Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 5


Ở trong rừng, Chồn Xám khá là nổi tiếng nhưng lại không có mấy ai biết mặt chú, chú cũng chẳng cho ai được gặp mặt, trò chuyện với chú. Đó là vì Chồn Xám rất tự ti với mùi hôi trên cơ thể mình.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề bài

A. KIỂM TRA ĐỌC

I. Đọc thành tiếng

- Học sinh đọc đoạn văn bản “Buổi học cuối cùng” (SGK Tiếng Việt 4 tập 2 – Cánh diều, trang 6). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 - 5 phút.

- Dựa vào nội dung bài đọc, học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao lớp học bỗng trở nên trang nghiêm hơn trước?

II. Đọc thầm văn bản sau:

Chú chồn dũng cảm

Ở trong rừng, Chồn Xám khá là nổi tiếng nhưng lại không có mấy ai biết mặt chú, chú cũng chẳng cho ai được gặp mặt, trò chuyện với chú. Đó là vì Chồn Xám rất tự ti với mùi hôi trên cơ thể mình.

Đang lang thang kiếm ăn, bỗng Chồn Xám nghe thấy tiếng ai kêu gần đó. Lần theo tiếng kêu, nó thấy một chú Sóc đang bị thương ở chân. Bên cạnh nó là một con Sói đang nhe nanh, giơ vuốt. Chồn Xám sợ Sói lắm, định bỏ chạy mấy lần, nhưng đi được vài bước, chú lại phân vân. Lấy hết can đảm, Chồn Xám nhảy vào giữa mà quên đi nỗi sợ hãi và nhanh chóng phun ra mùi hôi của mình làm lão Sói sợ hãi bỏ chạy mất. Chồn Xám liền cõng Sóc nhanh chân chạy vào rừng. Khi thấy đã khá xa, Chồn Xám mới dừng lại.

- Cảm ơn bạn đã cứu mình!

Chồn Xám giật mình khi nghe lời cảm ơn của Sóc con. Và như chợt nhớ ra, chú ta liền nhảy vào bụi cây gần đó, tránh ra để Sóc khỏi ngửi thấy mùi hôi của mình.

- Sao bạn lại phải tránh xa mình như thế? - Sóc ngạc nhiên hỏi.

- Tại... Tại mình rất là hôi. - Chồn Xám ấp úng trả lời.

- Mình thấy bạn chẳng hôi tẹo nào cả, ngược lại còn thấy bạn rất thơm và dũng cảm nữa. Chúng mình kết bạn nhé!

Sưu tầm

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Vì sao không ai biết mặt chú Chồn Xám?

A. Vì chú xấu xí.

B. Vì chú tự ti với mùi hôi trên cơ thể mình.

C. Vì chú rất nhát gan.

D. Vì chú không thích kết bạn.

Câu 2. Chi tiết nào cho thấy Chồn Xám rất dũng cảm?

A. Chồn Xám nhảy vào giữa, phun ra mùi hôi làm Sói sợ để cứu Sóc.

B. Chồn Xám nhảy vào giữa, phun ra mùi hôi làm Sói sợ rồi bỏ chạy.

C. Chồn Xám nhảy vào dọa Sói, phun ra mùi hôi làm Sói sợ.

D. Chồn Xám hoảng sợ trốn vào một góc và bỏ mặc Sóc.

Câu 3. Qua câu chuyện trên, em rút ra được bài học gì?

A. Hãy tự tin, dũng cảm giúp đỡ mọi người xung quanh.

B. Cần phải biết ơn những người đã giúp đỡ mình.

C. Hãy luôn yêu thương những người xung quanh mình.

D. Hãy tự tin với đặc điểm riêng của mình, vì ai cũng có một thế mạnh riêng.

Câu 4. Em hãy gạch chân dưới thành phần vị ngữ trong các câu văn sau:

a) Mùa đông, những chùm hoa khép lại miệng bắt đầu kết trái.

b) Trên bầu trời, mặt trăng sáng vằng vặc và dịu êm.

Câu 5. Em hãy điền dấu gạch ngang cho câu văn sau, nêu tác dụng của dấu gạch ngang đó:

Một số tuyến kết nối các cảng biển cửa ngõ quốc tế như Hà Nội Hải Phòng, Biên Hòa Vũng Tàu đã được khởi công.

Câu 6. Gạch chân từ thích hợp trong ngoặc để hoàn thành câu văn sau:

a) Không phải tất cả mọi người đều (phản ứng / phản đối ) giống nhau.

b) Trên đời, không ai (hoàn chỉnh / hoàn hảo) cả.

c) Đi đường phải luôn (ngó nghiêng / quan sát) để tránh xảy ra tai nạn.

Câu 7. Em hãy bổ sung trạng ngữ vào các câu văn sau:

a) ………………………………………………, mẹ luôn vỗ về an ủi tôi.

b) ………………………………………………., đàn ong chăm chỉ kiếm mật.

B. KIỂM TRA VIẾT

Đề bài: Em hãy viết bài văn tả con voi trong vườn bách thú.

-------- Hết --------

Lời giải

  HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1. B

2. A

3. D

A. KIỂM TRA ĐỌC

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Vì sao không ai biết mặt chú Chồn Xám?

A. Vì chú xấu xí.

B. Vì chú tự ti với mùi hôi trên cơ thể mình.

C. Vì chú rất nhát gan.

D. Vì chú không thích kết bạn.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ nhất để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Không ai biết mặt chú Chồn Xám vì chú tự ti với mùi hôi trên cơ thể mình.

Đáp án B.

Câu 2. Chi tiết nào cho thấy Chồn Xám rất dũng cảm?

A. Chồn Xám nhảy vào giữa, phun ra mùi hôi làm Sói sợ để cứu Sóc.

B. Chồn Xám nhảy vào giữa, phun ra mùi hôi làm Sói sợ rồi bỏ chạy.

C. Chồn Xám nhảy vào dọa Sói, phun ra mùi hôi làm Sói sợ.

D. Chồn Xám hoảng sợ trốn vào một góc và bỏ mặc Sóc.

Phương pháp giải:

Em xác định chi tiết nói về hành động dũng cảm của Chồn Xám.

Lời giải chi tiết:

Chi tiết cho thấy Chồn Xám rất dũng cảm là “Chồn Xám nhảy vào giữa, phun ra mùi hôi làm Sói sợ để cứu Sóc”

Đáp án A.

Câu 3. Qua câu chuyện trên, em rút ra được bài học gì?

A. Hãy tự tin, dũng cảm giúp đỡ mọi người xung quanh.

B. Cần phải biết ơn những người đã giúp đỡ mình.

C. Hãy luôn yêu thương những người xung quanh mình.

D. Hãy tự tin với đặc điểm riêng của mình, vì ai cũng có một thế mạnh riêng.

Phương pháp giải:

Em dựa vào nội dung bài đọc để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Qua câu chuyện trên, em rút ra được bài học hãy tự tin với đặc điểm riêng của mình, vì ai cũng có một thế mạnh riêng.

Đáp án D.

Câu 4. Em hãy gạch chân dưới thành phần vị ngữ trong các câu văn sau:

a) Mùa đông, những chùm hoa khép lại miệng bắt đầu kết trái.

b) Trên bầu trời, mặt trăng sáng vằng vặc và dịu êm.

Phương pháp giải:

Em đặt câu hỏi để tìm bộ phận vị ngữ.

Lời giải chi tiết:

a) Mùa đông, những chùm hoa khép lại miệng bắt đầu kết trái.

b) Trên bầu trời, mặt trăng sáng vằng vặc và dịu êm.

Câu 5. Em hãy điền dấu gạch ngang cho câu văn sau, nêu tác dụng của dấu gạch ngang đó:

Một số tuyến kết nối các cảng biển cửa ngõ quốc tế như Hà Nội Hải Phòng, Biên Hòa Vũng Tàu đã được khởi công.

Phương pháp giải:

Em nhớ lại các tác dụng của dấu gạch ngang.

Lời giải chi tiết:

Một số tuyến kết nối các cảng biển cửa ngõ quốc tế như Hà Nội - Hải Phòng, Biên Hòa - Vũng Tàu đã được khởi công.

Tác dụng của dấu gạch ngang trong câu là dùng để nối các từ trong một liên danh.

Câu 6. Gạch chân từ thích hợp trong ngoặc để hoàn thành câu văn sau:

a) Không phải tất cả mọi người đều (phản ứng / phản đối ) giống nhau.

b) Trên đời, không ai (hoàn chỉnh / hoàn hảo) cả.

c) Đi đường phải luôn (ngó nghiêng / quan sát) để tránh xảy ra tai nạn.

Phương pháp giải:

Em dựa vào nội dung câu để chọn từ ngữ phù hợp.

Lời giải chi tiết:

a) Không phải tất cả mọi người đều phản ứng giống nhau.

b) Trên đời, không ai hoàn hảo cả.

c) Đi đường phải luôn quan sát để tránh xảy ra tai nạn.

Câu 7. Em hãy bổ sung trạng ngữ vào các câu văn sau:

a) ………………………………………………, mẹ luôn vỗ về an ủi tôi.

b) ………………………………………………., đàn ong chăm chỉ kiếm mật.

Phương pháp giải:

Em dựa vào nội dung câu để điền trạng ngữ phù hợp.

Lời giải chi tiết:

a) Mỗi khi buồn, mẹ luôn vỗ về an ủi tôi.

b) Trong vườn hoa, đàn ong chăm chỉ kiếm mật.

B. KIỂM TRA VIẾT

Đề bài: Viết bài văn tả con voi trong vườn bách thú.

Phương pháp giải:

Em lập dàn ý cho đoạn văn:

1. Mở bài: Giới thiệu con voi mà em muốn miêu tả:

- Con voi đó hiện đang sinh sống ở vườn thú nào?

- Em được đến vườn thú và quan sát con voi đó lúc nào?

2. Thân bài

- Miêu tả hình dáng chú voi đó:

+ Thân hình to lớn, có lẽ phải nặng hàng chục tấn …

+ Toàn thân là lớp da màu nâu xám, rất ít hoặc hầu như không có lông nên lớp da nó hiện rõ những vết nhăn nheo …

+ Cái đầu rất to với đôi tai to hai bên nhưng hai chiếc quạt luôn phe phẩy …

+ Nó có một chiếc vòi rất dài trông giống như một chiếc vòi nước …

+ Đặc biệt chú voi trong sở thú đó còn có cặp ngà màu trắng cong cong và nhô ra phía trước …

- Đặc điểm, tính cách của chú voi đó (Nó rất hiền lành bởi đã được con người thuần hoá …)

3. Kết bài: Tình cảm, cảm xúc của em về con voi mà mình đã được quan sát đó.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo:

Em đã được đi chơi rất nhiều lần ở vườn bách thú và được ngắm rất nhiều con vật đáng yêu. Nhưng có lẽ con vật mà em thích nhất là con voi.

Hôm ấy, vừa mới bước vào cửa, em đã nhìn thấy một chiếc lồng rất lớn. Bên trong lồng là một con voi lực lưỡng. Nhìn nó to và nặng lắm. Nó có làn da nâu đen và nhăn nheo như những nếp gấp. Đôi mắt to tròn long lanh nhìn rất hiền từ. Hai cái tai to như hai cái quạt mo lúc nào cũng cụp xuống hai bên má. Cái vòi dài ngoằng và sun lại như một con trăn khổng lồ lúc thì nâng lên, lúc thì hạ xuống. Cái vòi này giúp nó lấy thức ăn từ xa hay uống được rất nhiều nước. Đặc biệt, nó có cặp ngà cong cong như cái lưỡi cày. Cặp ngà là thứ quý nhất và đẹp nhất của con voi. Ngà voi có màu vàng óng là vũ khí tự vệ của nó khi gặp kẻ thù. Nó có bốn cái chân to như bốn cái cột đình. Cơ thể nó rất nặng nên những bước đi của nó cũng chậm chạp và từ từ. Những bước đi ấy rất chắc nịch nhưng nó cũng có thể dẫm nát những thứ mà nó không thích. Nó có cái đuôi dài cứ ve vẩy, ve vẩy theo sau những bước đi ấy. Thức ăn của voi chủ yếu là cây cỏ và lá cây. Tuy nhiên nó ăn rất nhiều bởi vì trọng lượng cơ thể của nó rất lớn. Voi nhà rất hiền, nó không làm hại con người bao giờ mà nó sống rất thân thiết và tình cảm với con người. Nó có thể giúp những người dân vùng Tây Nguyên chở hàng hóa hay lúa thóc. Thậm chí nó còn là con vật biết gây tiếng cười cho mọi người. Nó biết làm trò và trêu chọc con người bằng cái vòi rất dễ thương. Nó có thể làm xiếc mua vui cho mọi người vào những ngày lễ hội. Ban đầu khi nhìn thấy nó em rất sợ, chỉ dám đứng thật xa. Nhưng khi làm quen với nó, biết nó là con vật dễ gần, em có thể sờ vào người nó và chơi cùng với nó mà không biết chán. Nó đúng là một con vật to lớn nhưng vô cùng đáng yêu.

Em rất thích đi chơi vườn bách thú để ngắm và chơi đùa với những chú voi đáng yêu. Em mong sẽ được bố mẹ cho đi chơi thêm nhiều lần nữa.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu
  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 4

    Vào thời kì kinh tế Mỹ khủng hoảng, một người làm bánh mì tốt bụng thường mang một ít bánh mì cho những đứa trẻ nghèo trong thành phố.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 3

    Cả nhà đều làm việc Cả nhà ai cũng làm việc. Này nhé, anh Trâu to lớn theo bố đi cày. Chị Đòn Gánh dẻo dai thì giúp mẹ gánh mạ ra đồng. Đến ông Mặt Trời cũng làm việc. Buổi sáng, ông dậy sớm nấu ăn đỏ một góc trời phía Đông rồi khoan thai cầm cây gậy làm bằng nắng vàng dắt đàn mây trắng đi chăn trên đồng cỏ trời xanh biếc.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 2

    Hoa tặng bà Bà ngoại của Voi con bị bệnh phải vào bệnh viện nằm. Đi học về, Voi con xin phép mẹ vào bệnh viện thăm bà. Trên đường đi, Voi con thấy bác Dê đang vác trên vai một bao gạch lạch bạch đi từng bước một. Voi con vội chạy tới nói với bác: “Bác Dê ơi! Để cháu giúp bác”.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Cánh diều - Đề số 1

    Những chú chó con ở cửa hiệu Một cậu bé xuất hiện ở cửa hàng bán chó và hỏi người chủ cửa hàng: “Giá mỗi con chó là bao nhiêu vậy bác? ” Người chủ cửa hàng trả lời: “Khoảng từ 30 tới 50 đô la một con.” Cậu bé rụt rè nói: “Cháu có thể xem chúng được không ạ?”

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...