Soạn văn 6 chi tiết, Ngữ văn 6 Kết nối tri thức với cuộc sống, tổng hợp văn mẫu hay nhất
Bài 7: Thế giới cổ tích Soạn bài Cây khế SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết>
Soạn bài Cây khế chi tiết SGK ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống với đầy đủ lời giải tất cả các câu hỏi và bài tập phần Trước khi đọc, Đọc văn bản, Sau khi đọc
Nội dung chính
| Truyện Cây khế là câu truyện về bài học đền ơn đáp nghĩa, niềm tin ở hiền sẽ gặp lành và may mắn của nhân dân. |
Trước khi đọc
Video hướng dẫn giải
Câu hỏi (trang 31 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Hẳn nhiều em có ước muốn được đặt chân đến một hòn đảo ngoài khơi xa lắc, chưa ai biết đến và thường hình dung ở đó có nhiều điều thú vị, kì diệu chờ được khám phá.
Hãy tưởng tượng em đang ở vào tình huống đó. Em có thể chia sẻ với các bạn những điều kì diệu mà em được chứng kiến.
Phương pháp giải:
Thử tưởng tượng và chia sẻ cảm nhận của riêng em.
Lời giải chi tiết:
Em đang ở một hòn đảo ngoài khơi xa lắc, cách xa đất liền. Ngay trước mắt là những bãi cát vắng vẻ, tĩnh lặng chỉ có những bụi cây nhỏ mọc thưa thớt. Cảm giác vô cùng hoang sơ. Nước biển có độ mặn cao, trong suốt, nhìn rõ cả cát dưới đáy. Phía trước trông ra biển cả mênh mông, phía sau và 2 bên là vách núi như bức tường thành. Muốn đến được hòn đảo phải vượt núi hoặc chui qua đường hầm. Ở đây con người sẽ xây dựng những "thủy cung", có thể trực tiếp quan sát các đàn cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập lượn lờ bên những cụm san hô đầy màu.
Ngoài đảo hoang đó có thể có những hang động chứa nhiều vàng bạc, đá quý đủ màu sắc lấp lánh,…
Em đang ở một hòn đảo ngoài khơi xa lắc, cách xa đất liền. Ngay trước mắt là những bãi cát vắng vẻ, tĩnh lặng chỉ có những bụi cây nhỏ mọc thưa thớt. Cảm giác vô cùng hoang sơ. Nước biển có độ mặn cao, trong suốt, nhìn rõ cả cát dưới đáy. Phía trước trông ra biển cả mênh mông, phía sau và 2 bên là vách núi như bức tường thành. Muốn đến được hòn đảo phải vượt núi hoặc chui qua đường hầm. Ở đây con người sẽ xây dựng những "thủy cung", có thể trực tiếp quan sát các đàn cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập lượn lờ bên những cụm san hô đầy màu.
Nếu được đặt chân đến một hòn đảo ngoài khơi xa lắc, chưa ai đến, em sẽ được chứng kiến nhiều điều kì diệu:
- Cây cối xanh um, cao lớn với nhiều hình dáng, kích thước
- Các loài hoa, loài quả to lớn, có màu sắc rực rỡ
- Các loài động vật kì thú, có bộ lông sặc sỡ, có tiếng kêu, tiếng hót kì lạ
Đọc văn bản 1
Câu 1 (trang 32 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Thời gian, địa điểm diễn ra câu chuyện có gì đặc biệt?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn đầu văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Thời gian: ngày xửa ngày xưa.
- Địa điểm: ở một nhà kia.
=> Thời gian và địa điểm không xác định, đây là mô típ chung của các truyện cổ tích dân gian.
- Thời gian: ngày xửa, ngày xưa.
- Địa điểm: một nhà kia.
Thời gian: ngày xửa, ngày xưa → thời gian không cụ thể và cách đây rất lâu
Địa điểm: một ngôi nhà kia
Thời gian: ngày xửa ngày xưa
Địa điểm: ở một nhà kia
=> Thời gian, không gian phiếm chỉ, không xác định.
Đọc văn bản 2
Video hướng dẫn giải
Câu 2 (trang 32 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ chi tiết vợ chồng cư xử với chim và dự đoán.
Lời giải chi tiết:
Vợ chồng người em tốt bụng, ngày nào cũng cho chim ăn, em dự đoán chú chim kia sẽ trả ơn huệ này cho vợ chồng họ.
Chim sẽ báo đáp lại vợ chồng người em vì họ đã cho chim ăn khế chín.
Chim ăn hết khế trên cây rồi bay đi nơi khác, khiến gia đình người em không còn gì để ăn
Chim ăn khế thì sẽ đem đến một cái khác để trao đổi với gia đình người em, giúp họ có cuộc sống tốt hơn
Chim ăn quá nhiều sẽ hết mất quả khế. Người vợ đứng đợi con chi ăn khế xong, liền cầu xin nó không ăn khế nữa.
Đọc văn bản 3
Video hướng dẫn giải
Câu 3 (trang 32 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Tưởng tượng một hang lớn đầy vàng, kim cương,… trông thế nào?
Phương pháp giải:
Dùng trí tưởng tượng và trình bày suy nghĩ.
Lời giải chi tiết:
Một hang lớn đầy những sản vật quý như vàng, kim cương, thủy tinh, hổ phách… trông sẽ chói sáng, đẹp đẽ, tỏa sáng cả một vùng trời.
Một hang lớn đầy vàng, kim cương, thủy tinh, hổ phách, … trông lấp lánh, đầy màu sắc.
Đó là một cái hang động khổng lồ, bên trong vàng, kim cương, thủy tinh, hổ phách chồng chất lên nhau thành từng ngọn núi nhỏ, bám đầy trên vách tường, lối đi, phát ra ánh sáng lấp lánh, chói chang
Tưởng tượng: Hang động rất rộng lớn, lại lấp lánh ánh sáng của vàng, kim cương…
Đọc văn bản 4
Video hướng dẫn giải
Câu 4 (trang 34 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Cái túi của vợ chồng người anh sẽ gây ra điều gì?
Phương pháp giải:
Nhớ lại xem con chim yêu cầu cái túi kích thước như thế nào và người anh may cái túi ra sao.
Lời giải chi tiết:
Cái túi của vợ chồng người anh sẽ gây ra tai họa vì nó quá to, vượt quá sức nặng mà con chim có thể chở được.
Cái túi quá to nên khi đựng đầy vàng và kim cương chim sẽ bay lượn khó khăn, có thể dẫn đến kết cục xấu.
Cái túi của vợ chồng người anh quá to so với lời chim dặn. nếu hắn lấp đầy cái túi đó thì cân nặng sẽ rất lớn, chim sẽ không thể chở được, lúc này có hai trường hợp có thể xảy ra:
- Người anh bị bỏ lại đảo vàng một mình
- Trên đường về, do quá nặng, người anh sẽ bị rớt xuống
Cái túi may quá to so với yêu cầu của con chim, người anh sẽ mang nhiều kim cương, vàng bạc về khiến chim không thể bay được, rơi xuống biển.
Sau khi đọc 1
Câu 1 (trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Cây khế kể về chuyện gì? Em thích nhất chi tiết nào trong truyện?
Phương pháp giải:
Nhớ lại nội dung và chọn chi tiết mà em thích nhất, nêu lí do.
Lời giải chi tiết:
- Cây khế kể về chuyện người em hiền lành có cây khế được chim ăn, báo ân bằng việc trả vàng còn người anh tham lam đem đổi gia sản lấy cây khế của em để rồi cuối cùng chết vì lấy quá nhiều vàng.
- Em thích nhất chi tiết con chim cất lời đáp trả người em, vì điều đó cho thấy sự ân tình, ân nghĩa trong con vật và cũng chứa đựng nhiều màu sắc thần kì.
- “Cây khế” kể về chuyện người em hiền lành được báo đáp xứng đáng và người anh tham lam phải chịu kết cục thê thảm khi cùng được chim trả công sau khi ăn khế. Đây là câu chuyện về bài học đền ơn đáp nghĩa, niềm tin ở hiền sẽ gặp lành và may mắn của nhân dân.
- Em thích nhất chi tiết chim đưa người em đến đảo hoang ngoài biển với nhiều loại đá quý, vàng bạc, kim cương lấp lánh, đủ màu sắc.
Cây khế là một trong những câu truyện cổ tích Việt nam được nhiều người yêu thích, đây là một trong những bài học giáo dục cho con người. Với những yếu tố thần kỳ đưa vào câu truyện, tác giả dân gian muốn đem đến một bài học nhẹ nhàng cho con người về tình yêu thương cho gia đình, sự lương thiện, thật thà.
Trong truyện, em thích nhất chi tiết: Khi chim lạ đến ăn khế, câu nói của chim chính là điểm đáng chú ý nhất để lại nhiều suy nghĩ trong người đọc: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang đem đi mà đựng”. Người em tốt bụng chỉ nghĩ chim nói vậy để được ăn khế thôi, nên cũng không suy nghĩ đến chuyện chim sẽ thực hiện đúng lời hứa của mình. Nhưng thật bất ngờ khi mấy hôm sau chim đã quay lại và đưa người em đến hòn đảo vàng bạc như đúng là lời hứa mà chim đã nói vậy. Đó là một điều đáng khen ngợi về đức tính biết giữ lời hứa và trả ơn cho người đã giúp đỡ mình.
- Cây khế kể về câu chuyện xoay quanh 2 người anh em trong 1 nhà nhưng có tính cách đối lập nhau. Người em hiền lành, chăm chỉ, tốt bụng, trung thực được hưởng hạnh phúc, ấm no, còn người anh xấu xa, tham lam, độc ác thì nhận hậu quả nặng nề. Qua đó, tác giả dân gian thể hiện niềm tin vào chân lí ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão trong cuộc sống.
- Chi tiết em thích:
+ Chi tiết con chim chở người em đến hòn đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc
+ Chi tiết người anh xấu xa rơi xuống biển, bị sóng cuốn đi cùng tay nải vàng và châu báu
Sau khi đọc 2
Video hướng dẫn giải
Câu 2 (trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Hãy tóm tắt truyện Cây khế.
Phương pháp giải:
Nhớ lại nội dung, lọc ra các tình tiết chính và tóm tắt truyện.
Lời giải chi tiết:
Ngày xưa, ở gia đình nọ có hai anh em, cha mẹ mất sớm và để lại cho anh em một khối gia tài. Vợ chồng người anh tham lam giành hết chỉ chừa lại cho người em một mảnh vườn nhỏ có cây khế. Vợ chồng người em chăm chỉ làm ăn và chăm sóc cây khế chu đáo. Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Bỗng một hôm có con chim lạ đến ăn khế. Người em than khóc và đại bàng liền bảo người em may túi ba gang để chim trả ơn. Chim đưa người em ra đảo lấy vàng và người em trở nên giàu có nhất vùng. Người anh hay tin, lân la đến dò hỏi và đổi cả gia tài của mình để lấy mảnh vườn có cây khế. Đến mùa khế chín, chim đại bàng lại đến và cũng ngỏ ý sẽ trả ơn. Người anh vì tham lam nên đã may túi to để dựng được nhiều vang. Trên đường đi lấy vàng về vì quá nặng nên người anh đã bị rơi xuống biển và chết.
Ngày xưa ở một nhà kia có hai anh em, cha mẹ mất sớm để lại cho một khối gia tài. Vợ chồng người anh tham lam giành hết chỉ chừa lại cho người em một gian nhà lụp xụp, trước cửa có một cây khế ngọt. Vợ chồng người em chăm chỉ làm ăn và chăm sóc cây khế chu đáo. Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Bỗng một hôm có con chim lạ đến ăn khế. Vợ chồng người em than thở và chim lạ liền bảo người em may túi ba gang để chim trả ơn. Hôm sau, chim đưa người em ra đảo lấy vàng và trở về. Từ đó, người em trở nên giàu có. Người anh hay tin, lân la đến dò hỏi và đổi cả gia tài của mình để lấy túp lều cùng cây khế. Đến mùa khế chín, chim đại bàng lại đến và cũng ngỏ ý sẽ trả ơn. Người anh vì tham lam nên đã may túi to để dựng được nhiều vàng. Trên đường đi lấy vàng về vì quá nặng nên người anh đã bị rơi xuống biển và chết.
Gia đình nọ có hai anh em, cha mẹ mất sớm và để lại cho anh em một khối gia tài. Vợ chồng người anh tham lam giành hết chỉ chừa lại cho người em một mảnh vườn nhỏ có cây khế. Vợ chồng người em chăm chỉ làm ăn và chăm sóc cây khế chu đáo. Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Bỗng một hôm có con chim lạ đến ăn khế. Người em than khóc và đại bàng liền bảo người em may túi ba gang để chim trả ơn. Chim đưa người em ra đảo lấy vàng và người em trở nên giàu có nhất vùng.
Người anh hay tin, lân la đến dò hỏi và đổi cả gia tài của mình để lấy mảnh vườn có cây khế. Đến mùa khế chín, chim đại bàng lại đến và cũng ngỏ ý sẽ trả ơn. Người anh vì tham lam nên đã may túi to để dựng được nhiều vang. Trên đường đi lấy vàng về vì quá nặng nên người anh đã bị rơi xuống biển và chết.
Câu chuyện kể về hai anh em trai xoay quanh cây khế ngọt. Người anh là kẻ lười biếng lại tham lam, đã chiếm hết gia sản, đuổi vợ chồng người em ra khỏi nhà, chỉ cho một túp lều cũ và cây khế ngọt. Tuy vậy, hai vợ chồng người em vẫn làm việc chăm chỉ, không một lời kêu ca. Năm ấy, khế rất sai trái, nên đã thu hút một con chim lớn đến ăn. Để trả công cho hai vợ chồng, nó đã chở người em ra đảo dấu rất nhiều vàng. Nhờ thế, hai vợ chồng người em được sống cuộc sống giàu sang và hạnh phúc. Người anh thấy thế, lòng tham nổi lên, đòi đổi hết gia sản lấy cây khế. Sau đó, hắn bắt chước người em kêu ca với chim và được chở ra đảo giấu vàng. Tuy nhiên, do quá tham lam, hắn nhặt quá nhiều vàng bạc, khiến chim khó bay nổi, lại gặp mưa dông nên rơi xuống biển, bị sóng cuốn trôi. Thật đáng đời cho kẻ gian ác.
Sau khi đọc 3
Video hướng dẫn giải
Câu 3 (trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Truyện cổ tích thường mở đầu bằng những từ ngữ quen thuộc chỉ thời gian trong quá khứ, không gian không xác định. Hãy tìm các từ ngữ đó trong truyện cây khế.
Phương pháp giải:
Đọc lại văn bản và lọc ra các từ ngữ chỉ thời gian, không gian.
Lời giải chi tiết:
Các từ ngữ chỉ thời gian trong quá khứ, không gian không xác định trong truyện cây khế: Ngày xửa ngày xưa, nhà nọ, hang sâu.
- Từ ngữ chỉ không gian – thời gian trong truyện cổ tích “Cây khế”:
+ Thời gian: ngày xửa ngày xưa.
+ Không gian: ở một nhà kia.
- Ý nghĩa: có ý phiếm chỉ không gian, thời gian xảy ra câu chuyện, nhằm đưa người đọc vào thế giới hư cấu thuận lợi hơn.
Truyện cổ tích thường mở đầu bằng những từ ngữ quen thuộc chỉ thời gian trong quá khứ, không gian không xác định. Các từ ngữ đó trong truyện cây khế: Ngày xửa ngày xưa.
- Các từ ngữ quen thuộc chỉ thời gian trong quá khứ, không gian không xác định trong truyện Cây khế là:
+ Từ chỉ thời gian trong quá khứ không xác định: "ngày xửa ngày xưa"
+ Từ chỉ không gian không xác định: "ở một nhà kia"
- Nhận xét: đây là công thức mở đầu, có ý nghĩa phiếm chỉ không gian và thời gian - nơi xảy ra câu chuyện, nhằm đưa người đọc vào một thế giới giới hư cấu
Sau khi đọc 4
Video hướng dẫn giải
Câu 4 (trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang có phải là con vật kỳ ảo không? Vì sao?
Phương pháp giải:
Suy nghĩ về đặc điểm của con chim và trả lời.
Lời giải chi tiết:
- Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang là con vật kỳ ảo.
- Chim thần nói “ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi mà đựng”. Chim đến ăn khế và biết nói, biết trả ơn cho con người, biết chở con người đến chỗ lấy vàng.
- Tác giả dân gian xây dựng tình huống truyện cùng với yếu tố kỳ ảo chim thần vì để cho người nhân vật người em được nhận một món quà vô cùng giá trị, nhưng đó cũng là những gì vợ chồng người em xứng đáng nhận được.
- Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang là con vật kì ảo. Vì nó mang 1 số đặc điểm như:
+ Biết nói tiếng người: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!”
+ Có phép thần kì, biết chỗ cất giấu của cải, vàng bạc, kim cương,…
Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang là con vật kỳ ảo.Chim thần nói “ ăn một quả trả một cục vang, may túi ba gang mang đi mà đựng”. Lời nói của chim tưởng đâu là bâng quơ nhưng người em tin là thật và đã thức đêm chuẩn bị chiếc túi ba gang như lời chim dặn. Sáng hôm sau, con chim đến chở người em ra đảo, một hòn đảo có rất nhiều vàng. Tác giả dân gian xây dựng tình huống truyện cùng với yếu tố kỳ ảo chim thần vi để cho người nhân vật người em được nhận một món quà vô cùng giá trị, nhưng đó cũng là những gì vợ chồng người em xứng đáng nhận được. Đây cũng là lời khẳng định cho một giá trị nhân văn rằng: người tốt nhất định sẽ được báo đáp và ở hiền chắc chăn sẽ gặp lành.
- Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang là một con vật kì ảo, thuộc danh sách nhân vật có lực lượng thần kì trong thế giới truyện cổ tích, có chức năng ban thưởng cho nhân vật tốt và trừng phạt nhân vật xấu
- Các đặc điểm giúp xác định con chim trong câu chuyện là nhân vật kì ảo:
+ Biết nói tiếng người (trò chuyện với hai anh em)
+ Sở hữu vật thần kì (vàng bạc, châu báu để đổi khế của hai anh em)
+ Có phép thần kì (biết chỗ giấu của cải, vàng bạc)
Sau khi đọc 5
Video hướng dẫn giải
Câu 5 (trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Trong lời kể của truyện cổ tích, tác giả dân gian thường xen vào những câu có dáng dấp ca dao, tục ngữ, lời có vần dễ thuộc, dễ nhớ. Trong truyện này, có câu nói nào như thế? Nhân vật nào đã nói câu nói đó?
Phương pháp giải:
Đọc lại văn bản và tìm các chi tiết, câu nói có dáng dấp ca dao, tục ngữ, lời có vần dễ thuộc, dễ nhớ.
Lời giải chi tiết:
- Trong lời kể của truyện cổ tích, tác giả dân gian thường xen vào những câu có dáng dấp ca dao, tục ngữ, lời có vần dễ thuộc, dễ nhớ. Trong truyện này, cũng có câu như thế "Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng". Đây là câu nói của chim thần.
- Câu nói của con chim lớn: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!” là câu có vần, dễ thuộc, dễ nhớ.
- Ngày nay, câu “ăn một quả, trả cục vàng” hay “ăn khế, trả vàng” cũng thường được nhân dân dùng để chỉ một việc làm được trả công hậu hĩnh, có kết quả tốt đẹp.
Trong lời kể của truyện cổ tích, tác giả dân gian thường xen vào những câu có dáng dấp ca dao, tục ngữ, lời có vần dễ thuộc, dễ nhớ. Trong truyện này, cũng có câu như thế "Ăn một quả, trả một cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng". Đây là câu nói của chim thần.
Câu nói có dáng dấp ca dao, tục ngữ, lời có vần dễ thuộc, dễ nhớ là: "Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng"
Nhân vật đã nói câu này là con chim lớn
Sau khi đọc 6
Video hướng dẫn giải
Câu 6 (trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Đảo xa nơi con chim đưa người em đến có điều gì kì diệu? Điều kì diệu này đã giúp gì cho cuộc sống của người em sau đó?
Phương pháp giải:
Chú ý đoạn văn viết về đảo xa, liệt kê những chi tiết kì lạ trên đảo.
Lời giải chi tiết:
Đảo xa nơi con chim đưa người em đến có điều gì kì diệu. Đó là hòn đảo xa có rất nhiều vàng. Hai vợ chồng từ đó sống sung túc hơn, có ruộng vườn nhà cửa, cuộc sống bớt đi những vất vả. Chi tiết tưởng tượng, kỳ ảo về chú chim phượng hoàng ăn khế trả vàng là một chi tiết đặc sắc trong câu chuyện.
- Điều kì diệu ở đảo xa: trên đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc, … toàn những thứ đá trong như thủy tinh và hổ phách đủ các màu. Có hang sâu và rộng, ngoài cửa có nhiều vàng và kim cương.
- Điều kì diệu này đã giúp cho vợ chồng người em dần trở nên giàu có.
Đảo xa nơi con chim đưa người em đến có điều gì kì diệu. Đó là hòn đảo xa có rất nhiều vàng. Hai vợ chồng từ đó sống sung túc hơn, có ruộng vườn nhà cửa. Chi tiết tưởng tượng, kỳ ảo về chú chim phượng hoàng ăn khế trả vàng là một chi tiết đặc sắc trong câu chuyện. Đó là chi tiết li kỳ giúp cho câu chuyện trở nên hấp dẫn và lôi cuốn. Không những thế, thông qua chi tiết này, tác giả dân gian thể hiện một triết lý sâu sắc. Chỉ cần chăm chỉ, ở hiền ắt sẽ gặp lành. Vợ chồng người em là biểu tượng của người dân lao động xưa luôn chăm chỉ, chịu thương chịu khó và hiền lành nên đã đạt được thành quả tốt đẹp.
- Điều kì diệu nơi đảo xa con chim đưa người em đến là:
+ toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc
+ có một cái hang toàn các thứ đá trong như thủy tinh và hổ phách đủ các màu
+ ở ngoài hang có đầy vàng và kim cương
- Điều kì diệu này đã giúp hai vợ chồng người em trở nên giàu có
Sau khi đọc 7
Video hướng dẫn giải
Câu 7 (trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Trong truyện, hai nhân vật người anh và người em luôn đối lập nhau về hành động. Hãy chỉ ra sự đối lập giữa họ và nêu nhận xét về đặc điểm của hai nhân vật này.
Phương pháp giải:
Theo dõi văn bản, liệt kê sự đối lập giữa hai nhân vật về hành động của họ.
Lời giải chi tiết:
Trong truyện, hai nhân vật người anh và người em luôn đối lập nhau về hành động. Sự đối lập đó là:
- Người anh: Nhân vật người anh là hình ảnh tiêu biểu cho những kẻ tham lam, ích kỉ.
+ Người anh là người ích kỉ và keo kiệt, khi cha mẹ qua đời anh ta đã chiếm hết mọi ruộng đất và chỉ để lại cho người em mỗi túp lều và cây khế.
+ Người anh tham lam khi may túi 12 gang để đi cùng chim lấy vàng.
=> Cái chết của người anh là lời cảnh báo cho những kẻ tham lam, chỉ muốn ăn mà không muốn làm, sống cạn tình nghĩa.
- Người em: Nhân vật người em là hình ảnh tiêu biểu cho những người tốt bụng, thật thà, lương thiện.
+ Người em hiền lành, tốt bụng và nhường hết nhà cửa ruộng vườn cho anh.
+ Khi chim ăn khế, người em nhường cho chim ăn mà không hề đánh đuổi.
+ Vì tốt bùng, thật thà nên người em đã chia sẻ câu chuyện của mình với mọi người và đặc biệt là anh trai của mình.
+ Khi anh trai nổi long tham muốn đổi gia tài của mình để lấy cây khế ngọt, người em cũng sẵn sàng chia sẻ điều đó với anh trai của mình.
=> Hai vợ chồng người em được sống sung túc hơn, có ruộng vườn nhà cửa là cái kết có hậu cho những người "ở hiền gặp lành".
|
Nhân vật Đặc điểm |
Người anh |
Người em |
|
Hành động |
+ Lười biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc đều trút cho vợ chồng em. + Chiếm hết của cải, ruộng vườn chỉ để lại cho em một gian nhà lụp xụp và 1 cây khế ngọt. + Thấy chim lạ đến thì hớt hải chạy ra. + Tru tréo lên: “Cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn ráo ăn tiệt thì tôi cậy vào đâu”. + Cuống quýt bàn cãi may túi. Mới đầu định mang nhiều túi nhưng sợ chim không ưng nên chỉ may 1 túi nhưng to gấp 3 lần túi của người em. + Người chồng tót ngay lên lưng chim còn người vợ vái lấy, vái để chim thần. + Hoa mắt vì của quý. Vào trong hang lại càng mê mẩn tâm thần, quên đói, quên khát, cố nhặt vàng và kim cương cho thật đầy tay nải, dồn cả vào ống tay áo, ống quần, lê mãi mới ra khỏi hang. Đặt tay nải dưới cánh chim rồi lấy dây buộc chặt vào lưng chim và cổ mình. |
+ Thức khuya, dậy sớm, cố gắng làm lụng. + Không ta thán. + Đợi cho chim ăn xong bay đi mới lên cây hái. + Người vợ nói: “Ông chim ơi, ông ăn như thế còn gì là khế của nhà cháu nữa! Cây khế nhà cháu cũng sắp hết quả rồi đấy, ông ạ!” + Nghe lời chim may một túi vải, bề dọc, bề ngang vừa đúng ba gang. + Trèo lên lưng chim. + Thấy hang sâu và rộng không dám vào chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài rồi ra hiệu cho chim bay về. |
|
Kết cục |
Vì mang nặng lại gặp cơn gió mạnh nên chim và người anh đều rơi xuống biển. Người anh bị sóng cuốn đi mất. |
Chim đưa người em về đến nhà. Từ đấy, hai vợ chồng người em trở nên giàu có. |
Trong truyện, hai nhân vật người anh và người em luôn đối lập nhau về hành động. Sự đối lập đó là:
- Người anh: Nhân vật người anh trong câu chuyện cổ tích Cây khế là hình ảnh tiêu biểu cho những kẻ tham lam, ích kỉ.
Người anh là người ích kỉ và keo kiệt, khi cha mẹ qua đời anh ta đã chiếm hết mọi ruộng đất và chỉ để lại cho người em mỗi túp lều và cây khế. Bao nhiêu ruộng đất chiếm được, anh ta cho cày thuê nên ngày càng giàu có hơn. Bộ dáng tham lam của anh ta khi tranh ruộng đất với em mình thật khác hẳn với bộ dáng anh ta xun xoe, nịnh nọt người em đổi cho cây khế ngọt để lấy vàng. Anh ta mặc bộ quần áo thùng thình, vai khoác chiếc túi mười hai gang cùng cái bụng phệ loay hoay leo lên lưng chim ra đảo lấy vàng. Nhìn thấy nhiều vàng trên đảo, đôi mắt híp của anh ta sáng rực lên, bộ dạng hấp tấp, tham lam vơ vét, cố ních, cố nhét vào túi và ì ạch vác túi vàng nặng trĩu trên vai leo lên lưng chim để trở về. Nhưng rồi cuối cùng con người tham lam, ích kỉ ấy đã chới với trên lưng chim rồi lăn xuống biển.
Cái chết của người anh là lời cảnh báo cho những kẻ tham lam, chỉ muốn ăn mà không muốn làm, sống cạn tình nghĩa.
- Người em: Nhân vật người em trong câu chuyện cổ tích Cây khế là hình ảnh tiêu biểu cho những người tốt bụng, thật thà, lương thiện
Người em hiền lành, tốt bụng và rất yêu mến anh trai của mình. Khi cha mẹ qua đời, nhà cửa ruộng vườn đều thuộc về anh. Người em chỉ có một túp lều nhỏ và một cây khế ở cuối vườn. Biết phận mình là em nên không dám đòi hỏi gì hơn, người em chỉ ngày ngày chắm chút cho cây khế, mong cây đơm quả ngọt. Điều may đến, người em được chim lạ đưa đi lấy vàng và có một cuộc sống sung túc. Vì tốt bùng, thật thà nên người em đã chia sẻ câu chuyện của mình với mọi người và đặc biệt là anh trai của mình. Khi anh trai nổi long tham muốn đổi gia tài của mình để lấy cây khế ngọt, người em cũng sẵn sàng chia sẻ điều đó với anh trai của mình.
Hai vợ chồng người em được sống sung túc hơn, có ruộng vườn nhà cửa là cái kết có hậu cho những người "ở hiền gặp lành".
| Người anh | Người em |
|
- Lười biếng, trút hết công việc cho vợ chồng người em - Đa nghi, toan tính, đuổi vợ chồng em ra riêng, chiếm hết gia sản - Thấy em giàu có nhờ cây khế liền tham lam đòi đổi cây khế - Thấy chim ăn trái thì chim đang ăn đã vội lao ra tru tréo để đòi được chở đi tìm vàng - Lấy rất nhiều vàng còn siết cả vào cổ và cánh chim |
- Chăm chỉ làm lụng, thức khuya dậy sớm - Bị đuổi ra ngoài, chỉ được nhận một túp lều lụp xụp và cây khế ngọt vẫn không oán thán, tiếp tục chăm chỉ làm việc - Thấy chim ăn trái thì chờ chim ăn xong mới hái trái, thấy chim ăn nhiều quá mới ra than thở lễ phép với chim - Chỉ lấy số vàng vừa đủ để dùng, đúng lời chim dặn |
| → Kết cục: rớt xuống biển và chết | → Kết cục: có cuộc sống giàu sang, hạnh phúc |
| → Nhận xét: người anh là nhân vật lười biếng, tham lam, ích kỉ, chỉ biết nghĩ cho mình | → Nhận xét: người em là nhân vật hiền lành, chăm chỉ, giàu tình cảm và tốt bụng, trung thực |
Sau khi đọc 8
Video hướng dẫn giải
Câu 8 (trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2)
Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân gian muốn gửi gắm bài học gì trong truyện này?
Phương pháp giải:
Từ kết thúc truyện, trình bày bài học đạo đức mà tác giả gửi gắm.
Lời giải chi tiết:
- Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân gian muốn gửi gắm bài học về đền ơn đáp nghĩa, niềm tin ở hiền sẽ gặp lành và may mắn đối với tất cả mọi người.
- Câu truyện ăn khế trả vàng còn mang tính giáo dục cho trẻ nhỏ để hình thành những đức tính tốt cho cuộc sống sau này.
Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân gian muốn gửi gắm bài học:
+ Cần phải luôn chăm chỉ, cần mẫn lao động thì mới có được thành quả tốt
+ Hiền lành, tốt bụng thì sẽ được đền đáp xứng đáng.
+ Quá tham lam thì sẽ phải gánh chịu hậu quả.
+ Hãy giúp đỡ người khác khó khăn hơn mình.
Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân gian muốn gửi gắm bài học về đền ơn đáp nghĩa, niềm tin ở hiền sẽ gặp lành và may mắn đối với tất cả mọi người. Câu truyện ăn khế trả vàng còn mang tính giáo dục cho trẻ nhỏ để hình thành những đức tính tốt cho cuộc sống sau này.
- Kết cục khác nhau của người anh và người em:
+ Người anh: rơi xuống biển, bị ngọn sóng cuốn đi với tay nải vàng và châu báu đầy người
+ Người em: được sống cuộc sống hạnh phúc, giàu có
⇒ Tác giả dân gian thể hiện mong muốn về một xã hội công bằng, người tốt sẽ được báo đáp, kẻ xấu thì bị trừng trị.
⇒ Từ đó gửi gắm bài học:
+ cần phải chăm chỉ làm việc, không được lười biếng
+ cần phải trung thực, sống giàu tình yêu thương, biết giúp đỡ người khác, không được tham lam, ích kỉ
Viết kết nối với đọc
Video hướng dẫn giải
Tưởng tượng ra một kết thúc khác cho chuyện Cây khế. Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) kể về kết thúc đó.
Phương pháp giải:
Viết đoạn văn đáp ứng hình thức theo yêu cầu và tưởng tượng một kết thúc khác trong văn bản để viết.
Lời giải chi tiết:
Sau khi bị rơi xuống biển, người anh trôi dạt vào bờ. Được cứu sống trong tình trạng thê thảm và trở về. Từ đó, người anh hiểu ra hậu quả do thói tham lam gây nên và sống tử tế, nhân hậu hơn. Chứng kiến người anh đã thức tỉnh, người em trai hết lòng giúp đỡ anh. Không còn là người lười biếng, mưu lợi, người anh trai trân trọng, biết ơn người em. Cuộc sống của người anh cũng ngày một tốt hơn nhờ sự lao động chăm chỉ, cần mẫn của chính mình.
Sau khi bị rơi xuống biển, người anh trôi dạt vào bờ. Tỉnh lại được người dân cứu giúp và đưa trở về nhà trong tình trạng thê thảm. Từ đó, người anh hiểu ra hậu quả do thói tham lam gây nên và sống tử tế, nhân hậu hơn. Chứng kiến người anh đã thức tỉnh, người em trai hết lòng giúp đỡ anh vực dậy, cùng nhau chia ruộng đất, lao động cần mẫn, chăm chỉ và yêu thương nhau hơn xưa. Thấm thoát cả hai anh em cùng trở nên khá giả. Họ đã bàn với nhau để dành một phần riêng thóc gạo giúp đỡ những người nghèo khổ. Tiếng lành đồn xa, ai ai cũng yêu quý hai anh em nhà ấy.
Một hôm người anh nghe mọi người trong vùng bàn tán xôn xao về sự giàu có bất ngờ của người em.. Sau khi nghe ngóng được toàn bộ câu chuyện, như một giấc mơ, anh vội vàng đề nghị người em đổi cả gia tài của mình để lấy cây khế của. Người anh làm đúng như người em đã làm, chăm sóc cây khế đến ngày hái quả. Hôm ấy, cả đàn chim Thần đến ăn khế. Người anh ngồi dưới gốc cây giả vờ than khóc. Quả nhiên con chim đầu đàn bảo người anh hãy mang túi ba gang để đựng vàng. Người anh chợt nghĩ, dại gì không may túi lớn hơn để đựng được nhiều vàng. Do đó, người anh đã may túi 12 gang. Đến đảo, hắn thấy vàng bày la liệt, hắn tha hồ hốt đầy túi và nhét thêm vào người. Trên đường về giữa biển, chim mỏi cánh van nài người anh bỏ bớt. Hắn tiếc quá không bỏ được, chim không thể gượng nổi chao nghiêng cánh. Thế là người anh cùng túi vàng rơi xuống và không còn biết gì nữa cả.
Tỉnh lại người anh thấy mình nằm trên một hòn đảo. Có lẽ hắn đã bị sóng đánh dạt vào bờ. Trải qua sự việc này, người anh thấy mình thật dại dột đã để lòng tham làm mờ lí trí, hắn đã rút ra được bài học đích đáng cho mình. Từ đó, hắn phải sống cô đơn, lẻ loi trên hoang đảo đến suốt đời.
- Nhắc lại kết thúc hiện đang có của câu chuyện cây khế
+ Người em: sống hạnh phúc, giàu có cùng vợ ở làng
+ Người anh: bị rơi xuống biển, sóng lớn nhấn chìm rồi mất tích
- Tạo ra một kết thúc mới nối tiếp cho nhân vật. Gợi ý:
+ Người anh: không chết mà được sóng đưa vào bờ, nhận thức được sai lầm của mình và làm lại cuộc đời, trở nên chăm chỉ, lương thiện nên được mọi người yêu quý
+ Người em: ra khơi tìm anh trai, đưa anh trở về nhà và chăm sóc chú đáo, người anh xấu hổ và nhận ra sai lầm của bản thân, quyết tâm thay đổi trở thành người anh tốt
Bài đọc
- Soạn bài Thực hành Tiếng Việt trang 35 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Vua chích chòe SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Kể lại một truyện cổ tích bằng lời một nhân vật SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Củng cố, mở rộng Bài 7 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 6 - Kết nối tri thức - Xem ngay
Các bài khác cùng chuyên mục
- Soạn bài Ôn tập Học kì 2 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Về đích: Ngày hội với sách SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thách thức thứ hai: Sáng tạo cùng tác giả. SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thách thức đầu tiên: Mỗi ngày một cuốn sách SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Củng cố, mở rộng Bài 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Ôn tập Học kì 2 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Về đích: Ngày hội với sách SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thách thức thứ hai: Sáng tạo cùng tác giả. SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Thách thức đầu tiên: Mỗi ngày một cuốn sách SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết
- Soạn bài Củng cố, mở rộng Bài 9 SGK Ngữ văn 6 tập 2 Kết nối tri thức với cuộc sống chi tiết





Danh sách bình luận