Soạn văn 6 chi tiết, Ngữ văn 6 Kết nối tri thức với cuộc sống, tổng hợp văn mẫu hay nhất
Bài 6: Chuyện kể về những người anh hùng Soạn bài Kể lại một truyền thuyết SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết>
Soạn bài Kể lại một truyền thuyết chi tiết SGK ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống với đầy đủ lời giải tất cả các câu hỏi và bài tập
Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức
Toán - Văn - Anh - KHTN...
Đề bài
Trả lời Câu hỏi trang 20 SGK Văn 6 Kết nối tri thức với cuộc sống
Truyền thuyết cũng như các truyện dân gian khác được lưu truyền nhờ lời kể, bằng lời kể. Nếu muốn kể hoặc được yêu cầu kể một truyền thuyết đã đọc, đã nghe, em sẽ thực hiện như thế nào?
Video hướng dẫn giải
Phương pháp giải - Xem chi tiết
1. TRƯỚC KHI NÓI
a. Chuẩn bị nội dung nói
- Chọn truyền thuyết và ngôi kể.
- Tóm tắt truyện.
- Xác định từ ngữ then chốt và giọng kể thích hợp.
b. Tập luyện
Để có bài nói tốt, em cần tập luyện trước khi trình bày trước lớp. Tập luyện nhiều giúp em tự tin hơn. Em có thể lựa chọn hoặc kết hợp một trong hai hình thức tập luyện sau:
- Tập trình bày một mình trước gương.
- Tập trình bày trước nhóm bạn hoặc người thân và lắng nghe các ý kiến nhận xét, góp ý để hoàn thiện bài nói.
2. TRÌNH BÀY BÀI NÓI
Khi trình bày bài nói, em cần lưu ý:
- Giọng kể trang nghiêm, đôi lúc hào sảng, trầm lắng.
- Tập trung vào những sự kiện quan trọng
- Nên chuẩn bị tranh ảnh để mô phỏng.
3. SAU KHI NÓI
- Người nghe: trao đổi về bài nói với tinh thần xây dựng và tôn trọng. Có thể trao đổi một số nội dung như:
+ Điều hấp dẫn, thú vị của câu chuyện.
+ Những sự việc, chi tiết còn chưa rõ trong bài nói.
- Người nói: lắng nghe, phản hồi những ý kiến của người nghe với tinh thần cầu thị:
+ Tiếp thu những ý kiến góp ý mà em cho là xác đáng.
+ Giải thích thêm về những sự việc, chi tiết mà người nghe còn chưa rõ.
Lời giải chi tiết
Tham khảo 1:
- Thay vì vào bài trực tiếp, chúng ta có thể mở bài gián tiếp
+ Trong chuyến đi: Nhân một chuyến du lịch đến làng Gióng,…. tôi đã được chú/cô hướng dẫn viên kể lại câu chuyện về sự tích nơi này.
+ Khi làm bài tập: Khi được yêu cầu viết một bài văn kể lại câu chuyện truyền thuyết ưa thích, tôi đã nghĩ ngay đến Thánh Gióng.
+ Trong sinh hoạt gia đình: Cha mẹ tôi luôn dạy tôi phải trân trọng lịch sử. Tôi đã được nghe không biết bao nhiêu câu chuyện truyền thuyết, cổ tích trong những bữa ăn/buổi đi chơi. Tối qua, tôi được mẹ kể về Thánh Gióng.
....
- Sau đó dẫn vào câu chuyện:
Đó là câu chuyện từ thời Hùng Vương thứ 6, tại làng Gióng. Có một đôi vợ chồng già vô cùng chăm chỉ, đức hậu nhưng mãi chưa có được mụn con nào. Thế rồi một hôm, bà lão trông thấy một vết chân rất to trên nền đất nên tò mò ướm thử chân vào. Nào ngờ không lâu sau bà mang thai. Điều kì lạ chưa dừng ở đó. Bà lão mang thai đến 12 tháng mới sinh được cậu con trai rất khôi ngô, tuấn tú. Thế nhưng, cậu bé lên 3 rồi mà vẫn chưa thấy nói, thấy cười hay thấy đi, cứ đặt đâu thì nằm đó. Thời đó, giặc Ân hung bạo sang xâm lược nước ta. Nhân dân rơi vào cảnh lầm than, chiến tranh liên miên. Thấy vậy, nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi. Nghe vậy, cậu bé lên 3 ấy liền cất những câu nói đầu tiên trong cuộc đời ''Mẹ ra mời sứ giả vào đây''. Khi sứ giả vào, cậu bé bảo ''Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này.''. Nhà vua nghe vậy liền cho thợ làm gấp những vật mà cậu bé dặn dò. Lạ hơn là, sau ngày hôm đó, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mãi không no, áo vừa mặc đã đứt chỉ. Hai vợ chồng làm lụng bao nhiêu cũng không đủ nuôi người con nên phải đành nhờ cậy hàng xóm. Bà con xung quanh đều vui lòng góp gạo nuôi chú bé vì ai cũng muốn quân giặc sớm bị tiêu diệt. Khi sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến cũng là lúc thế nước đang rất nguy vì giặc đã đến gần chân núi Trâu Sơn. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng trở thành một tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc để đón đầu chúng. Người tráng sĩ lúc này đánh hết lớp giặc này đến lớp giặc khác. Roi sắt gãy thì nhanh trí nhổ cụm tre cạnh đường mà quật giặc đến tan vỡ. Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau mà tháo chạy, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. Đến đó, người cởi áo giáp sắt, một mình một ngựa từ từ bay lên trời. Cảnh ấy mới thật tráng lệ, hùng vĩ làm sao. Sự góp sức chống giặc của người tráng sĩ được vua nhớ công mà phong là Phù Đổng Thiên Vương. Vua ban lệnh lập đền thờ ngay ở quê nhà. Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng (hay còn gọi là làng Gióng). Mỗi năm khi đến tháng Tư, làng mở hội to. Nhiều người kể rằng, những bụi tre đằng ngà vì ngựa phun bị cháy mới ngả sang màu vàng óng như vậy, còn những vết chân ngựa lại thành những ao hồ liên tiếp Người ta còn truyền nhau rằng, khi ngựa thét ra lửa đã thiêu cháy một làng cho nên gọi đó là làng Cháy.
- Có thể kết thúc ở đó hoặc mở rộng thêm một số ý như sau:
+ Ý nghĩa truyền thuyết: Truyền thuyết “Thánh Gióng” mang theo ước mơ về người anh hùng chống giặc của nhân dân ta. Đồng thời cũng cho thấy tinh thần kiên cường, bất khuất, không ngại chiến đấu để bảo vệ bờ cõi dân tộc.
+ Kết lại hoàn cảnh mở câu chuyện: Đi du lịch (Buổi thăm quan đến đó là kết thúc, sau khi về nhà trong đầu tôi vẫn không thôi hiện lên hình ảnh Thánh Gióng); trong sinh hoạt (Khi ăn xong bữa cơm, vì quá hứng thú trước câu chuyện mẹ kể mà tôi đã lên mạng tìm hiểu ngay về nó. Càng tìm hiểu, tôi lại càng yêu mến lịch sử, văn hóa nước mình. Tôi đã đề nghị mẹ cho mình một chuyến đi tham quan đến làng Gióng nếu như đợt tới điểm kiểm tra của tôi đạt 9.0.)....
+ Bài học bản thân/Liên hệ bản thân: Qua câu chuyện, tôi hiểu được sự nghiệp gian khổ bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, với trách nhiệm của một người công dân nói chung và người học sinh nói riêng, em tự nhắc nhở bản thân phải không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức để góp phần nhỏ bé xây dựng đất nước.
++ Ý nghĩa truyền thuyết: Truyền thuyết “Thánh Gióng” mang theo ước mơ về người anh hùng chống giặc của nhân dân ta. Đồng thời cũng cho thấy tinh thần kiên cường, bất khuất, không ngại chiến đấu để bảo vệ bờ cõi dân tộc.+ Kết lại hoàn cảnh mở câu chuyện: Đi du lịch (Buổi thăm quan đến đó là kết thúc, sau khi về nhà trong đầu tôi vẫn không thôi hiện lên hình ảnh Thánh Gióng); trong sinh hoạt (Khi ăn xong bữa cơm, vì quá hứng thú trước câu chuyện mẹ kể mà tôi đã lên mạng tìm hiểu ngay về nó. Càng tìm hiểu, tôi lại càng yêu mến lịch sử, văn hóa nước mình. Tôi đã đề nghị mẹ cho mình một chuyến đi tham quan đến làng Gióng nếu như đợt tới điểm kiểm tra của tôi đạt 9.0.)....+ Bài học bản thân/Liên hệ bản thân: Qua câu chuyện, tôi hiểu được sự nghiệp gian khổ bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, với trách nhiệm của một người công dân nói chung và người học sinh nói riêng, em tự nhắc nhở bản thân phải không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức để góp phần nhỏ bé xây dựng đất nước. Ý nghĩa truyền thuyết: Truyền thuyết “Thánh Gióng” mang theo ước mơ về người anh hùng chống giặc của nhân dân ta. Đồng thời cũng cho thấy tinh thần kiên cường, bất khuất, không ngại chiến đấu để bảo vệ bờ cõi dân tộc.+ Kết lại hoàn cảnh mở câu chuyện: Đi du lịch (Buổi thăm quan đến đó là kết thúc, sau khi về nhà trong đầu tôi vẫn không thôi hiện lên hình ảnh Thánh Gióng); trong sinh hoạt (Khi ăn xong bữa cơm, vì quá hứng thú trước câu chuyện mẹ kể mà tôi đã lên mạng tìm hiểu ngay về nó. Càng tìm hiểu, tôi lại càng yêu mến lịch sử, văn hóa nước mình. Tôi đã đề nghị mẹ cho mình một chuyến đi tham quan đến làng Gióng nếu như đợt tới điểm kiểm tra của tôi đạt 9.0.)....+ Bài học bản thân/Liên hệ bản thân: Qua câu chuyện, tôi hiểu được sự nghiệp gian khổ bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, với trách nhiệm của một người công dân nói chung và người học sinh nói riêng, em tự nhắc nhở bản thân phải không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức để góp phần nhỏ bé xây dựng đất nước.
Trong một lần được cô giáo giao bài tập kể lại một truyền thuyết mà em yêu thích, em đã nhớ ngay đến câu chuyện Sơn Tinh – Thủy Tinh mà em từng được nghe từ nhỏ. Đây là một câu chuyện dân gian quen thuộc, gắn liền với trí tưởng tượng phong phú của người xưa về thiên nhiên và cuộc sống.
Câu chuyện xảy ra vào đời Hùng Vương thứ mười tám. Khi ấy, nhà vua có một người con gái rất xinh đẹp tên là Mị Nương. Nàng không chỉ có nhan sắc mà còn dịu dàng, nết na nên được nhiều người ngưỡng mộ. Vua Hùng rất yêu thương con gái nên muốn kén cho nàng một người chồng thật xứng đáng. Một hôm, có hai chàng trai đến cầu hôn Mị Nương. Một người là Sơn Tinh – chúa vùng núi cao, có tài lạ là có thể dời non, lấp biển, khiến núi đồi mọc lên theo ý muốn. Người còn lại là Thủy Tinh – chúa vùng nước, có phép hô mưa gọi gió, làm cho nước dâng cao cuồn cuộn.
Cả hai đều là những người tài giỏi nên vua Hùng rất khó lựa chọn. Sau khi suy nghĩ, vua liền đưa ra điều kiện: sáng hôm sau ai mang sính lễ đến trước sẽ được cưới Mị Nương. Sính lễ gồm có voi chín ngà, gà chín cựa và ngựa chín hồng mao. Nghe vậy, cả hai chàng trai đều trở về chuẩn bị.
Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang đầy đủ lễ vật đến trước nên được vua Hùng gả Mị Nương cho. Sơn Tinh liền đưa Mị Nương về núi sinh sống. Khi Thủy Tinh đến sau và biết mình đến muộn, chàng vô cùng tức giận. Thủy Tinh lập tức hô mưa gọi gió, làm cho nước dâng lên cuồn cuộn nhằm đánh Sơn Tinh và cướp lại Mị Nương.
Nước sông dâng cao, ngập cả ruộng đồng và làng mạc. Tuy nhiên, Sơn Tinh không hề sợ hãi. Chàng liền dùng phép dời núi, dựng đồi cao lên để chống lại nước lũ. Nước dâng lên bao nhiêu thì núi lại cao lên bấy nhiêu. Cuộc chiến giữa hai vị thần kéo dài suốt nhiều ngày nhưng cuối cùng Thủy Tinh vẫn không thể thắng được Sơn Tinh nên đành phải rút quân về.
Tuy vậy, Thủy Tinh vẫn không nguôi giận. Hằng năm, cứ đến mùa mưa bão, Thủy Tinh lại dâng nước lên để đánh Sơn Tinh. Vì thế mà hằng năm nước lũ thường dâng cao, gây ngập lụt ở nhiều nơi. Người xưa đã mượn câu chuyện này để giải thích hiện tượng lũ lụt thường xảy ra vào mùa mưa.
Qua truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, em hiểu rằng người xưa đã thể hiện ước mơ chiến thắng thiên tai và bảo vệ cuộc sống của con người. Câu chuyện cũng cho thấy tinh thần kiên cường, dũng cảm của con người trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên.
Sau khi kể lại câu chuyện này, em càng cảm thấy yêu thích những truyền thuyết của dân tộc hơn. Những câu chuyện ấy không chỉ thú vị mà còn giúp chúng ta hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và trí tưởng tượng phong phú của ông cha ta từ xa xưa.
Trong một buổi tối cả gia đình quây quần bên mâm cơm, ông em đã kể cho em nghe rất nhiều câu chuyện dân gian thú vị. Trong số đó, câu chuyện khiến em ấn tượng nhất là truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy, một câu chuyện gắn liền với phong tục ngày Tết của người Việt.
Câu chuyện xảy ra vào thời vua Hùng thứ sáu. Khi ấy, nhà vua đã già và muốn truyền ngôi cho người con xứng đáng nhất. Tuy nhiên, vua Hùng có rất nhiều người con trai nên không biết nên chọn ai. Vì vậy, nhà vua quyết định tổ chức một cuộc thi. Vua nói rằng: vào dịp đầu năm, ai tìm được lễ vật ý nghĩa nhất để dâng cúng tổ tiên thì sẽ được truyền ngôi.
Nghe vậy, các hoàng tử đều cố gắng tìm những món ăn ngon và quý hiếm để dâng lên vua cha. Người thì cho người đi khắp nơi tìm sơn hào hải vị, người thì chuẩn bị những món ăn cầu kì và đắt tiền. Riêng hoàng tử Lang Liêu – người con trai thứ mười tám của vua Hùng – lại rất lo lắng vì mẹ đã mất sớm, cuộc sống của chàng cũng không giàu có như các anh.
Một đêm, khi đang suy nghĩ về việc chuẩn bị lễ vật, Lang Liêu bỗng nằm mơ thấy một vị thần đến chỉ bảo. Vị thần nói rằng: “Trong trời đất không có gì quý bằng hạt gạo, vì gạo là thứ nuôi sống con người. Hãy dùng gạo để làm bánh dâng lên vua cha.” Khi tỉnh dậy, Lang Liêu liền làm theo lời thần dạy. Chàng dùng gạo nếp làm hai loại bánh: một loại bánh hình vuông tượng trưng cho đất, bên trong có nhân đậu xanh và thịt lợn, gọi là bánh chưng; loại bánh còn lại có hình tròn tượng trưng cho trời, gọi là bánh giầy.
Đến ngày dâng lễ vật, các hoàng tử mang đến rất nhiều món ăn quý hiếm. Tuy nhiên, vua Hùng lại đặc biệt chú ý đến hai loại bánh giản dị của Lang Liêu. Khi nghe Lang Liêu giải thích ý nghĩa của hai loại bánh, vua Hùng cảm thấy vô cùng hài lòng. Nhà vua cho rằng bánh chưng và bánh giầy không chỉ thể hiện sự khéo léo mà còn thể hiện lòng hiếu thảo và sự hiểu biết về ý nghĩa của trời đất. Vì vậy, vua quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu.
Từ đó về sau, mỗi khi đến dịp Tết, người dân Việt Nam thường làm bánh chưng và bánh giầy để dâng lên tổ tiên, thể hiện lòng biết ơn đối với trời đất và những người đã sinh thành, nuôi dưỡng mình.
Qua câu chuyện Bánh chưng, bánh giầy, em hiểu thêm về phong tục truyền thống của dân tộc Việt Nam trong dịp Tết. Câu chuyện cũng nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng những giá trị giản dị nhưng ý nghĩa trong cuộc sống, đồng thời luôn nhớ đến công ơn của tổ tiên.
Sau khi nghe ông kể xong câu chuyện ấy, em càng cảm thấy yêu thích những truyền thuyết của dân tộc hơn. Mỗi câu chuyện không chỉ mang lại sự thú vị mà còn chứa đựng nhiều bài học sâu sắc về đạo lí và truyền thống tốt đẹp của người Việt.
- Soạn bài Củng cố, mở rộng Bài 6 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện (một sinh hoạt văn hoá) SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Ai ơi mồng chín tháng tư SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thực hành Tiếng Việt trang 13 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Sơn Tinh, Thủy Tinh SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 6 - Kết nối tri thức - Xem ngay
Các bài khác cùng chuyên mục
- Soạn bài Ôn tập Học kì 2 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Về đích: Ngày hội với sách SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thách thức thứ hai: Sáng tạo cùng tác giả. SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thách thức đầu tiên: Mỗi ngày một cuốn sách SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Củng cố, mở rộng Bài 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Ôn tập Học kì 2 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Về đích: Ngày hội với sách SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thách thức thứ hai: Sáng tạo cùng tác giả. SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thách thức đầu tiên: Mỗi ngày một cuốn sách SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Củng cố, mở rộng Bài 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết





Danh sách bình luận