(35+ mẫu) Viết bài văn phân tích một tác phẩm (truyện) hay nhất - Ngữ văn 6


Khánh Hoài là một nhà văn luôn dành nhiều tình cảm yêu thương cho trẻ em. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê”

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - KHTN...

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Bài mẫu 1

Khánh Hoài là một nhà văn luôn dành nhiều tình cảm yêu thương cho trẻ em. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê”. Thông qua câu chuyện đầy xúc động về hai anh em Thành và Thủy, tác giả đã gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về tình cảm gia đình và trách nhiệm của người lớn đối với trẻ nhỏ.

Câu chuyện xoay quanh hoàn cảnh éo le của hai anh em khi bố mẹ ly hôn, buộc họ phải chia xa. Tình huống truyện được xây dựng giản dị nhưng lại mang sức gợi lớn, khiến người đọc cảm nhận rõ nỗi đau tinh thần mà hai đứa trẻ phải chịu đựng. Khi nghe mẹ yêu cầu chia đồ chơi, Thủy “run lên bần bật”, còn Thành thì sững sờ trước biến cố bất ngờ. Những chi tiết ấy cho thấy sự tổn thương sâu sắc trong tâm hồn trẻ thơ khi mái ấm gia đình tan vỡ. Dù vậy, giữa hoàn cảnh đau lòng ấy, tình cảm anh em vẫn hiện lên thật trong sáng và bền chặt. Thành luôn nhường nhịn em, còn Thủy lại nghĩ cho anh, không muốn anh cô đơn. Hình ảnh hai con búp bê “Em Nhỏ” và “Vệ Sĩ” trở thành biểu tượng cho tình cảm gắn bó không thể tách rời của hai anh em.

Không chỉ dừng lại ở việc khắc họa tình cảm gia đình, tác phẩm còn làm nổi bật nỗi đau khi trẻ em bị tước đi quyền được học tập và sống trong môi trường bình yên. Cảnh Thủy đến trường chia tay thầy cô, bạn bè là một trong những đoạn xúc động nhất. Em không dám nhận quà của cô giáo vì biết rằng mình sẽ không còn được đi học nữa. Chi tiết này khiến người đọc không khỏi xót xa, đồng thời cũng đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của người lớn khi để trẻ em phải gánh chịu hậu quả từ những quyết định của mình.

Đỉnh điểm của câu chuyện là cảnh chia tay cuối cùng khi Thủy phải rời đi. Hành động em quay lại đưa cả hai con búp bê cho anh và dặn không để chúng xa nhau thể hiện mong muốn sâu kín: em không muốn tình cảm anh em bị chia cắt. Đây là chi tiết giàu ý nghĩa, vừa hồn nhiên vừa đau đớn, khiến người đọc ám ảnh về sự chia ly không đáng có.

Qua truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê”, Khánh Hoài đã gửi gắm thông điệp sâu sắc về giá trị của gia đình. Tác phẩm nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng và giữ gìn tổ ấm, bởi đó là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và mang lại hạnh phúc cho trẻ thơ. Đây không chỉ là một câu chuyện cảm động mà còn là lời cảnh tỉnh đầy ý nghĩa đối với người lớn trong cuộc sống hiện đại.

Bài mẫu 2

Nguyễn Ngọc Thuần là cây bút quen thuộc với những tác phẩm viết cho thiếu nhi, luôn mang đến một thế giới trong trẻo, nhẹ nhàng và giàu cảm xúc. Truyện “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” là một tác phẩm tiêu biểu, qua đó tác giả gửi gắm nhiều bài học ý nghĩa về cách cảm nhận cuộc sống và trân trọng những điều giản dị xung quanh.

Nhân vật trung tâm của truyện là “tôi” – một cậu bé sống trong không gian yên bình với khu vườn rộng lớn. Mỗi buổi chiều, cậu theo bố ra vườn chăm sóc cây cối và từ đó bắt đầu những “bài học” rất đặc biệt. Người bố không dạy con theo cách thông thường mà thông qua những trò chơi như nhắm mắt chạm vào hoa để đoán tên, nghe tiếng bước chân để ước lượng khoảng cách hay chỉ ngửi hương hoa để nhận biết. Qua từng trải nghiệm, cậu bé dần rèn luyện được sự nhạy bén của các giác quan. Từ chỗ bỡ ngỡ, cậu trở nên thành thạo và tự tin hơn, đến mức có thể cảm nhận thế giới xung quanh một cách tinh tế. Điều đó cho thấy nhân vật “tôi” là một đứa trẻ chăm chỉ, kiên trì và có tâm hồn nhạy cảm. Đồng thời, người bố hiện lên là một người tinh tế, yêu con và có cách giáo dục đầy sáng tạo, giúp con biết quan sát và cảm nhận cuộc sống bằng cả trái tim.

Không chỉ dừng lại ở việc dạy con cách cảm nhận thiên nhiên, người bố còn giúp “tôi” hiểu được ý nghĩa của tình người và giá trị của những điều giản dị. Chi tiết bố chạy đi cứu thằng Tý rồi vui vẻ nhận món quà là những trái ổi tuy mộc mạc nhưng chứa đựng sự biết ơn chân thành đã để lại ấn tượng sâu sắc. Khi giải thích cho con, người bố nhấn mạnh rằng giá trị của món quà không nằm ở vật chất mà ở tấm lòng của người tặng. Qua đó, cậu bé dần hiểu hơn về cách trân trọng những điều nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa trong cuộc sống.

Tác phẩm với giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất thơ đã khắc họa một thế giới tuổi thơ bình dị mà sâu sắc. Qua câu chuyện, Nguyễn Ngọc Thuần không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn đề cao cách sống tinh tế, biết yêu thương và trân trọng cuộc sống. “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” vì thế không chỉ là một câu chuyện dành cho trẻ em mà còn mang đến nhiều suy ngẫm ý nghĩa cho mỗi người đọc.

Bài mẫu 3

Khánh Hoài là một nhà văn giàu tình yêu thương với trẻ em. Một trong những tác phẩm tiêu biểu đó là truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê”. Từ cuộc chia tay xúc động của hai anh em Thành và Thủy, tác giả đã gửi gắm một bài học ý nghĩa trong cuộc sống.

Câu chuyện kể về một gia đình có hai anh em là Thành và Thủy. Nhưng vì bố mẹ ly hôn nên hai anh em không thể tiếp tục sống với nhau được nữa. Khánh Hoài đã xây dựng một tình huống đặc biệt để cho thấy tình cảm sâu sắc của Thành và Thủy. Người mẹ yêu cầu hai anh em phải đem đồ chơi ra chia. Nghe thấy tiếng mẹ nói chia đồ chơi mà Thủy không kìm nổi nỗi sợ hãi “bất giác run lên bần bật, kinh hoàng”. Còn Thành thì thầm nghĩ: “Cảnh vật vẫn cứ như hôm qua, hôm kia thôi mà sao tai họa giáng xuống đầu anh em tôi nặng nề thế này”. Đối mặt với cuộc chia tay, Thành và Thủy đều cảm thấy buồn bã và thật nặng nề. Nhưng điều đó không làm tình cảm của cả hai mất đi. Đến tận bây giờ, hai anh em vẫn nhường nhịn và dành những điều tốt nhất cho nhau, thật đáng trân trọng. Thành dành hầu hết số đồ chơi cho em: bộ tú lơ khơ, bàn cá ngựa, những con ốc biển và bộ chỉ màu và ngay cả hai con búp bê là Em Nhỏ và Vệ Sĩ. Khi hai anh em về đến nhà thì đã nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng, cuộc chia tay quá đột ngột khiến cả hai bàng hoàng. Thủy chạy vào nhà lấy con Vệ Sĩ đưa cho Thành để nó gác cho anh ngủ. Nhưng sau đó, cô bé lại đem cả con Em Nhỏ lại cho anh và bắt anh hứa không bao giờ để chúng phải xa nhau nữa.

Sau khi chia đồ chơi, Thành đưa em đến trường tạm biệt thầy cô và bạn bè. Khung cảnh ngôi trường hôm nay sao mà thân thương đến vậy. Cô tặng cho Thủy một quyển sổ và một chiếc bút mực nhưng Thủy không dám nhận vì không còn được đi học nữa. Sau khi từ trường về nhà, Thành và Thủy nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng, cuộc chia tay quá đột ngột khiến cả hai bàng hoàng. Thủy chạy vào nhà lấy con Vệ Sĩ đưa cho Thành để nó gác cho anh ngủ. Nhưng sau đó, cô bé lại đem cả con Em Nhỏ lại cho anh và bắt anh hứa không bao giờ để chúng phải xa nhau nữa. Dường như đó cũng chính là mong muốn của Thủy. Em mong rằng mình và anh trai sẽ không phải xa cách nhau nữa. Cuộc chia tay diễn ra đẫm nước mắt, buồn bã và đau thương. Cả hai anh em đều sẽ không biết bao giờ mới có thể gặp lại nhau.

Cuộc chia tay của những con búp bê đã gợi cho người lớn bao suy nghĩ về trách nhiệm của mình, về việc gìn giữ mái ấm hạnh phúc để cho con cái được vui vẻ, trọn vẹn yêu thương.

Bài mẫu 4

Có lẽ không nơi đâu như mảnh đất Việt Nam này, mỗi con đường, góc phố, cánh rừng đều in đậm vẻ đẹp của những con người hiền hòa mà anh dũng. Nhất là trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có biết bao con người trẻ tuổi khoác ba lô ra chiến trường để chiến đấu và làm việc, vì một lý tưởng cao cả là giành lại độc lập tự do cho quê hương mình. Rất nhiều tác phẩm văn học đã sinh ra từ không khí hào hùng của thời đại đó. Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi được Lê Minh Khuê viết vào năm 1971, khi cuộc chiến đấu của quân dân ta đang ở giai đoạn cam go, ác liệt nhất. Tác phẩm ra đời từ một ngòi bút trực tiếp tham gia công tác và chiến đấu tại tuyến đường Trường Sơn, nên đã chuyển tải được sự ác liệt của bom đạn và làm nổi bật lên vẻ đẹp tâm hồn của những con người Việt Nam trẻ tuổi, mà đại diện tiêu biểu chính là Nho, Thao và Phương Định.

Hãy xem hoàn cảnh sống và chiến đấu của các nhân vật chính trong tác phẩm. Họ là ba cô gái sống trong một cái hang dưới chân cao điểm. Nơi này đạn bom luôn làm rung chuyển mặt đất. Công việc của họ là trinh sát mặt đường, đo khối lượng đất đá cần để lấp hố bom, phát hiện, đếm những quả bom nổ chậm, và tìm cách phá bom để bảo vệ con đường. Nơi ở là nơi nguy hiểm, công việc thì luôn phải đối đầu với cái chết. Bên cạnh đó, họ phải chịu đựng nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nhưng ở họ, ta lại cảm nhận được một tinh thần đoàn kết sâu sắc. Họ như kết thành một khối, có sức mạnh để vượt qua tất cả.

Lê Minh Khuê miêu tả từng nhân vật với những nét tính cách khác nhau. Đầu tiên là chị Thao, tiểu đội trưởng. Thao xứng đáng là người chỉ huy của cả đội, bởi chị lúc nào cũng rất bình tĩnh. Tình thế càng nguy hiểm thì sự bình tĩnh đó càng lộ ra rõ rệt, "những khi biết rằng cái sắp tới sẽ không êm ả thì chị tỏ ra bình tĩnh đến phát bực". Sự bình tĩnh đó giúp cho việc thực hiện nhiệm vụ lúc nào cũng chính xác và hiệu quả. Ấy vậy mà cô gái này lại "thấy máu, thấy vắt là chị nhắm mắt lại, mặt tái mét, áo lót của chị cái nào cũng thêu chỉ màu. Chị lại hay tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm.", đó là vẻ đẹp mang màu sắc nữ tính của chị Thao. Thao điệu đà, thích chép những bài hát vào một cuốn sổ, nhưng trong công tác thì vô cùng táo bạo và cương quyết. Mệnh lệnh của chị Thao luôn được Nho và Phương Đinh tuân thủ chặt chẽ. Tính kỷ luật của tiểu đội được đặt lên hàng đầu.

Còn khi miêu tả Nho, nhà văn để cho nhân vật xuất hiện trong cái nhìn rất thương mến của Phương Định. Đó là lúc Nho đi từ dưới suối lên, cái cổ tròn, trông nhẹ "mát mẻ như một que kem". Nho có những mơ ước bình dị "Xong chiến tranh, sẽ xin vào một nhà máy thuỷ điện lớn. Nó làm thợ hàn, sẽ trở thành cầu thủ bóng chuyền của nhà máy. Nó sẽ đập thật giỏi. Và biết đâu lại sẽ được người ta tuyển vào đội bóng chuyền miền bắc". Vẻ đẹp của Nho giản dị như thế đấy, nhưng cô gái thanh niên xung phong này có thể đảm đương những nhiệm vụ khó khăn nhất. Khi phá bom: "Nho hai quả dưới lòng đường". Khi bị thương, Nho vẫn điềm tĩnh, đòi uống nước, và tinh nghịch trước cơn mưa đá bất chợt ào đến. Nho thật đáng yêu và đáng khâm phục.

Nhưng có thể nói nhân vật trung tâm mà Lê Minh Khuê miêu tả thật sâu sắc phải kế đến Phương Định, người ở ngôi thứ nhất kể lại câu chuyện này. Về nguồn gốc xuất thân, Phương Định vốn là một cô gái Hà Nội vừa rời ghế nhà trường đã xung phong ra trận, đó là vẻ đẹp lý tưởng ở những con người trẻ tuổi thuộc thế hệ đánh Mỹ. Ngoại hình của Phương Định khá xinh đẹp, "nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như cái đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: "Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!".... Vẻ đẹp tươi tắn đó của Phương Định hoàn toàn tương phản với khung cảnh chiến tranh, nó khiến cho người đọc thêm căm ghét cuộc chiến tranh xâm lược tàn ác mà kẻ thù đã gây ra.

Nhà văn miêu tả tính cách của Phương Định vẫn còn nhiều nét lãng mạn, tinh nghịch. Cô thích ca hát: "Tôi thích nhiều bài hát, dân ca quan họ dịu dàng, dân ca Ý trữ tình giàu có". Cô cũng thích ngắm mình trong gương. Nhiều anh bộ đội thầm thương trộm nhớ, nhưng Phương Định cũng không kiêu căng, vì đối với cô, các anh bộ đội chính là những con người đẹp nhất. Những cử chỉ, hành động và suy nghĩ của Phương Định cho ta thấy cô gái này là một con người giản dị, yêu đời, rất đỗi ngây thơ, trong sáng và có nội tâm phong phú.

Trong truyện ngắn, nhà văn Lê Minh Khuê đã khám phá ra đằng sau vẻ đẹp dịu dàng của Phương Định là một tâm hồn đầy sức mạnh và lòng dũng cảm của một người chiến sĩ. Điều này thể hiện trong những lần Phương Định phá bom. Quả bom của kẻ thù là phương tiện tàn ác gieo rắc cái chết, để có những con đường an toàn cho đoàn xe ra trận, Phương Định và đồng đội của cô đối mặt với những quả bom đáng sợ đó. Nhà văn Lê Minh Khuê không né tránh miêu tả thực tại phũ phàng trần trụi của chiến tranh. Đó là lúc Phương Định để lộ mình trên cao điểm, và cảm nhận sự hiểm nguy sát ngay bên cạnh. Nhưng cũng chính giây phút đó, cô gái thanh niên xung phong không thấy mình đơn độc, cô cảm thấy ánh mắt của các anh bộ đội đang dõi theo mình, động viên và bảo vệ. Vì thế, Phương Định không đi khom, cô giữ tư thế hiên ngang khi đến gần quả bom. "Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi lom khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới". Tâm trạng của Phương Định lúc đó thật bình tĩnh, dù rất căng thẳng. Những cử chỉ của cô khi phá bom rất chuẩn xác: cẩn thận bỏ gói thuốc nổ cạnh quả bom, khoan đất, chạy lại chỗ núp, nép người vào bức tường, nhìn đồng hồ... Những lúc như thế, Phương Định cũng có nghĩ đến cái chết, nhưng tinh thần trách nhiệm và khát khao hoàn thành nhiệm vụ mạnh mẽ hơn. Phương Định hiểu rõ ý nghĩa việc mình làm, thế nên đối mặt với cái chết, cô vẫn chủ động, bình tĩnh, dũng cảm và sẵn sàng hi sinh cho con đường ra trận được thông suốt. Đó chính là vẻ đẹp tâm hồn cao cả của cô và đồng đội!

Là một cô gái thanh niên xung phong anh dũng, nhưng trái tim Phương Định lại dịu dàng và chan chứa yêu thương, nhất là đối với những người đồng đội cô xem như ruột thịt. Khi thấy Nho bị bom vùi, Phương Định cuống cuồng bới đất cứu bạn, và chăm sóc Nho với tất cả tấm lòng người chị em gái. Đối với chị Thao, Phương Định cũng hiểu rõ tính cách, sở thích và những tâm tình của bạn, sẵn sàng giúp đỡ và sẻ chia tâm sự. Nghe giọng hát rất chua của chị Thao, Phương Định cảm thấy sự thân thiết và niềm động viên khi tình thế nước sôi lửa bỏng.Cũng như Thao và Nho, Phương Định có một tâm hồn trong sáng, nhạy cảm. Trong những ngày xa Hà Nội, cô nhớ da diết những hình ảnh thân thương của quê hương, nhớ xe bán kem, nhớ cả những ngôi sao xa xôi trên bầu trời Hà Nội. Đó là những kỷ niệm đẹp đẽ mà Phương Định đã gói ghém làm hành trang khi tham gia vào cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc đánh Mỹ.

Có thể nói, ở ba cô gái này, ta cảm nhận những nét tính cách đối lập: họ vừa là người chiến sĩ dũng cảm, gan dạ, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc, vừa là ba cô gái hồn nhiên, đầy nữ tính và có lòng yêu quê hương đất nước lắng sâu da diết. Đó không phải chỉ là vẻ đẹp tâm hồn của riêng họ, mà là nét đẹp tâm hồn chung của những con người Việt Nam trẻ tuổi thời đại chống Mỹ cứu nước.

Lê Minh Khuê đã chọn cho mình một cách viết thật bình dị, với ngôn từ mang đậm hơi thở của chiến tranh. Ngôi kể của truyện là Phương Định - "tôi", thế nên lời kể thật tự nhiên và trẻ trung. Có lẽ bản thân nhà văn từng là một cô gái thanh niên xung phong, nên bà miêu tả tâm lý nhân vật rất thật, rất tinh tế. Từ đó, bà đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng hồn nhiên và lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn đầy khói lửa. Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi có thể được coi là một khúc ca ca ngợi vẻ đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai"

(Tố Hữu)

Bài mẫu 5

Phân tích truyện Lặng lẽ Sa Pa:
Nguyễn Thành Long là cây bút truyện ngắn xuất sắc, nổi tiếng với các tác phẩm: Giữa trong xanh (1972), Ly Sơn mùa tỏi (1980)... Truyện ngắn Lặng lẽ  Sa Pa rút trong tập Giữa trong xanh. Truyện ca ngợi những con người sống giữa non xanh lặng lẽ nhưng vô cùng sôi nổi, hết lòng vì Tổ quốc và có trái tim nhân hậu.

Một bức tranh thiên nhiên rất đẹp, đầy chất thơ. Lào Cai miền Tây Bắc của Tổ quốc không hề hoang vu mà trái lại, rất hữu tình, tráng lệ. Khi xe vừa "trèo lên núi" thì "mây hắt từng chiếc quạt trắng lên từ các thung lũng". Trạm rừng là nơi "con suối có thác trắng xóa". Giữa màu xanh của rừng, những cây thông "rung tít trong nắng", những cây tử  kinh "màu hoa cà " hiện lên đầy thơ mộng. Có lúc, cảnh tượng núi rừng vô cùng tráng lệ, đó là khi "nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như một bó đuốc lớn". Sa Pa với những rặng đào, với đàn bò lang cổ đeo chuông... như dẫn hồn du khách vào miền đất lạ kì thú.

Trên cái nền bức tranh thiên nhiên ấy, cuộc sống của con người nơi miền Tây Tổ quốc thân yêu càng thêm nồng nàn ý vị: "nắng chiều làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái cảm thấy mình rực rỡ theo". Có thể nói đó là những nét vẽ rất tinh tế và thơ mộng.

Trên cái nền thơ mộng hữu tình ấy là sự xuất hiện của những con người đáng yêu, đáng mến. Thiên nhiên, cảnh vật dù đẹp đến mấy cũng chỉ là cái nền tô điểm, làm cho con người trở nên đẹp hơn.

Đó là bác lái xe vui tính, cởi mở, nhiệt tình với hành khách. Đó là ông họa sĩ già say mê nghệ thuật, "xin anh em hoãn bữa tiệc đến cuối tuần sau" để ông đi thực tế chuyến cuối cùng lên Lào Cai trước lúc về hưu. Lúc nào ông cũng trăn trở "phải vẽ được một cái gì suốt đời mình thích". Đó còn là cô kĩ sư trẻ mới ra trường đã hăng hái xung phong lên Lào Cai công tác, bước qua cuộc đời học trò chật hẹp, bước vào cuộc sống bát ngát mới tinh, cái gì cùng làm cho cô hào hứng. Cô khao khát đất rộng trời cao, cô có thể đi bất kì đâu, làm bất cứ việc gì.

Và cả những nhân vật không trực tiếp xuất hiện: ông kĩ sư ở vườn rau Sa Pa suốt đời nghiên cứu và lai tạo giống su hào to củ và ngọt để phục vụ dân sinh và xuất khẩu. Đồng  chí cán bộ nghiên cứu khoa học "suốt ngày dự sét", ngày đêm mưa gió hễ nghe sét là "choàng choàng chạy ra", mười một năm không một ngày xa cơ quan, "không đi đến đâu mà tìm vợ", lo làm một bản đồ sét riêng cho nước ta", cái bản đồ ấy "thật lắm của, thật vô giá". Trán đồng chí ấy cứ hói dần đi!

Và, tiêu biểu nhất có lẽ là anh thanh niên 27 tuổi, làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, “một trong những người cô độc nhất thế gian". Anh có nhiệm vụ "đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất" góp phần dự báo thời tiết, phục vụ sản xuất và chiến đấu. Những đêm bão tuyết, rét ghê gớm, một mình một đèn bão ra "vườn" lấy số liệu vào lúc nửa đêm cả thân hình anh "như bị gió chặt ra từng khúc", xong việc, trở vào nhà, "không thể nào ngủ lại được". Anh đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, với ý chí và nghị lực to lớn để vượt qua gian khổ và đơn độc giữa non xanh. Chí tiến thủ là một nét đẹp ở anh: đọc sách, tự học, cần cù và chịu khó: nuôi gà lấy trứng, trồng hoa... làm cho cuộc sống thêm phong phú. Rất khiêm tốn khi nói về mình, dành những lời tốt đẹp nhất ngợi ca những gương sáng nơi Sa Pa lặng lẽ. Rất hiếu khách, anh mừng rỡ, quý mến khi khách lạ đến chơi. Một bó hoa đẹp tặng cô kĩ sư trẻ, một làn trứng gà tươi hiếu ông họa sĩ già, một củ tam thất gửi biếu vợ bác lái xe mới ốm dậy... là biểu hiện của một tấm lòng yêu thương, đối xử chân tình với đồng loại. Anh sống và làm việc vì lý tưởng cao đẹp, vì quê hương đất nước thân yêu, như anh thổ lộ với ông họa sĩ già: "Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?". Vì thế sau khi vẽ xong chân dung anh cán bộ khí tượng, họa sĩ nghĩ về anh: "Người con trai ấy đáng yêu thật...”

Tóm lại, những nhân vật trên đây là hình ảnh những con người mới đã sống đẹp, giàu tình nhân ái, hết lòng phục vụ đất nước và nhân dân, sống nơi lặng lẽ non xanh nhưng họ chẳng lặng lẽ chút nào! Trái lại, cuộc đời của họ vô cùng sôi nổi, đầy tâm huyết và giàu nhiệt tình cách mạng. Đúng như Bác Hồ đã nói: "Đất nước ta là một vườn hoa đẹp. Mỗi người là một bông hoa đẹp". Nhà văn Nguyễn Thành Long đã dành những lời tốt đẹp nhất nói về những con người đang sống và cống hiến giữa Sa Pa lặng lẽ. Mỗi người nơi non xanh ấy là một gương sáng, là một bông hoa ngát hương.

Truyện Lặng lẽ Sa Pa là một bài thơ bằng văn xuôi rất trong sáng, trữ tình. Trên cái nền tráng lệ của thiên nhiên rừng, suối Sa Pa hiện lên bao con người đáng yêu. Mỗi người chỉ một vài nét vẽ mà tác giả đã lột tả được tâm hồn, tính cách, dáng vẻ của họ. Nguyễn Thành Long rất chân thực trong kể và tả, nhờ thế mà ta thấy những nhân vật như bác lái xe, ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ, anh thanh niên... rất gần gũi và mến yêu.

Bài mẫu 6

Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường tập trung khai thác hai mảng đề tài chính là người nông dân và người trí thức nghèo trước Cách mạng. Trong đó, truyện ngắn “Lão Hạc” là một tác phẩm tiêu biểu viết về số phận và phẩm chất của người nông dân trong xã hội cũ.

“Lão Hạc” được đăng báo lần đầu năm 1943, kể về cuộc đời đầy bi kịch của một người nông dân nghèo. Lão Hạc sống cô độc, vợ mất sớm, con trai vì không có tiền cưới vợ nên bỏ đi đồn điền cao su. Tài sản duy nhất của lão chỉ là mảnh vườn để lại cho con và con chó Vàng – người bạn thân thiết. Sau một trận ốm nặng, cuộc sống càng trở nên túng quẫn, lão buộc phải bán đi con chó mà mình hết mực yêu thương. Đây là một quyết định đau đớn, thể hiện rõ bi kịch tinh thần của lão. Sau đó, lão gửi lại số tiền cho ông giáo để giữ hộ cho con trai, rồi âm thầm tìm đến cái chết bằng bả chó. Cái chết ấy vừa dữ dội, vừa xót xa, như một lời tố cáo xã hội tàn nhẫn đã đẩy con người đến bước đường cùng.

Nhân vật lão Hạc hiện lên là một người nông dân nghèo khổ nhưng giàu lòng yêu thương và nhân cách cao đẹp. Tình cảm của lão dành cho con trai thể hiện qua việc quyết tâm giữ lại mảnh vườn, dù bản thân có phải chịu đói khổ. Đặc biệt, tình cảm của lão đối với cậu Vàng khiến người đọc xúc động sâu sắc. Sau khi bán chó, lão dằn vặt, đau khổ như vừa đánh mất một người thân. Điều đó cho thấy lão là người sống rất tình nghĩa. Không chỉ vậy, lão còn là người có lòng tự trọng cao. Dù nghèo túng, lão nhất quyết không nhận sự giúp đỡ một cách dễ dãi, không muốn làm phiền người khác. Lão chọn cái chết như một cách giữ gìn phẩm giá, không trở thành gánh nặng cho ai. Qua nhân vật này, Nam Cao đã khắc họa chân thực và cảm động vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước Cách mạng.

Bên cạnh lão Hạc, nhân vật ông giáo cũng giữ vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt câu chuyện. Ông giáo là người kể chuyện, đồng thời là người chứng kiến và thấu hiểu nỗi khổ của lão Hạc. Qua cái nhìn của ông giáo, hình ảnh lão Hạc hiện lên chân thực và đầy cảm thông. Ông giáo cũng đại diện cho tầng lớp trí thức nghèo, có lòng trắc ẩn và suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời. Những triết lí như “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta…” đã thể hiện cái nhìn nhân đạo, bao dung của Nam Cao đối với con người.

Không chỉ thành công về nội dung, “Lão Hạc” còn nổi bật ở giá trị nghệ thuật đặc sắc. Nam Cao đã xây dựng nhân vật điển hình với những chi tiết chân thực, giàu sức gợi. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, đặc biệt là diễn biến nội tâm của lão Hạc sau khi bán chó, khiến người đọc không khỏi xót xa. Ngôn ngữ giản dị, gần gũi nhưng giàu sức biểu cảm, kết hợp hài hòa giữa tự sự và trữ tình, đã góp phần làm nên sức hấp dẫn của tác phẩm.

Có thể khẳng định rằng, “Lão Hạc” là một truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao. Tác phẩm không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống khốn khó của người nông dân mà còn làm nổi bật vẻ đẹp nhân cách của họ. Qua đó, nhà văn thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc và sự trân trọng đối với con người trong xã hội cũ.

Bài mẫu 7

Truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của nhà văn Khánh Hoài gửi gắm một bài học sâu sắc về giá trị của gia đình. Tổ ấm là nơi nuôi dưỡng tình cảm và tâm hồn mỗi con người, vì vậy cần được trân trọng và gìn giữ. Mỗi người không nên vì bất cứ lí do nào mà làm tổn thương đến những tình cảm tự nhiên, trong sáng, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ.

Nhan đề của truyện đã gợi ra nhiều ý nghĩa sâu xa. Những con búp bê vốn chỉ là đồ vật vô tri, không có cảm xúc nên không thể tự chia tay. Thế nhưng trong câu chuyện, sự chia lìa của hai con búp bê “Vệ Sĩ” và “Em Nhỏ” lại phản ánh nỗi đau chia cắt của hai anh em Thành và Thủy. Qua đó, tác giả đã mượn hình ảnh đồ vật để nói về nỗi đau của con người, khiến ý nghĩa của truyện trở nên sâu sắc và ám ảnh hơn.

Hai anh em Thành và Thủy vốn rất yêu thương, gắn bó với nhau. Nhưng vì bố mẹ ly hôn, họ buộc phải rời xa nhau. Khi nghe mẹ yêu cầu chia đồ chơi, cả hai đã nhận ra sự thật đau lòng ấy. Thủy “run lên bần bật”, ánh mắt đầy tuyệt vọng, còn Thành phải cố nén tiếng khóc nhưng nước mắt vẫn tuôn rơi. Những chi tiết miêu tả tâm lí tinh tế đã khắc họa rõ nỗi đau đớn, xót xa của hai đứa trẻ trước biến cố gia đình. Đó không chỉ là nỗi buồn mà còn là sự hoang mang, sợ hãi khi mất đi điểm tựa thân thuộc nhất.

Cảnh chia đồ chơi diễn ra đầy xúc động. Dù rất quý những món đồ của mình, Thành vẫn nhường hết cho em, từ những vật nhỏ bé như bộ bài, con ốc biển cho đến hai con búp bê. Ngược lại, Thủy cũng không muốn nhận hết mà chỉ mong anh được vui. Qua đó có thể thấy tình cảm anh em sâu sắc, chân thành và giàu sự hi sinh. Sau đó, Thành đưa em đến trường chia tay thầy cô, bạn bè. Hình ảnh Thủy đứng lặng ngoài cửa lớp, “cắn chặt môi”, rồi bật khóc khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào. Việc em không dám nhận quà của cô giáo vì không còn được đi học nữa càng làm nổi bật hoàn cảnh đáng thương và thiệt thòi của một đứa trẻ.

Đỉnh điểm của truyện là cảnh chia tay cuối cùng. Khi chiếc xe tải đến, mọi việc diễn ra quá đột ngột khiến hai anh em bàng hoàng. Thủy vội vàng đưa con búp bê Vệ Sĩ cho anh, rồi lại quay lại đưa cả Em Nhỏ và dặn anh không để chúng xa nhau. Hành động ấy thể hiện mong muốn sâu kín của em: không muốn tình cảm anh em bị chia cắt. Chi tiết này vừa hồn nhiên vừa đau đớn, khiến câu chuyện trở nên day dứt. Hình ảnh “chiếc xe tải rồ máy… phóng đi mất hút” khép lại truyện trong nỗi buồn ám ảnh, để lại dư âm sâu sắc trong lòng người đọc.

Bằng giọng văn giản dị, chân thành cùng cách xây dựng tình huống giàu cảm xúc, Khánh Hoài đã làm nổi bật giá trị của tình cảm gia đình. “Cuộc chia tay của những con búp bê” không chỉ là câu chuyện về nỗi đau chia ly mà còn là lời nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng, gìn giữ tổ ấm của mình. Bởi gia đình chính là nơi bình yên nhất, là điểm tựa quan trọng trong cuộc đời mỗi con người.

Bài mẫu 8

Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh không chỉ là một câu chuyện cổ tích, mà còn là một tác phẩm vĩ đại trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, gợi nhớ cho chúng ta những giá trị truyền thống và lòng kiên cường của nhân dân trước thiên nhiên hung bạo. Bắt đầu với viễn cảnh thời đại cổ xưa của Văn Lang, câu chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh bắt đầu với việc vua Hùng muốn chọn một chàng rể phù hợp cho công chúa Mị Nương. Trong viễn cảnh này, chúng ta thấy được tầm quan trọng của núi non và nhân dân, được đặt lên hàng đầu trong lòng vua. Sự lựa chọn của vua Hùng với lễ vật đơn giản, gần gũi như ''voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao'' cho thấy sự sáng tạo của tác giả trong việc diễn đạt các chi tiết văn hóa và xã hội của thời đại đó.

Khi Thủy Tinh gọi mưa và gió, và nước dâng cao, việc Sơn Tinh đáp trả bằng cách dời núi non lên cao thêm, tạo thành bức tranh sống động về cuộc đối đầu giữa con người và thiên nhiên. Cách mà người dân Văn Lang và Sơn Tinh đồng lòng đồng dạng, không chịu khuất phục trước thiên tai, đã tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ về lòng đoàn kết và lòng kiên cường của nhân dân Việt Nam.

Những chi tiết kỳ ảo như việc Sơn Tinh dời núi non và Thủy Tinh gọi mưa gió không chỉ tạo nên hình ảnh của một thiên tai tức giận, mà còn là biểu hiện của lòng bất khuất của con người. Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh không chỉ là câu chuyện về hai vị thần, mà còn là câu chuyện về lòng quyết tâm, lòng kiên cường và lòng đoàn kết của nhân dân trước mọi khó khăn và thử thách.

Với sự sáng tạo trong lối diễn đạt và việc sử dụng những chi tiết hấp dẫn, truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh đã trở thành một biểu tượng của lòng kiên nhẫn và lòng đoàn kết của người Việt Nam trước những thách thức của cuộc sống. Câu chuyện này không chỉ là một phần của quá khứ, mà còn là nguồn động viên và sự tự hào cho thế hệ người Việt hiện nay. Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh là một hòa quyện của văn hóa và tâm hồn Việt Nam, một câu chuyện sâu sắc về lòng đoàn kết và lòng kiên cường của nhân dân trước sức mạnh tự nhiên. Trong văn chương dân gian này, không chỉ có những nhân vật thần thoại đầy quyền lực, mà còn là những dấu tích của tư duy, lòng trung hiếu và lòng quyết tâm không ngừng của những người xưa.

Bài mẫu 9

Để có một cuộc sống tốt đẹp như ngày hôm nay những thế hệ cha anh chúng ta đã phải đánh đổi biết bao máu xương và tuổi trẻ của họ. Họ là những chiến sĩ thanh niên xung phong đã chẳng vất vả hy sinh tuổi xuân để lên đường theo tiếng gọi của tổ quốc. Những con người trân quý ấy đã được nữ nhà văn Lê Minh Khuê phác họa lại trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” để chúng ta, những người được hưởng nền hòa bình độc lập tự do ngày hôm nay được biết đến và dành cho họ những tình cảm, sự tri ân chân thành nhất.

Tác phẩm là câu chuyện về ba người con gái sống dưới hang đá ngày đêm làm những công việc vô cùng nặng nhọc và nguy hiểm. Những tưởng công việc phá bom, đo lượng đất đá là để dành cho những đấng mày râu sức dài vai rộng vậy mà ở đây những cô gái lại có thể làm tốt công việc này. Đó là ba cô gái Phương Định, chị Nho và Thao.

Họ đều có chung một vẻ đẹp là gan dạ và dũng cảm trên chiến trường. Họ được gọi là tổ trinh sát mặt đường. Họ gỡ mìn dứt khoát, luôn lo lắng cho nhau và nhận trách nhiệm về mình. Sau những giờ căng thẳng trên cao xạ, họ trở về hang giống như một con người khác. Họ chơi đùa với nhau, họ đều có mơ ước, đều mơ mộng và vui vẻ.

Phương Định là cô gái khá xinh, đôi mắt giống như những ngôi sao trên bầu trời vậy. Cô thường nhớ về quá khứ của mình, nơi Hà Nội cổ kính, cô thường hát nghêu ngao khiến cho bác sĩ già bên cạnh không thể nào ngủ nổi. Cô vui khi có cơn mưa đá ở Hà Nội. Cô nhớ về mẹ, nhớ những nếp nhà mái đỏ. Cô thích hát nhưng chẳng thuộc bài nào ra hồn, có lúc cô chế cả lời bài hát. Cô ước mơ mai nay trở thành một người hát trong đội đồng ca hoặc một kiến trúc sư.

Chị Thao đã có chồng, chị mong muốn mai này chồng của mình sẽ làm đại úy còn mình thì làm y sĩ. Chị không biết hát nhưng thích chép lời bài hát, thậm chí còn chép cả lời bịa của Phương Định. Chị gan dạ trên chiến trường nhưng lại sợ con vắt. Chị thích tỉa tót đôi lông mày của mình nhỏ như tăm.

Nhân vật thứ ba là Nho. Cô nàng này rất cá tính và đôi chút bướng bỉnh. Nho thích thêu thùa nhưng toàn thêu những thứ hoa lòe loẹt, mỗi khi người khác chê Nho mặc kệ cùng lắm Nho chỉ nói để cho nó nổi. Nho không thích lấy chồng, hàng ngày vẫn có anh chàng nọ viết thư cho cô. Cô ước mơ mai này trở thành một tay bóng chuyền trong đội tuyển quốc gia.

Ba nhân vật, ba tính cách khác nhau thế nhưng họ đều đại diện cho thế hệ trẻ Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ, gan dạ kiên cường trên chiến trường nhưng cũng lạc quan, yêu đời và mơ mộng những lúc không có bom đạn. Họ như những ngôi sao sáng của bầu trời cách mạng Việt Nam.

Bài mẫu 10

Ở một xứ sở có hai mùa phân biệt luôn luôn luân chuyển như ở nước ta, nhất là miền Bắc, chúng ta hẳn không ngỡ ngàng gì lắm với cảnh cây thay lá mỗi khi tiết trời thay đổi. Ấy thế mà “Chiếc lá cuối cùng” của O Hen-ri lại không ngớt làm tôi ngạc nhiên thích thú. Bởi đó là một truyện ngắn rất giàu kịch tính. Nó là một chuỗi liên tiếp và là sự đan cài khéo léo, phức tạp các yếu tố bất ngờ mả chỉ đến câu cuối cùng của tác phẩm, cái nút mới được tháo gỡ.

Câu chuyện xoay quanh một chiếc lá, chiếc lá có lẽ không quá nhỏ nhưng cũng chẳng lớn lao gì mấy để cho người ta, qua một cái sân rộng chừng sáu thước, có thể quan sát được dễ dàng. Đó là chiếc lá cuối cùng của “một cây leo già cỗi, tàn héo, cạn nhựa sống, rễ đầy những bướu”, khẳng khiu, trơ trụi, bám hững hờ vào lưng chừng bức tường thấp phía trước mặt, qua cửa sổ căn phòng của đôi bạn nữ họa sĩ.

Chiếc lá tội nghiệp ấy liệu còn có thể bám víu vào cái cây leo gầy guộc kia được bao lâu nữa mới gánh nặng của những cơn gió bấc rét cắt ruột, những trận mưa đập ào ạt, dai dẳng trên cửa sổ, trên mái hiên, những đợt tuyết rơi…? Trong thực tế, thì chỉ qua ba, bốn ngày gần đây, hàng trăm chiếc lá của chính cái cây ấy đã vĩnh viễn lìa đời. Hình tượng chiếc lá lắt lẻo trên một dây leo héo hắt khiến tôi nghĩ đến một cuộc sống tàn lụi, mong manh, bị vùi dập phũ phàng mà vẫn gắng chịu đựng, dũng cảm tồn tại.

Chẳng phải là vô tình, khi chiếc lá cuối cùng ấy lọt vào mắt mọi người ở đây – nhất là Xiu lúc này đang lo lắng theo dõi cái nhìn của cô bạn gái. Vì nó gắn liền với cái cây leo thân yêu của Giôn-xi. Cũng vì nó gợi nhớ đến hiện trạng của chính Giôn-xi đang bị đánh gục bởi những ngón tay buốt giá của “gã viêm phổi”.

Nó sẽ rụng. Nhưng, vào lúc nào? Sự tồn tại hay không tồn tại của nó có ý nghĩa gì đối với những người đang hằng ngày hằng giờ khắc khoải ngóng nhìn nó? Cái tất nhiên hình như đang treo lại lơ lửng đấy, hứa hẹn những điều bất ngờ khiến ta phải nín thở mà theo dõi.

Bất ngờ đã đến. Nhưng đến theo một cách khác, người dự đoán: qua một đêm mưa to gió lớn, “chiếc lá cuối cùng” vẫn còn đó, nổi bật trên tường gạch, hơn nữa, còn thấy rõ là “chỗ gần cuống lá non xanh thẫm, nhưng đường viền răng cưa xung quanh đã nhuốm màu vàng…”.

Hãy quan sát kĩ mà xem! Kì lạ thật, nhưng khó mà nghi ngờ. Hình ảnh hiện ra cụ thể, lặng lẽ như sự thật hiển nhiên không cần biện bạch. Hôm sau thế. Hôm sau nữa vẫn thế. Người ta buộc phải tin. Hầu như chẳng ai băn khoăn về sự tồn tại phi lí đó.

Nhưng, khi mọi tình huống căng thẳng đã dịu bớt – Giôn-xi đã thoát hiểm, bác Bơ-men đã mất sau hai ngày ốm, bất ngờ mới lại xuất hiện, bừng sáng lên và chấm dứt luôn câu chuyện. Bắt đầu từ một sự việc có vẻ chẳng liên quan gì đến chiếc lá của chúng ta: cái chết của ông già Bơ-men. Vì sao bác chết? Những thứ đồ đạc mới dùng xong, còn đế ngổn ngang, chưa kịp thu dọn, có thể gợi lên những suy đoán gì?

Bác đã làm những gì để đến nỗi phải ốm chết? Cái chết của bác có ý nghĩa, giá trị gì? Nhiều câu hỏi đặt ra và sẽ được trả lời đầy đủ. Chỉ biết rằng, từ cái chết của lão họa sĩ này, kết luận cuối cùng về “chiếc lá cuối cùng” kia là: đó là một chiếc lá giả, vẽ thần tình và đặt đúng chỗ đến nỗi nếu không thật tinh thì không tài nào nhận ra.

Vấn đề lúc này không ở chỗ giả hay thật; mà ở chỗ: kiệt tác do con người tạo ra đã kế tục và thay thế rất có hiệu quả kiệt tác của tự nhiên. Kiệt tác ấy, bản thân nó là vô giá. Vả lại, chính nhờ nó, một con người – một tài năng nghệ thuật biết đâu – đã hồi sinh.

Con người ấy là Giôn-xi lúc này đang nằm bất động trên chiếc giường sắt quét sơn, đưa mắt qua những ô cửa nhỏ nhìn sang bức tường trống. Cô gái bé nhỏ này vốn đã khô gầy, lại viêm phổi nặng, xem ra khó hề qua khỏi, mạng sống mười phần chưa chắc đã hi vọng được một.

Đến chỗ dựa là dấu hiệu bình thường nhất của lòng yêu đời – sự quan tâm đến một người đàn ông, đến thời trang của phụ nữ chẳng hạn – cũng lại thiếu nốt. Khát khao về nghệ thuật đối với cô bé này, chỉ nó không thôi, chưa đủ đế cân bằng với chín phần, chắc chắn mà tử thần đã nắm. Ngọn lửa leo lét như đang lụi dần theo thời gian, chỉ chực bùng lên một lần chót trước khi tắt ngấm.

Giôn-xi đã bùng lên thật! Cô mở to mắt. Cô đăm đăm nhìn ra phía cửa sổ. Cô khe khẽ đếm ngược các con số – những chiếc lá còn sót lại trên cây. Với một ý thức rõ ràng, cô đang nhắm đếm những bước tiến đến cái chết đang chực sẵn. Chiếc lá cuối cùng nhất định sẽ rụng nốt. Cái chết nhất định sẽ không thể tránh khỏi đối với Giôn-xi. Nhưng nó sẽ đến vào lúc nào? Có đúng là vào ngày “hôm nay” trước khi trời tối như phỏng đoán của Giôn-xi không? Không khí nặng nề, căng thẳng đến nỗi Xiu phải cố gắng và khéo léo làm dịu bớt.

Cái phải đến đã không chịu đến, đơn giản, chóng vánh như mọi người vẫn tưởng. Phải chăng đấy cũng có thể gọi là một bất ngờ? Dẫu sao, nó làm chùng xuống mọi căng thẳng trong Giôn-xi đến nỗi cô gái muốn rũ bỏ hết – kể cả sự quan tâm đến cái chết. Chính lúc đó cô thật sự chẳng còn thiết tha với cái gì nữa, cô đã được giải phóng khỏi nỗi ám ảnh về cái chết – tác động tâm lí có thể làm giảm đến năm mươi phần trăm công hiệu của thuốc men.

Lại một bất ngờ nữa? Rất có thể. Cái tương quan sống – chết quá chênh lệch ban đầu, Giôn-xi đang tự điều chỉnh dần theo hướng tích cực mà không tự biết, đúng vào thời điểm quan trọng nhất, lúc mà mọi việc có thể hoàn toàn đảo ngược lại theo cái logic chủ quan của cô bé họa sĩ. Cái đôi mắt mở to không hồn như bị hút vào chiếc rèm xanh che cửa sổ, có lẽ không phải chỉ là do ý thức.

Giôn-xi đã ngạc nhiên trước thực tế. Nhưng phải qua thời gian, qua nhiều thử thách nữa, cô mới thốt lên được cái câu nặng ý nghĩa: “Muốn chết, đó là một tội lỗi”. Trở lại với những nhu cầu cụ thể hằng ngày (muốn ăn, uống, muốn soi gương, muốn ngồi dậy xem nấu nướng…), những ước mơ, hoài bão chân chính, Giôn-xi bước một bước quyết định qua ranh giới của cái chết để bước vào lãnh địa của cái sống.

Đó là điều không ai dự đoán được, kể từ ông bác sĩ đã chẩn đoán cho Giôn-xi. Cho đến khi Giôn-xi “nằm vui vẻ đan một cái khăn quàng lên để phủ lên vai, màu xanh ngắt và chẳng dùng làm gì được” thì không còn gì để có thế đánh ngã cô được nữa.

Lùi trong hậu trường, mãi gần cuối tác phẩm, ẩn sâu trong cái hang tối mờ mờ – căn gác hai của tòa nhà, là một ông già khoảng lục tuần, râu tóc bờm xờm nửa thần nửa quỷ, đang đương đầu với giá rét bằng bộc một chiếc sơ mi cũ màu xanh. Bác Bơ-men đấy! Nhà nghệ sĩ nghèo cô độc này, say nhiều hơn tính, gần hết cuộc đời chưa sáng tạo nên được một cái gì hẳn hoi.

Cái khung vải căng sẵn trên giá vẽ từ hai mươi nhăm năm nay cơ hồ bị bỏ quên và chắc gì đã không khiến cho nhiều người xung quanh mỉm cười hoài nghi? Cũng may mà đối với ông già tốt bụng, người ta còn chưa nỡ giễu cợt. Còn có gì đáng để ý, còn có gì đáng trông đợi ở con người đáng thương này?

Thậm chí cả đến lúc bác bất bình “đỏ mắt lên, giàn giụa nước mắt”, hét tướng lên trước cái ý nghĩa “ngớ ngẩn” của Giôn-xi, của cả Xiu nữa, chẳng ai lấy làm lạ. Huống hồ là cái lúc bác cùng Xiu ngó ra ngoài cửa sổ, “sợ hãi nhìn cái cây leo và lặng lẽ nhìn nhau một lát”… Nhưng mọi chuyện lại bắt đầu chính từ lúc này.

Chỉ sau cái chết thảm vì bệnh viêm phổi của bác, căn cứ vào những dấu tích bác còn để lại – từ chiếc đèn bão còn leo lét cháy, đến chiếc thang đã bị xê dịch, đến những chiếc bút vẽ và bảng pha màu vứt bừa bãi, người ta mới đoán ra: chính bác đã vẽ “chiếc lá cuối cùng” lên bức tường, chỗ cây leo.

Chiếc lá vẽ giống hệt như thật, đặt đúng chỗ chiếc lá thực mới lìa cành. Tất cả được hoàn thành cấp tốc chỉ trong một đêm với một mình bác Bơ-men dưới ánh đèn nhập nhoạng và dưới mưa đêm lạnh thấu xương. Toàn bộ công trình được xếp đặt tài tình đến nỗi, sáng hôm sau, con mắt của những nhà chuyên nghiệp như Xiu, như Giôn-xi, dù đã quan sát kĩ cũng chịu không phân biệt được.

Ngay chính Xiu cũng không kịp nhớ lại để hoài nghi. Cái có bất ngờ nào thú vị hơn? Nhưng, chưa hết! Bất ngờ này mới thực là trọng đại: chiếc lá âm thầm ấy đã đảo ngược tình thế, đã cứu thoát một con người chỉ còn hi vọng sống có một phần mười!

Quả là một kiệt tác vô song. Đấy là hiện thân nỗi khát vọng một đời của bác Bơ-men, hay đấy chính là hóa thân của bác Bơ-men? Bức vẽ chiếc lá trên tường được đánh đổi bằng cuộc sống và cái chết của lão nghệ sĩ đáng kính. Đấy là di sản vô giá kết tinh tấm lòng và tài năng, thứ nghệ thuật phục vụ thiết thực cho đời và tinh thần vị tha không gì sánh kịp của bác Bơ-men.

Truyện ngắn đầy kịch tính, chứa chan ý vị nhân văn cao cả của O Hen-ri đã đột ngột kết thúc sau khi toàn bộ sự việc đã sáng tỏ. Những dư âm của nó như còn ngân vang mãi, nâng thêm lên trong ta khát vọng không cùng sống, và sống có ích, cho người, cho đời…

Bài mẫu 11

Nguyễn Quang Thiều là một tác giả nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam, được biết đến với nhiều tác phẩm đặc sắc cho thiếu nhi. Trong đó, Bầy chim chìa vôi là một trong những tác phẩm hay nói về những nghĩa cử cao đẹp của trẻ em, là một tấm gương sáng cho nhiều người học hỏi.

Tình huống truyện được tác giả xây dựng là vào một đêm mưa bão, lúc 2 giờ sáng nhân vật người em - Mon tỉnh giấc. Thấy trời đang mưa to, người em lại lo lắng cho những chú chim chìa vôi con ở ngoài bờ đê. Nó sợ chúng sẽ bị ngập nước rồi chết rét mất. Vậy là, Mon gọi anh trai của mình là Mên, muốn cùng anh ra ngoài đó để cứu những chú chim con. Bằng những câu hỏi dồn dập như “Anh bảo mưa có to không?”, “Nhưng anh bảo ước sông có lên to không?”, Mon đã thể hiện được sự lo lắng và vội vàng của mình. Tuy nhiên, đang trong giấc ngủ bị gọi dậy, người anh có vẻ cáu gắt lên tiếng nạt em mình: “Bảo cái gì mà bảo lắm thế”. Ban đầu, người đọc có thể cảm thấy nhân vật anh khá “phản diện”, tuy nhiên, đây là phản ứng bình thường của một đứa trẻ gắt lên khi bị làm phiền. Nhất là ngay sau đó, khi biết được vấn đề của em trai, người anh cũng mềm lòng và quyết định theo em ra bờ sông để xem những chú chim nhỏ.

Qua tình huống truyện trên, tác giả đã cho người đọc thấy được tình yêu thương động vật của hai đứa trẻ dù chẳng lớn tuổi. Chúng bất chấp tất cả dù là nửa đêm, dù là mưa bão vẫn cố gắng cứu những chú chim nhỏ tội nghiệp. Cảnh cuối cùng, khi mặt trời bắt đầu hửng nắng, mưa đã tạnh, những chú chim vươn cánh bay đi. Lúc này, hai anh em đứng dưới ánh nắng sớm, ngẩng mặt lên nhìn chúng và cảm động đến chảy nước mắt. Chúng không làm việc cao cả quá, nhưng chính những điều nhỏ nhặt ấy đã cứu những chú chim khỏi cảnh chết đuối.

Nhờ sự cứng cáp trong việc miêu tả nhân vật, tác giả Nguyễn Quang Thiều đã cho người đọc thấy được một bức tranh cảm động về hai anh em và bầy chim chìa vôi ở ngoài sông. Từ đó, tình thương của con người cũng được thể hiện rõ, từ những đứa trẻ và từ những loài vật nhỏ.

Bài mẫu 12

Đoạn trích "Đi lấy mật" được trích trong tiểu thuyết "Đất rừng phương Nam" của nhà văn Đoàn Giỏi. Thông qua câu chuyện ba cha con vào rừng đi lấy mật, tác giả đã làm nổi bật hình tượng nhân vật An với nhiều phẩm chất trong sáng, tốt đẹp.

Trước hết, An là một cậu bé yêu thiên nhiên và có những quan sát vô cùng tinh tế. Dưới con mắt của An, rừng núi U Minh hiện lên với vẻ hoang sơ, kì vĩ song cũng rất thơ mộng, trữ tình. Trên đường đi lấy mật, cậu luôn chăm chú, để ý khung cảnh xung quanh. Bằng cách sử dụng ngôi kể thứ nhất, bức tranh thiên nhiên rừng U Minh được thu vào đôi mắt hồn nhiên của An. Các đoạn văn miêu tả như những thước phim quay chậm vô cùng sống động, sắc nét. An đưa mắt quan sát ở trên cao với hình ảnh bầu trời "Ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng có cảm giác như nó là bao qua một lớp thủy tinh.". Cậu tiếp tục cảm nhận thiên nhiên bằng khứu giác, xúc giác, thị giác: "ăn xong, bấy giờ bóng nắng mới bắt đầu lên. Gió cũng bắt đầu thổi rao rao theo với khối mặt trời tròn đang tuôn ánh sáng vàng rực xuống mặt đất. Một làn hơi đất nhè nhẹ tỏa lên, phủ mờ những bụi cây cúc áo, rồi nhè nhẹ tan dần theo hơi ấm mặt trời.",... Màu sắc, đặc điểm của sự vật, hiện tượng được miêu tả chi tiết cho thấy sự nhạy cảm trong tâm hồn của nhân vật An.

Tiếp đến, An rất ham học hỏi, tìm hiểu mọi thứ xung quanh. Lần đầu tiên, An được theo tía nuôi vào rừng lấy mật. Trên quãng đường đi, An luôn nhớ lại những lời má nuôi kể về cách gác kèo ong như thế nào. Thậm chí, An đã có những so sánh giữa việc học trong sách với thực tiễn bên ngoài. Cậu nhận ra việc học trong sách giáo khoa chỉ có những khái niệm chung chung về loài ong, không giống như cách má nuôi bảo. Qua đoạn trích An nhớ lại những lời má nuôi kể, ta có thể thấy cậu đặt ra rất nhiều những câu hỏi thể hiện sự tò mò và mong muốn tìm hiểu thế giới xung quanh. Cuối cùng, cậu đã đúc kết ra được sự khác biệt trong cách "thuần hóa" ong rừng của người dân vùng U Minh so với những cách nuôi ong trên thế giới: "Không có nơi nào, xứ nào có kiểu tổ ong hình nhánh kèo như vùng U Minh này cả.".

Có thể thấy, nhà văn Đoàn Giỏi đã xây dựng thành công nhân vật An thông qua lời nói, hành động cụ thể kết hợp với ngôi kể thứ nhất. Qua nhân vật An, tác giả đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, con người sâu sắc và ngợi ca tâm hồn trong sáng của trẻ thơ.

Bài mẫu 13

Thanh Tịnh đã diễn tả được những kỉ niệm trong sáng của tuổi học trò, đặc biệt là buổi đầu đi học qua dòng suy tư, hồi tưởng của nhân vật tôi trong truyện ngắn “Tôi đi học”.

Mở đầu, tôi đã nhắc đến cơ sở để nhớ lại những kỉ niệm của buổi tựu trường. Đó là thời gian, không gian quen thuộc: “hằng năm cứ vào cuối thu khi lá ngoài đường rụng nhiều, trên không có những đám mây bàng bạc” hay hình ảnh vẫn thường thấy: “những em bé núp dưới nón mẹ trong buổi đầu đến trường”. Trong lòng của nhân vật tôi lúc này: “lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man”, “quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy”, “lòng tôi lại tưng bừng rộn rã”. Các từ láy được sử dụng để diễn tả tâm trạng, cảm xúc của nhân vật khi nhớ lại buổi tựu trường như nao nức, mơn man, tưng bừng, rộn rã,… đã góp phần thể hiện sự chuyển biến của tâm trạng từ trong sâu kín đang dần bộc lộ ra bên ngoài. Đó là những cảm xúc trong sáng, thuần khiết biết bao.

Tiếp đến, nhân vật tôi hồi tưởng lại kỉ niệm khi cùng mẹ đến trường. Cảnh vật, con đường vốn đi lại nhiều lần nhưng hôm nay bỗng nhiên thấy lạ. Tôi cũng cảm nhận thấy bản thân dường như đã thay đổi: “Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn hơn”. Đặc biệt suy nghĩ của tôi khi muốn thử sức tự cầm sách vở. Và chính bản thân tôi cũng cảm thấy bỡ ngỡ trong buổi đầu đến trường.

Khi đến trường, khung cảnh trước sân trường Mĩ Lí dày đặc người, ai cũng quần áo sạch sẽ. Không khí tựu trường vui tươi, nhộn nhịp. Điều đó khiến tôi cảm thấy bỡ ngỡ, có chút rụt rè. Đến khi ông đốc gọi tên, tôi lo sợ và nép vào lòng mẹ bật khóc. Nhưng những lời an ủi của ông đốc vang lên khiến đám học sinh an tâm hơn, theo thầy giáo bước vào lớp học.

Khi ngồi trong lớp học, tôi đã cảm thấy mùi hương lạ xông vào lớp học, ngắm nhìn mọi vật xung quanh, không cảm thấy xa lạ với người bạn bên cạnh, nhìn theo cánh chim ngoài kia để nhớ lại kỉ niệm cũ. Và rồi, tôi trở lại với không khí của lớp học: “Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đánh vần đọc: Bài viết tập: Tôi đi học”. Đó là cách kết thúc tự nhiên, bất ngờ. Dòng chữ: “Tôi đi học” khép lại truyện ngắn nhưng mở ra một bầu trời mới.

Văn bản Tôi đi học đã nói hộ được những suy nghĩ và tình cảm của rất nhiều người đọc: những cảm xúc của buổi đầu tựu trường, gợi lên trong mỗi người nhớ về những kỉ niệm đó.

Bài mẫu 14

Với tài năng và phong cách độc đáo của mình, Nguyễn Tuân đã xây dựng nên một tình huống truyện đặc sắc trong “Chữ người tử tù”. Đối với truyện ngắn, tình huống truyện giữ vai trò then chốt vì nó làm nổi bật xung đột, giúp cốt truyện vận động và bộc lộ sâu sắc tính cách nhân vật cũng như tư tưởng của nhà văn.

Trong tác phẩm, tình huống truyện xoay quanh cuộc gặp gỡ đầy éo le giữa Huấn Cao và viên quản ngục. Đây là một tình huống nghịch lí: một bên là tử tù – người đứng đầu cuộc nổi loạn chống triều đình, một bên là quản ngục – đại diện cho quyền lực nhà tù phong kiến. Trên phương diện xã hội, họ ở hai vị thế hoàn toàn đối lập, tưởng chừng không thể có sự đồng điệu. Chính sự đối lập đó đã tạo nên kịch tính và sức hấp dẫn cho câu chuyện, đồng thời mở ra cơ hội để vẻ đẹp nhân cách được bộc lộ.

Huấn Cao hiện lên là một con người tài hoa, khí phách và có thiên lương trong sáng. Ông không chỉ nổi tiếng với tài viết chữ đẹp mà còn mang cốt cách của một bậc anh hùng, “uy vũ bất năng khuất”. Dù ở trong hoàn cảnh bị giam cầm, đối diện với cái chết, Huấn Cao vẫn giữ được sự hiên ngang, coi thường quyền lực tầm thường. Trái lại, viên quản ngục tuy sống trong môi trường đầy tăm tối, xấu xa nhưng lại có tâm hồn biết hướng thiện, biết trân trọng cái đẹp và người tài. Chính tấm lòng ấy đã khiến ông biệt đãi Huấn Cao, bất chấp vị thế đối lập của mình. Qua đó, Nguyễn Tuân đã khắc họa một nghịch lí sâu sắc: có những con người tưởng như ở “bên kia chiến tuyến” nhưng lại gặp nhau ở điểm chung là tình yêu cái đẹp và nhân cách cao quý.

Diễn biến của tình huống truyện được đẩy lên cao trào ở cảnh cho chữ – một cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”. Trong không gian ngục tù tối tăm, bẩn thỉu, hình ảnh Huấn Cao ung dung cho chữ, còn quản ngục và thầy thơ lại khúm núm, kính cẩn đã tạo nên sự đảo lộn trật tự thông thường. Đây không chỉ là sự chiến thắng của cái đẹp trước cái xấu, mà còn là sự chiến thắng của ánh sáng lương tri trước bóng tối của tội ác. Qua cảnh tượng này, vẻ đẹp của Huấn Cao được tỏa sáng trọn vẹn, đồng thời nhân cách của quản ngục cũng được nâng cao khi biết hướng về điều thiện.

Thông qua tình huống truyện độc đáo ấy, Nguyễn Tuân đã thể hiện quan niệm sâu sắc về con người và cái đẹp. Ông khẳng định rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào, cái đẹp và thiên lương vẫn có thể tồn tại, thậm chí tỏa sáng mạnh mẽ. Đồng thời, nhà văn cũng kín đáo bày tỏ lòng trân trọng đối với những con người tài hoa, khí phách – những giá trị tinh thần quý báu của dân tộc.

Có thể nói, bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc cùng lối viết tài hoa, giàu chất tạo hình, Nguyễn Tuân đã tạo nên một tác phẩm giàu giá trị. “Chữ người tử tù” không chỉ hấp dẫn bởi cốt truyện kịch tính mà còn để lại ấn tượng sâu sắc bởi vẻ đẹp của con người và tư tưởng nhân văn cao cả.

Bài mẫu 15

Tạ Duy Anh là một cây bút trẻ thời kỳ đổi mới. Các tác phẩm của ông đã để lại nhiều ấn tượng với bạn đọc. Một trong số đó là truyện ngắn “Bức tranh của em gái tôi”. Tác phẩm đã khắc họa tình cảm trong sáng hồn nhiên và lòng nhân hậu của người em gái. Từ tình cảm đó đã giúp cho người anh nhận ra phần hạn chế ở chính.

Truyện xoay quanh nhân vật người anh và cô em gái nhỏ có tài năng hội hoạ. Hai anh em đã rất thân thiết với nhau cho đến khi tài năng hội hoạ của em mình được phát hiện, người anh đã ghen tị và trở nên gắt gỏng với em. Từ đó hai anh em cũng không còn chơi với nhau như trước nữa. Cho đến tận khi đứng trước bức tranh vẽ mình của em gái người anh mới hiểu ra tình cảm của em, thấy day dứt và có lỗi với em. Từ đây, người anh cũng nhận ra được những yếu kém của mình, đồng thời cũng hiểu được tâm hồn cũng như tấm lòng nhân hậu của em.

Trước hết là nhân vật người anh, khi thấy em gái mình chế màu vẽ, người anh đã tỏ ý xem thường và gọi em gái là Mèo. Khi tài năng hội họa của em gái được phát hiện người anh tỏ thái độ không vui và ghen tị với Kiều Phương. Từ đây, tình cảm giữa hai anh em đã không còn thân thiết như trước. Người anh vốn đã coi thường em gái, cho em gái là đồ nghịch bẩn; nay bỗng dưng em lại thua kém em gái, đó là điều mà em cảm thấy khó chấp nhận nhất. Sự mặc cảm, tự ái trong người anh diễn ra rất tự nhiên, rất phù hợp với tâm lý lứa tuổi như các em.

Đến khi người anh nhận ra nhân vật chính trong bức ảnh đạt giải nhất của Kiều Phương chính là mình, người anh đã đi từ ngỡ ngàng đến hãnh diện và sau cùng là xấu hổ. Đó là cái ngỡ ngàng vì không nghĩ rằng trong mắt em gái mình lại toàn mỹ đến thế. Hãnh diện vì tài năng của em mình, vì sự hoàn hảo của mình trong bức tranh. Bức tranh "Anh trai tôi" là hình ảnh một cậu bé đang nhìn ra ngoài cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh. Mặt chú bé như tỏa ra một thứ ánh sáng rất lạ, toát lên ở tư thế ngồi là sự mộng mơ của một tâm hồn thơ bé. Đó là một người anh trong những suy nghĩ và có cả sự tưởng tượng của người em gái. Chính điều đó đã làm cho niềm vui, niềm hạnh phúc của người anh chuyển thành xấu hổ. Dưới con mắt của em gái, người anh thật hoàn hảo, nhưng thực tế người anh chưa làm được những gì xứng đáng với suy nghĩ của người em. Trước bức tranh của em gái, người anh đã nhận ra những khuyết điểm của mình đồng thời cũng hiểu được tình cảm của em.

Trái ngược với người anh, Kiều Phương được miêu tả là một cô bé vô cùng dễ thương. Hai anh em luôn sống vui vẻ, yêu thương, hoà thuận với nhau từ nhỏ. Anh trai cô hay gọi cô là Mèo vì cô hay bày trò pha màu, tô vẽ làm bẩn chính mình khi vẽ. Nhưng Kiều Phương chưa bao giờ buồn và vẫn kiên trì với niềm đam mê của mình. Đến khi tài năng của Phương được phát hiện cả nhà đã vô cùng xúc động chúc mừng cô bé nhưng anh trai cô lại tỏ ra ghen tị và cảm thấy bản thân mình kém cỏi. Quan hệ giữa hai anh em từ đây mà trở nên không còn thân thiết. Người anh thường xuyên kiếm cớ cáu giận, quát mắng Phương. Hành động của anh đã khiến cô bé rất buồn, thậm chí có chút không dám lại gần anh. Nhiều hôm cô thấy anh trai ngồi bên cửa sổ mặt mơ màng suy nghĩ vẩn vơ một điều gì đó. Cô bé không biết anh lo lắng hay nghĩ ngợi điều gì, muốn hỏi anh trai mình nhưng lại sợ bị mắng nên thôi. Bằng tất cả tình yêu thương, Kiều Phương đã vẽ lại dáng vẻ thẫn thờ đó của anh mình bên bàn học. Bức tranh “Anh trai tôi” của Phương đã đạt giải cao nhất trong cuộc thi vẽ tranh đó. Điều đó khiến anh trai cô bé rất ngỡ ngàng, hạnh phúc rồi đến xấu hổ.

Bức tranh của em gái tôi là một câu chuyện cảm động về tình cảm anh em sâu đậm. Truyện đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng những độc giả yêu thích tác phẩm của Tạ Duy Anh.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 6 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 6 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...