện “Thánh Gióng”, đứa bé gọi mẹ của mình theo cách gọi thông thường. Nhưng xưng hô với sứ giả thì sử dụng những từ ta – ông. Cách xưng hô như vậy cho thấy Thánh Gióng là một đứa bé khác thường.

Câu 4: Vị tướng, tuy đã trở thành một nhân vật nổi tiếng, có quyền cao chức trọng, nhưng vẫn gọi thầy cũ của mình là “thầy” và xưng là “con”. Ngay khi người thầy giáo già gọi vị tướng là “ngài” thì ông vẫn khồng hề thay đổi cách xưng hô. Cách xưng hô đó thể hiện thái độ kính cẩn và lòng biết ơn của vị tướng đối với thầy giáo của mình. Đó quả là bài học sâu sắc về tinh thần “tôn sư trọng đạo”, rất đáng để noi theo.

Câu 5: Trước năm 1945, đất nước ta còn là một nước phong kiến. Người đứng đầu nhà nước là vua. Vua không bao giờ xưng với dân chúng của mình là “tôi” mà xưng là “trẫm”. Việc Bác, người đứng đầu nhà nước Việt Nam mới, xưng là “tôi” và gọi dân chúng là “đồng bào” tạo cho người nghe cảm giác gần gũi, thân thiết với người nói, đánh dấu một bước ngoặt trong quan hệ giữa lãnh tụ và nhân dân trong một đất nước dân chủ.

Câu 6: Các từ ngữ xưng hô trong đoạn trích này là của một kẻ có vị thế, quyền lực (cai lệ) và một người dân bị áp bức (chị Dậu). Cách xưng hô của cai lệ thể hiện sự trịch thượng, hống hách. Còn cách xưng hô của chị Dậu ban đầu thì hạ mình, nhẫn nhục (nhà cháu – ông), nhưng sau đó thay đổi hoàn toàn: tôi – ông, rồi bà – mày. Sự thay đổi cách xưng hô đó thể hiện sự thay đổi thái độ và hành vi ứng xử của nhân vật. Nó thể hiện sự phản kháng quyết liệt của một con người dồn đến bước đường cùng.

loigiaihay.com

Các bài liên quan: - Xưng hô trong hội thoại

Soạn bài xưng hô trong hội thoại Soạn bài xưng hô trong hội thoại

Soạn bài xưng hô trong hội thoại. Câu 2. Trong các văn bản khoa học, nhiều khi tác giả của văn bản chỉ là một người nhưng vẫn xưng chúng tôi chứ không xưng tôi. Giải thích vì sao?

Xem chi tiết
Soạn bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh - Ngắn gọn nhất Soạn bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh - Ngắn gọn nhất

Soạn văn lớp 9 tập 1 ngắn gọn bài Viết bài tập làm văn số 1 – Văn thuyết minh. Đề 1: Thuyết minh: Cây lúa Việt Nam.

Xem chi tiết
Viết bài tập làm văn số 1 - Văn thuyết minh Viết bài tập làm văn số 1 - Văn thuyết minh

Viết bài tập làm văn số 1 - Văn thuyết minh: một số bài làm tham khảo. Đề 3: Một loài động vật hay vật nuôi ở quê em. (Gợi ý: Thuyết minh về con trâu ở làng quê Việt Nam)

Xem chi tiết
Thuyết minh về cây lúa Việt Nam Thuyết minh về cây lúa Việt Nam

Cây lúa trong đời sống người Việt Nam.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt. Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

Bài thơ Bếp lửa sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc nhờ sức truyền cảm sâu sắc của nó. Bài thơ đã khơi dậy trong lòng chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, với những người đã tô màu lên tuổi thơ trong sáng của ta.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Bài thơ “Ánh trăng” in trong tập thơ cùng tên, được Nguyễn Duy sáng tác vào nãm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ ca ngợi vầng trăng tri kỉ của tuổi thơ, của người lính một thời trận mạc, đồng thời gợi nhắc mọi người biết sống ân nghĩa thủy chung, giữ tròn đạo lí tốt đẹp.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của. Huy Cận (bài 2) Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của. Huy Cận (bài 2)

Đoàn thuyền đánh cá là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng. Nhà thơ ca ngợi biển cả mênh mông - nguồn tài nguyên bất tận của Tổ quốc, ca ngợi những con người lao động cần cù, gan góc, ngày đêm làm giàu cho đất nước. Cảm hứng trữ tình của Huy Cân và nghệ thuật điêu luyện của ông đã cuốn hút người đọc thực sự

Xem chi tiết
Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.( bài 2) Phân tích Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.( bài 2)

Con đường chiến lược Trường Sơn là một chiến tích mang màu sắc huyền thoại của dân tộc ta trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã làm sống lại một thời gian khổ, oanh liệt của anh bộ đội Cụ Hồ. Chất anh hùng ca dào dạt bài thơ. Bài thơ cũng là một chứng tích tuyệt dẹp của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn anh hùng.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến lớp 9, luyện vào 10, mọi lúc, mọi nơi môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa . Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu