Đề thi học kì 1 Ngữ Văn 11 - Kết nối tri thức

Đề thi học kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 9

Tải về

TÚ UYÊN – GIÁNG KIỀU (Trích) Lần trăng ngơ ngẩn ra về, Đèn thông khêu cạn, giấc hoè ­­­(1) chưa nên. Nỗi nàng canh cánh nào quên,

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề thi

I. ĐỌC HIỂU 

Đọc văn bản sau:

TÚ UYÊN – GIÁNG KIỀU

(Trích)

Lần trăng ngơ ngẩn ra về,

Đèn thông khêu cạn, giấc hoè ­­­(1) chưa nên.

Nỗi nàng canh cánh nào quên,

Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là!

Bướm kia vương lấy sầu hoa,

Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh!

Có khi gảy khúc đàn tranh,

Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân.

Cầu hoàng tay lựa nên vần,

Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào!

Có khi chuốc chén rượu đào,

Tiệc mời chưa cạn, ngọc giao đã đầy.

Hơi men không nhấp mà say,

Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình.

Có khi ngồi suốt năm canh,

Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kình nện sương.

Lặng nghe những tiếng đoạn trường,

Lửa tình dễ đốt, sông Tương khôn hàn.

Có đêm ngắm bóng trăng tàn,

Tiếng chiêm hót sớm, trận nhàn bay khuya.

Ngổn ngang cảnh nọ tình kia,

Nỗi riêng, riêng biết, dã dề (10) với ai!

Vui xuân chung cảnh một trời,

Sầu xuân riêng nặng một người tương tư

(Bích Câu kì ngộ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2015)

Chú thích:

(1) Giấc hoè: ở đây chỉ giấc mơ (dựa theo điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm ngủ dưới gốc cây hoè, rồi mơ thấy mình ở nước Hoà An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển, khi tỉnh dậy thì hoá ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hoè phía nam chỉ có một tổ kiến).

(2) Hoài nhân: nhớ người.

(3) Cầu hoàng: khúc đàn cầu hôn (tìm vợ) của Tư Mã Tương Như (bậc văn tài thời Hán, gảy đàn rất hay).

(4) Văn Quân: Trác Văn Quân là một cô gái đẹp góa chồng, nghe khúc Cầu hoàng của Tương Như, phải lòng đi theo.

(5) Ngọc giao: mời nhau rượu đựng trong chén ngọc để kết giao.

(6) Mõ quyên: mõ khắc hình chim đỗ quyên.

(7) Chuông kình: cái chuông có dài làm thành hình con cá kình (cá voi).

(8) Sông Tương: chỉ nước mắt (Dựa theo điển tích vua Thuấn mất ở Thương Ngô, hai người vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh cùng thương khóc thảm thiết ở trên sông Tương Giang, vì vậy, người ta dùng sông Tương hay mạch Tương, sóng Tương để ví với nước mắt).

(9) Trận nhàn: hàng chim nhạn. Xưa, chim hồng, chim nhạn thường được dùng để nói về tin tức.

(10) Dã dề: chuyện trò niềm nở, thân tình

Tóm tắt tác phẩm: Chuyện kể về một thư sinh ở vào đời Lê Thánh Tông tên gọi Trần Tú Uyên. Cha mẹ mất sớm, chàng dựng nhà ở giữa hồ Bích Câu để chuyên tâm đèn sách. Trong một dịp tình cờ, khi đi hội ở chùa Ngọc Hồ, Tú Uyên gặp được một cô gái đẹp như tiên giáng trần, bèn đi theo thì nàng chợt biến mất không rõ tung tích, nên chàng mắc bệnh tương tư. Sau đó, Tú Uyên mua được một bức tranh vẽ hình mĩ nữ hệt như người chàng đã gặp, mang về treo trong nhà. Một thời gian sau, lúc nào từ trường về nhà, Tú Uyên cũng thấy cơm nước sẵn sàng. Chàng rình xem, thấy mĩ nhân trong tranh bước ra, vội chạy vào chào hỏi. Người con gái xưng là tiên nữ Giáng Kiều, nguyện cùng chàng kết nhân duyên. Hai người sống với nhau hạnh phúc được ba năm, song Tú Uyên dần trở nên nghiện rượu. Giáng Kiều khuyên chồng không được, bèn bỏ về tiên giới. Tú Uyên hối hận, sinh ra sầu não, đau ốm, định quyên sinh. Đúng lúc ấy, Giảng Kiều hiện ra, tha lỗi cho chồng, hai vợ chồng nối lại duyên xưa. Từ đó, Tú Uyên nghe lời vợ chuyên tâm tu đạo. Cuối cùng, có đôi chim hạc từ trên mây bay xuống đưa hai vợ chồng về cõi tiên.

Lựa chọn đáp án đúng:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản 

Câu 2. Liệt kê những hành động, cử chỉ mà nhân vật Tú Uyên làm để giãi bày nỗi nhớ người đẹp. 

Câu 3. Theo em, nhân vật Tú Uyên hiện lên qua đoạn trích là người như thế nào?

Câu 4. Phân tích giá trị biểu đạt của một biện pháp tu từ nổi bật được sử dụng trong đoạn thơ được in đậm trong văn bản trên. 

Câu 5. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) so sánh hai đoạn thơ nói về tâm trạng tương tư của Tú Uyên trong Bích Câu kì ngộ và của Kim Trọng trong Truyện Kiều:

- Lần trăng ngơ ngẩn ra về,

Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên.

Nỗi nàng canh cánh nào quên,

Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là?

(Bích Câu kì ngộ)

- Chàng Kim từ lại thư song

Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

(Truyện Kiều)

II. VIẾT

Dựa vào nội dung của văn bản trên và những hiểu biết về truyện thơ Nôm, em hãy viết bài văn phân tích, đánh giá về đoạn trích truyện thơ Nôm trên. 

HẾT 

Đáp án

Câu 1:

Phương pháp:

Căn cứ vào các đặc điểm hình thức để xác định thể thơ được sử dụng 

Cách giải:

Văn bản sử dụng thể thơ lục bát 

Câu 2: 

Phương pháp:

Đọc kĩ văn bản để tìm các chi tiết phù hợp 

Cách giải:

Những hành động, cử chỉ của Tú Uyên để giãi bày nỗi nhớ: Gẩy đàn tranh, uống chén rượu đào, ngồi suốt năm canh, ngắm bóng trăng tàn.  

Câu 3: 

Phương pháp:

Căn cứ vào những chi tiết được sử dụng để khắc hoạ nhân vật 

Cách giải:

Qua đoạn trích, Tú Uyên hiện lên là một chàng thư sinh si tình, đa cảm và thủy chung. Nỗi nhớ người đẹp chi phối toàn bộ sinh hoạt, suy nghĩ và hành động của chàng, từ việc ăn ngủ không yên đến những hành động như gảy đàn, uống rượu, thức đêm... Tất cả đều xuất phát từ một tấm lòng tha thiết, khắc khoải hướng về "người tiên" đã lạc mất.

Câu 4:

Phương pháp:

Vận dụng kiến thức về các biện pháp tu từ để nhận diện và phân tích tác dụng 

Cách giải:

- Biện pháp lặp cấu trúc “Có khi” được lặp lại 4 lần

- Tác dụng:

+ Tạo nhịp điệu: Cấu trúc lặp lại tạo nên một nhịp kể đều đều, da diết

 

+ Nhấn mạnh sự triền miên, day dứt, cho thấy nỗi tương tư đã chiếm trọn mọi khoảnh khắc thời gian, trở thành một nỗi ám ảnh không dứt.

+ Làm nổi bật tính cách nhân vật: Qua chuỗi hành động ấy, hình ảnh một chàng trai si tình, đa sầu đa cảm và vô cùng thủy chung càng trở nên rõ nét và đáng thương.

Câu 5:

Phương pháp:

 

 

Tú Uyên

Kim Trọng

Giống

- Đều là nỗi tương tư, nhớ mong

- Đều thể hiện nỗi nhớ “canh cánh” trong lòng

Khác

- Ngẩn ngơ nhớ về người đẹp

- Không thể gặp lại khiến Tú Uyên ngày càng nhớ mong

- Nhớ đến sầu muộn

- Cảm thấy một ngày dài như “ba thu”, mong chờ để được gặp người yêu.

 

Cách giải:

Cả Tú Uyên trong "Bích Câu kì ngộ" và Kim Trọng trong "Truyện Kiều" đều trải qua nỗi tương tư với những điểm tương đồng và khác biệt thú vị. Về điểm chung, cả hai chàng thư sinh đều mang một nỗi nhớ "canh cánh" trong lòng - cụm từ được cả hai tác giả sử dụng để diễn tả nỗi niềm thường trực, khắc khoải khôn nguôi. Tuy nhiên, sắc thái tâm trạng của mỗi người lại có những nét riêng. Tú Uyên nhớ đến mức "ngơ ngẩn", nỗi nhớ hướng về một "người tiên" mới gặp một lần rồi biến mất không dấu vết, khiến chàng rơi vào trạng thái sầu muộn, bế tắc. Trong khi đó, nỗi nhớ của Kim Trọng lại gắn với sự mong chờ được gặp lại Thúy Kiều. Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng hình ảnh ước lệ "một ngày dài ghê" như "ba thu" để cụ thể hóa cảm giác thời gian kéo dài đằng đẵn trong sự chờ đợi. Như vậy, nếu nỗi tương tư của Tú Uyên là nỗi đau không lối thoát vì đối tượng đã biến mất, thì nỗi tương tư của Kim Trọng lại là niềm khắc khoải hướng về một cuộc hội ngộ trong tương lai. Sự khác biệt này cho thấy cách khai thác tâm lí nhân vật tinh tế của mỗi tác giả.

II. VIẾT

Phương pháp:

1. Giới thiệu chung về tác phẩm và đoạn trích 

- Nội dung chính: Diễn tả tâm tư của Tú Uyên sau khi gặp người đẹp ở hội chùa Ngọc Hồ

- Nhan đề Nỗi niềm tương tư: Nói về hành động, cử chỉ của Tú Uyên nhằm thể hiện nỗi tương tư, nhớ nhung Giáng Kiều một cách mòn mỏi, da diết.

2. Phân tích đoạn trích 

Về nội dung: Tâm trạng tương tư của Tú Uyên

- Khi trở về nhà, chàng đem lòng thương nhớ, tương tư bất kể ngày lẫn đêm:

Lần trăng ngơ ngẩn ra về,

Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên.

Nỗi nàng canh cánh nào quên, 

Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là!

Bướm kia vương lấy sầu hoa,

Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh!

Ta có thể thấy được nét si tình ở chàng Tú Uyên, chỉ vì một giây trông thấy, mà dường như chàng đã cả một đời nhớ thương. Chàng si mê nàng đến nỗi “ngơ ngẩn”, đến nỗi đèn thông cháy đã cạn mà chàng vẫn thao thức chưa ngủ được “giấc hòe chưa nên”. Chàng nghĩ về người con gái xinh đẹp đó phải chăng là tiên nữ, biết bao giờ mới được gặp lại.

- Nỗi nhớ người trong mộng không chỉ được thể hiện ở suy tư của chàng thư sinh mà còn được bộc lộ, thể hiện bằng cử chỉ:

Có khi gảy khúc đàn tranh,

Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân.

Cầu hoàng tay lựa nên vần,

Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào!

Có khi chuốc chén rượu đào, 

Tiệc mời chưa cạn, ngọc giao đã đầy.

Hơi men không nhấp mà say,

Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình.

Có khi ngồi suốt năm canh,

Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kình nện sương.

Lặng nghe những tiếng đoạn trường,

Lửa tình dễ đốt, sông Tương khôn hàn.

Có đêm ngắm bóng trăng tàn,

Tiếng chim hót sớm, trận nhàn bay khuya.

+ Từ “có” lặp đi lặp lại 4 lần thể hiện những hành động của Tú Uyên khi không thể không nghĩ về người thiếu nữ đó. Chàng nhớ nàng chỉ nghĩ thôi chưa đủ, phải “gảy nên khúc đàn tranh” mong nàng nghe được tấm chân tình này, giống như cô gái Văn Quân khi nghe được tiếng đàn “Cầu hoàng” của Tương Như nên phải lòng đi theo. Phải mượn men say của “chén rượu đào” để thổ lộ tâm tư thầm kín hay chính là “mượn rượu để tỏ tình”. Tú Uyên mong được uống với nàng chén “ngọc giao” để kết duyên đôi lứa.

+ Lúc này chàng say nhưng lại không phải say rượu, cơn say này được ví như “mùi nhớ” hay chính là say ân tình với nàng tiên nữ. Chàng còn phải “ngồi suốt năm canh” để nghe những “tiếng đoạn trường”, vì không biết bao giờ mới có thể gặp được người thương nên chàng nhớ mong, đau đớn như đứt từng khúc ruột.

+ Đặc biệt, tác giả dựa vào truyền thuyết hai người vợ Nga Hoàn và Nữ Anh cùng khóc thảm thiết trên sông Tương Giang khi Vua Thuần mất để dùng từ “sông Tương” ví với nước mắt, nước mắt ở đây là nước mắt của Tú Uyên khi để lạc mất người mình hằng mong nhớ, lạc mất đi cả cuộc đời. Chàng còn ngồi “ngắm bóng trăng tàn”, hy vọng về một chút tin tức của nàng.

- Nỗi nhớ đó dù đã được bộc lộ nhưng vẫn “ngổn ngang” không ngơi:

Ngổn ngang cảnh nọ tình kia,

Nỗi riêng, riêng biết, dã đề với ai!

Vui xuân chung cảnh một trời,

Sầu xuân riêng nặng một người tương tư

Về nghệ thuật: Nghệ thuật đặc sắc của truyện thơ Nôm 

- Biện pháp nghệ thuật nổi bật trong đoạn trích: điệp cấu trúc “Có khi…”.

- Sử dụng các điển tích, điển cố mang đậm tính chất truyện nôm bác học 

- Việc sử dụng liên tiếp cấu trúc đó giúp đoạn trích bộc lộ rõ nét được tâm trạng tương tư, thầm thương, trộm nhớ của Tú Uyên, nỗi nhớ ấy không nguôi, ngày đêm mơ tưởng đến bóng dáng người thiếu nữ ấy. 

Cách giải:

Bài viết tham khảo:

"Bích Câu kì ngộ" xứng đáng là viên ngọc quý trong kho tàng truyện thơ Nôm Việt Nam, không chỉ bởi cốt truyện lãng mạn về mối tình tiên - tục mà còn ở nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật tinh tế. Đoạn trích khắc họa tâm trạng Tú Uyên sau cuộc gặp gỡ định mệnh ở hội chùa Ngọc Hồ thực sự là một bản hòa ca đa thanh của nỗi niềm tương tư, nơi mỗi hành động, mỗi cử chỉ đều trở thành ngôn ngữ của một trái tim đang yêu trong vô vọng.

Mở đầu đoạn trích, người đọc bắt gặp một Tú Uyên trong trạng thái tâm hồn hoàn toàn đảo lộn:

"Lần trăng ngơ ngẩn ra về,

Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên."

Hai chữ "ngơ ngẩn" không đơn thuần là trạng thái mà đã trở thành phẩm chất tồn tại của nhân vật. Chàng "ngơ ngẩn" bởi hình bóng người đẹp đã chiếm trọn tâm trí, khiến lý trí không còn làm chủ được hành động. Hình ảnh "đèn thông khêu cạn" gợi lên một đêm dài thao thức, nhưng sâu xa hơn, nó còn là ẩn dụ cho sự kiệt quệ của tâm hồn. Ngọn đèn tri thức không thể thắp sáng nổi màn đêm cô đơn, và giấc mộng công danh ("giấc hòe") trở nên vô nghĩa trước nỗi khát khao tình yêu. Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thức và ngủ, đã tạo nên một không gian tâm lý đầy mâu thuẫn.

Điều đặc biệt ở đây là nỗi nhớ không đơn thuần là cảm xúc nhất thời mà đã trở thành căn bệnh trường kỳ:

"Nỗi nàng canh cánh nào quên,

Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là!"

Từ "canh cánh" diễn tả sự thường trực, ám ảnh không dứt, như vật gì đè nặng lên tâm can. Còn "quanh quẩn" lại gợi cảm giác bị vây khốn trong chính nỗi nhớ của mình. Nhân vật bị mắc kẹt giữa thực và mộng, giữa cõi trần và tiên giới, mà hình bóng "người tiên" vừa là nguyên nhân vừa là đích đến của mọi khổ đau.

Nhưng đỉnh cao của nghệ thuật miêu tả nội tâm chính là hệ thống hành động được sắp xếp theo lối điệp cấu trúc:

"Có khi gảy khúc đàn tranh,

Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân."

Âm nhạc ở đây không còn là thú tiêu khiển mà trở thành ngôn ngữ của trái tim. Khúc "nước non ngao ngán" không đơn thuần là khúc nhạc buồn mà là tiếng lòng của kẻ sĩ đang đánh mất phương hướng. Điển tích Tương Như - Văn Quân được vận dụng tài tình, không phải để khoe chữ mà để thể hiện khát vọng giao cảm. Chàng không chỉ chơi đàn mà đang gửi gắm lời cầu hôn vô vọng vào không trung.

Đến với rượu, Tú Uyên cũng tìm thấy một thứ ngôn ngữ khác:

"Hơi men không nhấp mà say,

Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình."

Đây chính là điểm sáng của nghệ thuật diễn tả tâm lý. Chàng say không phải bởi rượu mà bởi chính "mùi nhớ" - một khái niệm vô hình được cụ thể hóa thành mùi vị. Sự chuyển đổi cảm giác này cho thấy nỗi nhớ đã thấm sâu vào từng tế bào, trở thành chất độc ngọt ngào làm tê liệt lý trí.

Đêm dài thao thức lại càng cho thấy chiều sâu của nỗi cô đơn:

"Có khi ngồi suốt năm canh,

Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kình nện sương."

Âm thanh của mõ quyên, chuông kình không đơn thuần là tiếng chuông báo thời gian mà trở thành nhịp đập của nỗi đau. Mỗi tiếng chuông vang lên như một nhát dao cứa vào tâm can. Hình ảnh "lửa tình dễ đốt, sông Tương khôn hàn" là sự đối lập giữa ngọn lửa tình yêu mãnh liệt và dòng sông nước mắt vô tận. Điển tích sông Tương được sử dụng không phải để nói về cái chết mà để nói về sự bất tử của nỗi đau.

Nghệ thuật sử dụng điển tích trong đoạn trích xứng đáng là bậc thầy. Mỗi điển tích không đơn thuần là sự vay mượn mà đã được "tiêu hóa" để trở thành máu thịt của tác phẩm. Từ giấc hòe của Thuần Vu Phần đến mối tình Tương Như - Văn Quân, rồi nước mắt sông Tương, tất cả đều được vận dụng một cách tự nhiên, góp phần tạo nên chiều sâu văn hóa cho tác phẩm.

Kết thúc đoạn trích, sự đối lập giữa thiên nhiên và lòng người càng làm nổi bật bi kịch nội tâm:

"Vui xuân chung cảnh một trời,

Sầu xuân riêng nặng một người tương tư."

Mùa xuân - biểu tượng của sự sống, niềm vui và hạnh phúc - lại trở thành phông nền cho nỗi sầu riêng biệt. Sự tương phản giữa "chung" và "riêng", giữa "một trời" và "một người" đã khắc họa thành công tâm trạng cô đơn tuyệt đối của con người trong nỗi đau tình yêu.

Qua đoạn trích này, chúng ta không chỉ thấy được tài năng nghệ thuật của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ, xây dựng hình ảnh và vận dụng điển tích, mà còn thấy được sự thấu hiểu sâu sắc về thế giới nội tâm con người. Tú Uyên hiện lên không đơn thuần là một chàng trai si tình, mà là hiện thân của khát vọng yêu và được yêu, của nỗi đau hiện sinh khi đứng trước cái đẹp mong manh và vĩnh cửu. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc khiến tác phẩm sống mãi với thời gian.

 


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu
Tải về

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 11 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Group 2K9 Ôn Thi ĐGNL & ĐGTD Miễn Phí