(35+ mẫu) Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích hay nhất - Ngữ văn 6


Tôi là một cây khế già. Từ lúc sinh ra, tôi đã được chứng kiến rất nhiều chuyện. Ngày hôm nay, tôi sẽ kể cho các bạn nghe về cuộc đời của hai người chăm sóc cho tôi.

Tổng hợp đề thi giữa kì 2 lớp 6 tất cả các môn - Kết nối tri thức

Toán - Văn - Anh - KHTN...

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Bài mẫu 1

Tôi là một cây khế già. Từ lúc sinh ra, tôi đã được chứng kiến rất nhiều chuyện. Ngày hôm nay, tôi sẽ kể cho các bạn nghe về cuộc đời của hai người chăm sóc cho tôi.

Người đầu tiên là một chàng trai hiền lành và chăm chỉ. Sau khi cha qua đời, anh ta bị anh trai cướp hết đất đai, tiền bạc, chỉ phân cho một túp lều cũ và một cây khế lớn - chính là tôi. Ngày ngày, hai vợ chồng anh ta đi làm thuê rất vất vả, nhưng vẫn dành thời gian để chăm bón cho tôi. Chắc là họ rất kì vọng đến mùa trái chín, để có thể đem khế ra chợ bán kiếm thêm thu nhập. Thấu hiểu tấm lòng của họ, tôi ra sức hút chất dinh dưỡng từ đất đai để cho ra thật nhiều trái ngọt. Đến mùa quả, tôi đã cho ra rất nhiều quả khế ngọt, quả nào cũng to, cũng ngọt. Hai vợ chồng vui lắm. Bỗng nhiên, khi đến ngày hái quả, thì từ phương xa có một chú chim rất lớn đến ăn khế. Chú chim ấy khiến cho hai vợ chồng không thể hái quả được, mà số quả trên cây cũng vơi dần đi trông thấy. Nhìn hai vợ chồng buồn bã, tôi định bụng sẽ trò chuyện với chú chim. Nhưng hôm sau, người chồng đã chủ động ra tâm sự với chim về hoàn cảnh của mình. Ngờ đâu, chú chim ấy lại biết nói tiếng người, liền dặn anh ta may túi ba gang để đi lấy vàng. Sau một chuyến đi, khi trở về, người chồng mang theo một cái túi đầy vàng và gia đình họ trở nên giàu có. Chú chim cũng vì thế mà được ăn khế thỏa thích. Hôm nào chim cũng đến ăn và khen trái ngon nên đã trở nên thân thiết với tôi.

Mấy hôm sau, người anh trai tham lam biết chuyện đã đến và xin được đổi gia sản để lấy tôi. Sau khi trở thành chủ của tôi, hắn ta rất lười biếng, chẳng chăm sóc tôi cẩn thận khiến tôi bực mình lắm. Nhưng hơn cả thế, hắn ta còn vô cùng tham lam, khi may một cái túi tận mười hai gang để đòi chim đưa ra đảo vàng. Ngày hôm ấy, chim đưa người anh đi lấy vàng nhưng đi rất lâu khiến tôi lo lắm. Nhưng đến chiều, chim đã trở về với bộ lông ướt nhẹp. Nghe chim kể, tôi mới biết, thì ra người anh tham lam kia vì lấy quá nhiều vàng, đã khiến chim không bay nổi và rớt xuống biển. Chim thần thì may mắn bay lên được và trở về đây, còn hắn ta thì đã bị sóng cuốn trôi mất. Thật đáng đời cho một kẻ tham lam như hắn ta.

Bài mẫu 2

Chào mọi người, ta là một chú chim phượng hoàng sinh sống ở vùng đảo xa trên biển. Ngày hôm nay, ta sẽ kể cho mọi người nghe một câu chuyện thú vị mà ta gặp được khi đến đất liền dạo chơi.

Hồi đó, ta vừa trưởng thành nên quyết định vào đất liền dạo chơi. Khi đang bay lượn, ta chợt phát hiện một cây khế vô cùng sai trái. Quả nào cũng to tròn, mọng nước, thơm lừng. Thế là, ta liền sà xuống và ăn quả. Ăn một quả, ta lại càng muốn ăn quả thứ hai. Cứ thế, suốt mấy hôm liền, cứ lúc nào khát nước thì ta sẽ ghé thăm cây khế này. Bỗng một hôm, khi đang vui vẻ ăn khế, ta lại nhìn thấy một bóng người thập thò đằng sau lưng. Thì ra đó là người đã trồng cây khế. Trông anh ta có vẻ như muốn nói điều gì, thế là ta đã dừng lại để chăm chú lắng nghe.

Nghe kể mới biết, người đàn ông này có số phận rất tội nghiệp. Anh ta có một người anh trai rất lười biếng và tham lam. Sau khi cha mất, anh trai đoạt hết gia sản, đất đai, chỉ cho anh ta một túp lều cũ và cây khế ngọt này thôi. Quanh năm, vợ chồng anh ta đi làm thuê kiếm tiền sinh sống và chăm bẵm cây khế. Nay thấy cây ra trái nhiều, thì hái mang ra chợ bán. Nào ngờ ta hôm nào cũng đến ăn, khiến trái thiếu đi rất nhiều. Nghe anh ta giãi bày, ta xấu hổ lắm. Thế là ta quyết định sẽ mang anh ta ra nhà của mình để lấy vàng về trang trải cuộc sống. Sau lần đó, hai vợ chồng anh ta trở nên giàu có, mà ta cũng thoải mái ăn khế ngon.

Ít lâu sau, khi ta đến thăm, thì chủ của cây khế đổi thành người anh tham lam, lười biếng kia. Lúc đầu, ta không để ý đến hắn. Nhưng thấy hắn ngày nào cũng kể lể về hoàn cảnh, ta cũng đành dặn hắn may túi ba gang để đi lấy vàng như người em. Ngờ đâu, hắn may một cái túi những mười hai gang. Đã thế, hắn còn cố nhét thêm vàng vào túi áo, túi quần. Thế là, hắn trở nên nặng như một ngọn núi nhỏ. Ta cố mãi mới bay lên trời được. Giữa đường thì gặp cơn mưa dông kéo qua, khiến ta chao đảo, rớt xuống biển rộng. May sao, ta vùng dậy kịp, bay trở lại bầu trời, còn tên tham lam kia thì bị sóng cuốn đi đâu mất. Thật xứng đáng cho một kẻ như hắn!

Bài mẫu 3

Xin chào tất cả mọi người, ta là công chúa Mị Nương, vợ của Sơn Tinh. Ngày hôm nay, ta muốn kể cho mọi người cùng nghe về cuộc đời của mình.

Ta là con gái của Vua Hùng, từ nhỏ đã được mọi người ngợi khen là xinh đẹp, hiền dịu. Đến tuổi cập kê, vua cha quyết định tìm cho ta một tấm chồng thật tốt, nên đã tổ chức hội kén rể. Nhiều chàng trai từ khắp nơi kéo đến để thử vận may. Tuy nhiên, qua nhiều lần thử thách của cha ta, thì chỉ còn lại hai chàng trai là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Cả hai chàng đều khôi ngô, vạm vỡ, lại có tài phép thần thông. Người thì có thể dời non lấp bể, người thì có thể hô mưa gọi gió. Cả hai ngang sức ngang tài khiến vua cha không biết phải làm sao. Thế là, ngài tổ chức họp bàn với các quan đại thần. Và đưa ra thử thách cuối cùng là giao nộp sính lễ theo yêu cầu “Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. Nghe xong, cả hai chàng trai đều ngay lập tức lui về chuẩn bị.

Tối hôm đó, ta thao thức mãi không ngủ được vì không biết mình sẽ được gả cho ai. Đến tờ mờ sáng hôm sau, khi gà còn chưa gáy, ngoài cổng thành đã có tiếng reo hò rộn ràng. Thì ra Sơn Tinh đã mang đầy đủ sính lễ đến để hỏi cưới ta. Vậy là theo như ước định, ta trở thành vợ của Sơn Tinh. Nhìn chàng khôi ngô tuấn tú, ta cũng rất vui lòng. Sau khi hôn lễ diễn ra, ta từ biệt vua cha, theo chồng về núi Tản Viên.

Nào ngờ, vừa đi được nửa đường, thì có một cơn lũ lớn lao mạnh về phía chúng ta. Cơn lũ ấy đem theo gió lốc, mưa bão càn quét qua thành trì, nhấn chìm cả thành Phong Châu. Mà kẻ gây ra cơn đại họa ấy chính là Thủy Tinh - kẻ đến sau nên không thể cưới được ta. Nhìn quê hương đang oằn mình trong gió bão, ta đau khổ và sợ hãi vô cùng. May sao, chồng của ta đã đứng ra để ngăn cản tất cả. Chàng dời núi đắp đê, nâng đất lên cao chống lại mưa gió. Cuộc đấu dằng co liên tục mấy ngày đêm, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức đành phải rút quân. Còn vợ chồng ta thì trở về quê nhà trong sự hân hoan chào đón của bà con.

Từ đó về sau, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước tấn công chúng ta, nhưng lần nào cũng thất bại trước sức mạnh và sự đoàn kết của tất cả mọi người. Còn ta thì vẫn sống vui vẻ, hạnh phúc bên người chồng Sơn Tinh của mình.

Bài mẫu 4

Tôi là cô Tấm trong câu chuyện cổ tích Tấm Cám mà nhiều người yêu thích. Cuộc đời tôi trải qua nhiều biến cố, thăng trầm. Nhưng sau tất cả, tôi vẫn đứng lên, lạc quan đối mặt với mọi điều và có một cuộc sống hạnh phúc.

Mẹ của tôi qua đời từ khi tôi còn rất nhỏ. Ít lâu sau, cha tôi đi bước nữa, rồi cũng không may qua đời sau đó ít năm. Vì thế mà tôi phải sống cùng dì ghẻ và cô con gái của bà. Lúc nào, họ cũng tỏ ra căm ghét, dè bỉu, bắt tôi phải làm hết mọi việc trong nhà, từ chăn trâu đến nuôi gà, quét dọn, giặt giũ. Cám là con gái của dì ghẻ, nên cũng xấu tính y như bà. Khi được treo thưởng chiếc yếm đào mới, Cám đã lừa tôi ngụp lặn gội đầu rồi trút hết tôm tép vào giỏ của nó. Khi thấy giỏ trống trơn, tôi bật khóc nức nở, bất lực bên bờ ruộng. Thấy thế, ông Bụt hiện lên, chỉ cho tôi đem chú cá bống sót lại trong giỏ đem về nuôi trong giếng. Sau này, dì ghẻ lừa tôi đi chăn trâu đồng xa để bắt bống lên ăn thịt, xương thì chôn ở góc vườn. Nhờ gà mái, tôi tìm được xương cá bống, đem chôn trong bốn cái hũ dưới bốn chân giường theo lời chỉ của ông Bụt. Khi nhà vua mở hội, tôi bị dì ghẻ bắt ở nhà nhặt thóc và đậu đã bị trộn vào nhau. May mắn, tôi được ông Bụt gọi bầy chim sẻ tới nhặt giúp nên nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. Sau đó, tôi được chỉ cho đào các hũ chôn dưới chân giường lên để có váy đẹp, giày đẹp đi hội. Khi đi qua cầu, giày của tôi rơi xuống sông, tình cờ khiến voi của nhà vua phát hiện. Vua sai lính nhặt chiếc giày lên, tuyên bố ai đi vừa chiếc giày sẽ được làm hoàng hậu. Nhờ vậy mà tôi trở thành hoàng hậu của đất nước, thoát đi kiếp sống vất vả trước đây.

Tuy đã là hoàng hậu, nhưng tôi không hề lười biếng hay kênh kiệu. Năm đó đến giỗ cha, tôi xin vua về thăm nhà, để tự tay chuẩn bị mâm cỗ cúng cha. Tôi cũng tự mình trèo lên cây cau để hái trái, nhưng không may bị dì ghẻ ở dưới chặt cây, hại tôi ngã xuống ao rồi qua đời. Bà ta đã lấy áo quần, trang sức của tôi đưa cho Cám mặc, rồi dẫn cô ta vào cung gặp vua, xin cho cô ta thay thế tôi hầu hạ nhà vua. Còn tôi thì sau khi chết đã hóa thành chim vàng anh. Tôi đã bay vào cung, tìm gặp nhà vua để tiếp tục được ở bên chàng. Như có thần giao cách cảm, nhà vua rất thích tôi, đi đâu cũng dẫn theo. Ghen tị với chim, Cám nhân lúc vua đi vắng đã bắt tôi làm thịt, rồi đổ lông ra góc vườn. Từ đó, tôi lại hóa thân thành cây xoan đào cao lớn, tỏa bóng mát rười rượi. Ngày ngày nhà vua ra ngồi dưới bóng mát của tôi nghỉ ngơi, rồi mắc võng nằm ngủ. Thấy vậy, mẹ con cám lại ủ mưu chặt hạ tôi rồi lấy gỗ làm khung cửi. Mỗi lần Cám dệt vải, tôi lại kêu lên kẽo cà kẽo kẹt những lời cảnh cáo kẻ có lòng dạ độc ác, khiến cô ta sợ phát khiếp. Vì thế, cô ta đốt cháy tôi, rồi sai người đem tro đổ thật xa hoàng cung. Từ trong đống tro tàn ấy, một cây thị cao lớn mọc lên. Tán cây xum xuê nhưng chỉ có một quả thị duy nhất. Quả thị ấy được một bà cụ bán hàng nước đem về nhà. Bà chỉ ngửi mùi hương chứ không hề bổ quả để ăn. Từ trong quả thị ấy, tôi lần nữa trở về hình dáng con người. Thương bà cụ già vất vả, tôi giúp bà dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị cơm nước rồi nhận làm con gái của bà. Ngày ngày, tôi giúp bà têm trầu cánh phượng để bày bán. Ngờ đâu nhờ thế mà nhà vua lúc đi săn ngang qua đã nhận ra và xin gặp tôi. Thế là vợ chồng tôi lại được đoàn tụ. Tôi lại trở về hoàng cung, tiếp tục những ngày tháng hạnh phúc bên chồng. Còn mẹ con Cám thì do quá xấu hổ và nhục nhã, đã phải bỏ trốn đi biệt xứ.

Từ cuộc đời mình, tôi rút ra bài học rằng, những kẻ độc ác, xấu xa, luôn có lòng hại người thì sẽ chẳng bao giờ có được hạnh phúc. Vì thế, các bạn hãy sống chan hòa, yêu thương những người xung quanh mình nhé.

Bài mẫu 5

Tôi là Thái tử, con Ngọc Hoàng. Biết dưới trần gian có 2 vợ chồng già tốt bụng mà chưa có con, Ngọc Hoàng liền cho tôi xuống đầu thai để làm con của ông bà cụ. Mẹ tôi dưới trần gian mang thai tôi mấy năm mà chưa sinh. Sau đó, cha tôi lâm bệnh chết. Không lâu sau, mẹ mới sinh ra tôi, một bé trai kháu khỉnh. Mẹ đặt tên cho tôi là Thạch Sanh.

 Khi tôi lớn khôn thì mẹ tôi cũng mất. Tôi sống lủi thủi trong túp lều cũ dựng dưới gốc đa. Cả gia tài của tôi chỉ là chiếc búa cha tôi để lại. Khi còn sống, cha tôi dùng chiếc búa ấy để chặt củi bán kiếm sống qua ngày.

Khi tôi biết dùng búa thì Ngọc Hoàng sai thiên thần xuống dạy cho tôi đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông.

Một hôm, có người hàng rượu tên là Lý Thông đi qua chỗ tôi. Thấy tôi gánh về một gánh củi lớn. Lý Thông lân la gợi chuyện và nói kết nghĩa anh em với tôi. Mồ côi cha mẹ nên khi Lý Thông nói muốn kết nghĩa anh em với tôi, tôi vui vẻ nhận lời. Lý Thông là anh còn tôi là em. Tôi từ giã gốc đa, đến sống chung với mẹ con Lý Thông. Đi kiếm củi về, tôi thấy mâm cơm có rất nhiều thức ăn ngon. Chưa hiểu nhà có việc gì thì anh Lý Thông nói với tôi: “Đêm nay, đến phiên anh canh miếu thờ, ngặt vì dở cất mẻ rượu, em chịu khó thay anh, đến sáng thì về”. Tôi vui lòng nhận lời ngay. Nửa đêm, tôi đang lim dim mắt thì một con chằn tinh hiện ra. Nó nhe răng, giơ vuốt định vồ lấy tôi. Tôi nhanh tay vớ lấy búa đánh lại. Chằn tinh hóa phép, thoắt biến, thoắt hiện. Tôi không nao núng, dùng nhiều võ thuật đánh con quái vật. Cuối cùng, tôi giết được chằn tinh. Chằn tinh hiện nguyên hình là một con trăn khổng lồ. Nó chết để lại bên mình bộ cung tên bằng vàng. Tôi chặt đầu quái vật và nhặt bộ cung tên bằng vàng rồi xách đầu quái vật về nhà. Tôi gọi cửa mãi anh Lý Thông mới ra mở cửa. Không hiểu sao mẹ con anh Lý Thông cứ van lạy tôi rối rít. Khi vào nhà, tôi kể đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, anh Lý Thông nói với tôi: “Con trăn ấy là của vua nuôi đã lâu. Nay em giết nó, tất không khỏi bị tội chết. Thôi, bây giờ nhân trời chưa sáng em hãy trốn đi ngay đi. Có chuyện gì để anh ở nhà lo liệu”. Tôi tin ngay và trở về túp lều dưới gốc đa ngày nào. Tôi lại sống bằng nghề kiếm củi. Một hôm, tôi đang ngồi dưới gốc đa thì trông thấy một con đại bàng quắp một người con gái. Tôi liền lấy cung tên vàng ra bắn con đại bàng. Mũi tên trúng vào cánh làm nó bị thương. Nhưng nó vẫn cố bay về hang trong núi. Theo vết máu, tôi tìm được chỗ ở của con đại bàng. Nghe có lễ hội đông vui, tôi liền tìm đến xem. Nào ngờ, ở đó, tôi gặp anh Lý Thông. Anh ấy đã kể cho tôi nghe việc tìm công chúa. Tôi thật thà kể cho anh nghe về việc tôi bắn đại bàng và biết được chỗ ở của nó. Anh Lý Thông liền nhờ tôi dẫn đến chỗ đại bàng. Tôi xin được xuống hang cứu công chúa. Quân sĩ lấy dây buộc ngang lưng tôi rồi dòng xuống hang. Xuống tới đáy hang, tôi thấy đại bàng hiện nguyên hình là một con yêu tinh ở trên núi. Tuy bị thương nặng nhưng con quái vật vẫn rất hung dữ. Nó giơ vuốt và lao vào tôi. Tôi dùng cung tên vàng bắn mù hai mắt nó. Tôi chặt đứt vuốt sắc, bổ vỡ đầu con quái vật. Tôi lấy dây buộc ngang người công chúa và ra hiệu cho quân sĩ của Lý Thông kéo lên. Tôi chờ quân sĩ thả dây xuống kéo tôi lên, nào ngờ cửa hang đã bị lấp lại. Lúc đó, tôi mới biết là Lý Thông hại tôi. Tôi cố tìm lối lên. Đi đến cuối hang, tôi thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú bị nhốt trong cũi sắt. Tôi dùng cung tên vàng bắn tan cũi sắt và cứu chàng ra. Chàng trai cho biết mình là thái tử con vua Thủy Tề. Thái tử thoát nạn, cám ơn tôi và mời tôi xuống thủy phủ chơi. Vua Thủy Tề vui mừng được gặp lại con. Biết tôi là người cứu con trai mình, vua Thủy Tề cảm ơn tôi và biếu tôi rất nhiều vàng bạc châu báu. Tôi không lấy vàng bạc châu báu mà chỉ xin một cây đàn, rồi tôi trở về gốc đa. Một hôm, tôi bị quân lính của nhà vua tới và bắt giam tôi vào ngục. Lúc đó, tôi mới biết của cải của nhà vua bị mất trộm và được giấu ở gốc đa nơi tôi ở. Tôi bị bắt vì nhà vua cho là chính tôi đã ăn trộm. Lúc đó tôi mới nghĩ là chính chằn tinh và đại bàng bị giết đã báo thù tôi.

Trong ngục tối, tôi đem đàn vua Thủy Tề cho ra gảy. Không ngờ tiếng đàn của tôi vẳng đến hoàng cung. Nàng công chúa được tôi cứu đòi vua cha cho được gặp người đánh đàn. Nhà vua cho đưa tôi đến. Trước mặt mọi người, tôi kể hết đầu đuôi câu chuyện của mình, từ chuyện kết bạn với Lý Thông, đến chuyện chém chằn tinh, giết đại bàng, cứu công chúa và cuối cùng bị bắt oan vào ngục thất. Cho đến lúc này tôi mới biết chằn tinh không phải vua nuôi mà Lý Thông đã nham hiểm lừa tôi đi chết thay cho hắn. Và lúc này, tôi cũng mới biết, nàng công chúa đã bị câm sau khi được tôi cứu khỏi hang. Nàng chỉ vui cười trở lại khi nghe tiếng đàn của tôi. Nhà vua cho bắt mẹ con Lý Thông giam lại và giao cho tôi xét xử. Tôi tha cho mẹ con họ nhưng trời chẳng tha. Về đến nửa đường mẹ con Lý Thông bị sét đánh chết, rồi bị hóa kiếp thành bọ hung.

Nhà vua gả công chúa cho tôi. Lễ cưới tưng bừng nhất kinh kì. Hoàng tử các nước chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn lấy làm tức giận, họ hội binh lính của mười tám nước sang đánh. Tôi xin nhà vua đừng động binh. Tôi lấy cây đàn thần ra gảy. Tiếng đàn phân tích điều hơn lẽ thiệt, cái đúng, cái sai. Quân mười tám nước bủn rủn chân tay không còn nghĩ gì đến chuyện đánh nhau nữa. Cuối cùng, các hoàng tử phải cởi giáp xin hàng. Tôi sai dọn một bữa cơm thết đãi những kẻ thua trận. Tôi chỉ cho dọn ra một niêu cơm tí xíu. Cả mấy vạn tướng lính thấy niêu cơm như vậy liền bĩu môi cười. Tôi liền hứa sẽ trọng thưởng cho người ăn hết niêu cơm. Quân mười tám nước ăn mãi, ăn mãi mà niêu cơm không hết. Cơm trong niêu hết thì lại đầy. Tất cả cúi đầu lạy tạ vợ chồng tôi rồi kéo quân về nước.

Vì không có con trai nối ngôi, nhà vua đã nhường ngôi cho tôi. Từ đó, tôi làm một ông vua tốt và dân chúng có cuộc sống no ấm, yên bình.

Bài mẫu 6

Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân. Vì chăm chỉ làm lụng nên bố mẹ tội cũng có của ăn của để, hi vọng sau này cho anh em tôi làm vốn sinh nhai. Nhưng rồi cha mẹ tôi mất đột ngột. Anh trai tôi đã không làm như lời cha mẹ dặn trước lúc lâm chung là chia đều tài sản cho hai anh em mà chiếm hết gia tài, chỉ để lại cho tôi một túp lều nhỏ và cây khế còi cọc ở góc vườn.

       Tôi chấp nhận mà không hề kêu ca, than phiền gì. Hằng ngày, tôi phải mò cua bắt ốc, cày thuê, cuốc mướn để sống. Cây khế trở thành tài sản quý giá nhất và là người bạn thân thiết của tôi. Tôi chăm sóc nó chu đáo, tận tình như người bạn. Vì vậy mà cây khế lớn rất nhanh và chẳng bao lâu đã ra hoa kết quả. Đến mùa khế chín, những chùm khế chín vàng óng, thơm lừng báo hiệu một mùa khế bội thu. Không thể nào nói hết được niềm hạnh phúc của mọi người trong gia đình tôi. Tôi đã đan những chiếc sọt để ngày mai đem khế ra chợ đổi lấy gạo. Sáng hôm đó, khi vừa thức dậy, tôi đã nhìn thấy trên cây khế có một con chim to với bộ lông sặc sỡ đang ăn những quả khế chín. Lòng tôi đau như cắt. Tôi chạy đến dưới gốc cây và nói: “Chim ơi! Ngươi ăn khế của ta thì gia đình ta biết lấy gì để sống?”. Chim bỗng ngừng ăn và cất tiếng trả lời: “Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi và đựng”. Nói rồi chim bay đi. Tôi không tin lắm vào chuyện lạ lùng đó nhưng vẫn bảo vợ may cho mình một chiếc túi ba gang. Sáng hôm sau, chim đến từ sớm và đưa tôi ra một hòn đảo nhỏ giữa biển. Tôi không thể tin vào những gì hiện ra trước mắt. Cả hòn đảo toàn vàng bạc châu báu chất đống. Cả hòn đảo ánh lên màu vàng làm tôi bị lóa mắt. Không hề có một bóng người. Tôi cảm thấy lo sợ, cứ đứng yên một chỗ. Nhưng rồi chim vỗ cánh và giục giã: “Anh hãy lấy vàng bạc, châu báu vào túi, rồi tôi đưa về.” Lúc đó tôi mới dám nhặt vàng cho vào đầy túi ba gang rồi lên lưng chim để trở về đất liền.

       Từ đó, gia đình tôi không còn phải ăn đói mặc rách nữa. Tôi dựng một căn nhà khang trang ngay trong khu vườn, nhưng vẫn giữ lại túp lều và cây khế. 

        Tôi dùng số của cải đó chia cho những người dân nghèo khổ trong làng. Cây khế bây giờ đã to lớn, toả bóng mát xuống cả một góc vườn. Mùa khế nào tôi cũng chờ chim thần đến để bày tỏ lòng biết ơn.

       Câu chuyện lan đến tai người anh trai tôi. Một sáng, anh đến nhà tôi rất sớm. Đây là lần đầu tiên anh tới thăm tôi kể từ ngày bố mẹ mất. Anh đòi tôi đổi toàn bộ gia sản của anh lấy túp lều và cây khế. Tôi rất buồn khi phải chia tay với căn nhà và cây khế. Nhưng trước lời cầu khẩn của anh, tôi đành bằng lòng. Cả gia đình anh chuyển về túp lều cũ của tôi. Ngày nào anh cũng ra dưới gốc khế chờ chim thần đến. Mùa khế chín, chim cũng trở về ăn khế. Vừa thấy chim, anh tôi đã khóc lóc, kêu gào thảm thiết và đòi chim phải trả vàng. Chim cũng hứa sáng mai sẽ đưa anh tôi ra đảo vàng và dặn may túi ba gang. Tối hôm đó, anh tôi thức cả đêm để may túi mười gang ngày mai đi lấy vàng. Anh đi cùng chim thần từ rất sớm, nhưng đến tối mịt vẫn chưa về. Cả làng đồn nhau rằng những ngư dân đã nhìn thấy chim thần chở anh ngã nhào xuống biển, cả anh và số vàng cùng chìm sâu xuống lòng nước mênh mông kia. Dù đã tìm kiếm nhưng không thấy nên mọi người đành chấp nhận rằng anh đã chết dưới đáy biển.

       Tôi trở lại sống ở nhà cũ, cùng túp lều và cây khế. Nhưng chim thần không bao giờ còn quay trở lại nữa… Anh trai tôi đã không thể quay trở về chỉ vì lòng tham vô đáy. Một nỗi buồn man mác dâng lên trong lòng tôi.

Bài mẫu 7

Xin chào mọi người, ta là ông Bụt - một vị thần mang nhiều phép lạ. Ngày hôm nay, ta sẽ kể cho mọi người nghe về cô Tấm - một cô gái hiền lành, dịu dàng và kiên cường.

Sớm mồ côi cha mẹ, Tấm phải sống cùng dì ghẻ và con gái của bà ta là Cám. Vậy nên, bao nhiêu việc nhà cửa, đồng áng Tấm phải làm cả. Vất vả, lam lũ quanh năm, mà cô chẳng bao giờ có tấm áo mới. Tội nghiệp vô cùng. Một hôm, mụ dì ghẻ đã sai Tấm và Cám ra ruộng mò cua bắt ốc, và treo thưởng cho người bắt được nhiều hơn là một chiếc yếm đào. Có giải thưởng, cả hai chị em kéo nhau ra ruộng ngay. Tấm cần mẫn cả chiều bắt được một giỏ đầy, còn Cám thì lười biếng nên đến gần tối giỏ vẫn còn không. Nhưng nhờ sự gian xảo, Cám đã lừa Tấm đi gội đầu kẻo bị mẹ mắng, rồi trộm hết thành quả của Tấm mang về nhận thưởng. Lúc nhìn thấy chiếc giỏ trống không, Tấm buồn bã òa khóc nức nở. Thế là ta liền hiện lên, chỉ cho cô ấy chú cá bống nhỏ còn lại trong giỏ, để mang về nhà nuôi.

Từ khi nuôi cá bống trong giếng, Tấm có thêm người bầu bạn. Ngày ngày cô mang cơm ra cho cá ăn và hát gọi cá lên. Ngờ đâu, ngay cả một con cá bà dì ghẻ cũng không tha. Bà ta lừa cô Tấm đi chăn trâu ở đồng xa rồi ở nhà bắt cá ăn thịt. Chờ Tấm trở về thì còn lại một cục máu loãng mà thôi. Mất bạn, Tấm òa khóc nức nở. Thấy thương cô quá, ta liền hiện lên, chỉ cho cô ấy cách nhờ gà đi tìm xương cá. Rồi lại dạy cho cô chia xương cá thành ba phần, cho vào ba cái hũ rồi cất dưới chân giường. Xong xuôi ta trở về nhà.

Mấy hôm sau, lần nữa ta lại nghe được tiếng khóc của Tấm. Vừa hiện lên, ta đã thấy cô ấy vừa khóc vừa cố nhặt những hạt thóc và hạt gạo đã bị trộn lẫn. Nhìn qua là ta biết ngay lại là mụ dì ghẻ bày trò. Thế là ta liền gọi chim sẻ đến giúp cô nhặt nhạnh. Xong xuôi, cô Tấm liền sửa soạn đi hội. Nhưng lúc này cô ấy mới biết mình chẳng có bộ váy áo nào cả. Ngay lập tức, ta hóa phép cho những mẩu xương trong ba cái hũ dưới chân giường thành váy áo và giày đẹp rồi bảo cô Tấm lấy ra dùng. Sửa soạn xong xuôi, cô Tấm trở nên vô cùng xinh đẹp. Sung sướng chào ta, cô liền đi hội. Chưa yên tâm, ta bí mật đi theo phía sau cô. Ngờ đâu, dọc đường cô làm rơi hài xuống nước. Thế là ta liền làm cho voi của nhà vua đứng yên ở chỗ đôi hài bị rớt. Nhà vua thấy lạ, liền cho lính đi kiểm tra và tìm được chiếc hài kia. Thấy chiếc hài, nhà vua liền ra lệnh ai đi vừa chân sẽ trở thành vợ vua. Thật không ngờ rằng, nhờ vậy mà cô Tấm trở thành hoàng hậu.

Cứ tưởng từ nay, cô ấy sẽ được hưởng hạnh phúc. Nhưng chỉ ít lâu sau cô ấy đã qua đời. Bởi khi cô đang cố trèo lên cây cau để hái quả xuống giỗ cha thì bị mụ dì ghẻ chặt cây cho ngã xuống. Mụ ta còn lấy áo quần của Tấm để cho Cám mặc rồi vào cung thay chị hầu vua. Ta tức giận vô cùng trước sự độc ác của mẹ con họ. Vì thế, ta đã quyết định sẽ giúp cô Tấm tái sinh để giành lại hạnh phúc của mình. Lần đầu tiên, cô Tấm hóa thành chim vàng anh bay vào cung vua. Được vua yêu chiều, đi đâu cũng dẫn theo nên chim bị Cám ghét lắm. Ả ta lén lút giết chim ăn thịt rồi vất lông ở ngoài vườn. Thế là Tấm tái sinh lần thứ hai thành cây xoan lớn. Nhà vua thấy cây, liền yêu thích không thôi, trưa nào cũng mắc võng nằm ngủ trên cây. Cám thấy thế, lại sinh lòng căm ghét, nhân lúc vua đi vắng liền chặt cây làm khung cửi. Chiếc khung cửi ấy là lần tái sinh thứ ba của cô Tấm. Mỗi khi Cám dệt vải, cô liền chửi mắng ả ta không ngừng khiến ả sợ lắm. Liền đốt khung cửi thành tro rồi đem đi đổ thật xa. Từ đám tro tàn, cô Tấm tái sinh lần cuối cùng. Lần này cô chính thức trở về với hình dáng của con người trong quả thị thơm. Được bà quán nước thương yêu và mong mỏi, lại thiếu tình mẹ từ nhỏ, Tấm đã đồng ý làm con gái bà. Hằng ngày, cô giúp bà têm trầu, nấu nước chè để buôn bán. Chính nhờ miếng trầu ấy, nên khi nhà vua đi ngang qua đã phát hiện ra nàng. Nhờ vậy, hai vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc.

Nhiều người vẫn hỏi ta, tại sao không để cô Tấm tái sinh thành người ngay từ lần đầu, mà để cô trải qua nhiều khó khăn như vậy. Thì chính bởi vì việc tái sinh trở lại không phải là việc đơn giản. Ta cần phải để cô trải qua nhiều khó khăn thử thách, để kiểm tra ý chí, lòng quyết tâm của cô Tấm xem cô có xứng đáng với món quà đó không. Và cuối cùng, cô Tấm đã không làm ta thất vọng. Với tính hiền lành, chăm chỉ, thảo hiền, cô xứng đáng được sống hạnh phúc mãi mãi bên nhà vua.

Bài mẫu 8

Tôi là cô Tấm - vợ của vua. Hiện nay, tôi đang sống một cuộc sống hạnh phúc trong cung cấm. Tuy nhiên, để có được hạnh phúc như ngày hôm nay, tôi đã phải trải qua rất nhiều vất vả.

Tôi mất mẹ từ khi còn rất nhỏ. Cha cũng bất hạnh qua đời sớm, nên tôi sống cùng với dì ghẻ và con gái bà ta là Cám. Lúc nào tôi cũng phải làm việc quần quật từ sớm đến tối để phục vụ hai mẹ con bà ấy. Một hôm, dì ghẻ treo thưởng là chiếc yếm đào xinh xắn cho người bắt được giỏ tôm tép nhiều hơn. Vì đã lâu không có quần áo mới, nên tôi thích lắm. Cả chiều, tôi cặm cụi mò cua bắt ốc nên thu được cả rổ đầy, còn Cám thì mải chơi nên chẳng có gì. Nào ngờ, Cám gian xảo lừa tôi đi gội đầu rồi cướp công. Lúc phát hiện ra thì tôi chẳng thể làm gì được nữa, đành bất lực ngồi khóc. Nghe tiếng khóc, ông Bụt hiện lên và chỉ cho tôi về chú cá bống nhỏ vẫn còn sót lại trong rổ. Thế là, tôi đem cá về nuôi trong giếng. Ngày nào, tôi cũng đem cơm ra cho cá ăn. Dù phải bớt phần cơm của mình, tôi cũng không để cá phải đói ngày nào. Bởi tôi xem cá bống như người bạn của mình. Để đảm bảo cá bống không bị ai bắt mất, tôi đã dùng một câu hát riêng để làm tín hiệu gọi cá lên. Thế mà, mẹ con dì ghẻ đã rình và học lén câu hát ấy. Rồi lừa tôi đi chăn trâu ở đồng xa để ăn thịt cá bống. Lúc tôi trở về nhà, mang cơm ra giếng thì chỉ còn một cục máu đỏ mà thôi. Đau đớn vô cùng, tôi òa khóc nức nở. Đúng lúc ấy, ông Bụt lại hiện lên, chỉ cho tôi cách để nhờ chú gà tìm xương cá bống. Sau đó, theo lời ông dặn, tôi chia xương cá vào ba cái hũ rồi cất dưới chân giường.

Ít lâu sau, nhà vua tổ chức hội lớn để tìm vợ. Ai cũng náo nức đi xem hội, riêng tôi thì bị dì ghẻ bắt ở nhà nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo thì mới được đi. Mà nhặt xong thì hội cũng tàn mất. May sao, ông Bụt đã gọi một đàn chim sẻ tới giúp tôi nhặt nên loáng cái đã xong xuôi. Nhưng đến lúc này, tôi lại phát hiện mình chẳng có bộ trang phục nào để đi hội cả. Bộ nào cũng cũ, cũng vá chằng vá chịt. Tuy nhiên, mọi chuyện đã nhanh chóng được giải quyết, khi ông Bụt chỉ cho tôi lấy ra bộ váy xinh và đôi giày tuyệt đẹp từ các chiếc hũ dưới chân giường.

Có váy đẹp, tôi háo hức đi xem hội. Lúc chen lấn xô đẩy, tôi lỡ làm rơi đôi hài xuống nước. Vì quá đông nên tôi chẳng thể xuống mò được. Ngờ đâu, chiếc hài đã khiến cho voi của nhà vua đứng yên một chỗ, chẳng chịu đi tiếp. Thế là ngài đã cho lính xuống tìm và nhặt được chiếc hài lên. Ngắm chiếc hài, ngài quyết định ra lệnh, ai đi vừa thì sẽ là vợ của vua. Tôi đã trở thành vợ của vua như thế đó.

Tưởng hạnh phúc đã về, nhưng sóng gió cuộc đời tôi vẫn chưa dừng lại. Sau khi vào cung làm vợ vua, tôi vẫn đau đáu nhớ về quê nhà. Năm ấy, tôi xin vua về nhà để giỗ cha. Đến nơi, tôi đã tự mình trèo lên cây cau để hái quả thờ cha. Mà ngờ đâu bị dì ghẻ chặt cây hại chết. Bà ta lấy đồ của tôi cho Cám mặc rồi đưa cô ta vào cung thay chị hầu vua. Dù vậy, vua cũng chẳng đoái hoài gì đến cô ta cả. Còn tôi, sau khi chết, đã hóa thành chim vàng anh bay vào cung bầu bạn nhà vua. Vua thích tôi lắm, đi đâu cũng mang theo. Cám ghen tức lắm, nên đã lén lút bắt tôi giết thịt, rồi đổ lông ngoài vườn. Từ đám lông ấy, tôi lại hóa thân thành cây xoan cao lớn. Trưa nào vua cũng ra mắc võng trên thân cây để nghỉ ngơi. Ả Cám xấu xa lại lần nữa sinh lòng ghen ghét. Nhân lúc vua đi vắng, ả ta chặt cây, làm thành khung cửi. Mỗi lúc ả dệt, tôi lại tạo nên tiếng cót két chửi mắng kẻ có lòng dạ xấu xa này. Sợ quá, Cám đốt cháy khung cửi, đem tro đổ đi thật xa. Nhưng từ đám tro tàn, tôi lại hồi sinh lần nữa, và lần này, tô lại trở về trong hình hài con người trong quả thị. Được bà hàng nước yêu thương, tôi ở lại làm con gái nuôi của bà, phụ bà têm trầu nấu trà mời khách. Nhờ miếng trầu têm cánh phượng ấy, mà nhà vua đã phát hiện ra tôi. Thế là vợ chồng tôi được đoàn tụ hạnh phúc. Còn Cám và dì ghẻ thì bị đuổi đi biệt xứ, không bao giờ có thể làm chuyện ác được nữa.

Sau bao khổ cực, cuối cùng tôi cũng được hưởng cuộc sống bình yên hạnh phúc. Được như vậy, là nhờ tôi vẫn luôn chăm chỉ, hiền lành không sống gian đối, độc ác như mẹ con Cám đấy.

Bài mẫu 9

Tôi là con gái của phú ông. Chồng của tôi là một chàng trai hiền lành và chăm chỉ. Tuy gặp nhiều biến cố, nhưng may mắn thay, cuối cùng vợ chồng tôi cũng được chung sống hạnh phúc.

Trước đây, chồng tôi là một anh nông dân nghèo hiền lành, tốt bụng lại chăm chỉ, khỏe mạnh lắm. Thế nên, khi anh đến nhà tôi làm công, cha tôi đã hứa gả tôi cho anh. Điều kiện chính là anh phải làm việc cho nhà tôi suốt ba năm mà không lấy tiền công. Bởi vì thích tôi, nên anh đã đồng ý ngay. Suốt ba năm trời, anh làm việc quần quật, không ngại sớm hôm và đem về cho nhà tôi rất nhiều của cải.

Ngày hẹn đến, những tưởng tôi sẽ sớm được gả cho anh, nhưng cha tôi lại trở mặt. Ông lừa anh lên rừng kiếm một thanh tre trăm đốt để làm sính lễ. Rồi nhân lúc anh đi, ép gả tôi cho con trai phú ông làng bên. Vô cùng đau khổ nhưng phận gái yếu đuối, tôi chẳng thể làm được gì. May sao, đúng lúc đang làm lễ cưới, anh ấy đã trở về cùng cây tre trăm đốt thần kì. Chỉ với một câu thần chú, anh đã biến một trăm đốt tre rời dính vào nhau thành cây tre cao lớn. Anh còn dùng thần chú ấy, dính liền cả cha tôi và tên địa chủ kia vào cây tre. Mãi đến khi cha tôi chịu giữ lời hứa mới dừng lại. Cũng may là cha tôi không bị thương gì cả, nên tôi mới không hề giận anh.

Sau đó, vợ chồng tôi được kết hôn với nhau và chung sống hạnh phúc. Cha tôi cũng đã xin lỗi anh vì lần lừa dối kia và anh cũng chấp nhận tha thứ. Và thế là cả gia đình tôi sống vui vẻ, hòa thuận bên nhau.

Bài mẫu 10

Ở nhà Phú Ông có một người con rể vừa chăm chỉ lại tài giỏi. Đó chính là tôi.

Trước đây, tôi là một anh nông dân làm thuê cho nhà Phú Ông. Thấy tôi chăm chỉ lại tháo vát, ông rất ưng ý. Bèn gọi tôi ra và hứa rằng nếu tôi chịu làm việc ba năm không lấy tiền công cho ông, thì ông sẽ gả con gái cho. Nghe ông nói, tôi đồng ý ngay.

Suốt ba năm trời tôi làm việc chăm chỉ từ sớm đến tối mịt, giúp nhà Phú Ông có thêm bao nhiêu là ruộng và trâu bò. Đến ngày hẹn, ông ấy bảo tôi vào rừng tìm một cây tre trăm đốt làm sính lễ. Nghe xong, tôi cũng thật thà vác rìu đi tìm tre trăm đốt. Nhưng dù đi biết bao nhiêu rừng tre, xem biết bao nhiêu cây cũng chẳng có cây nào cao đến thế. Đúng lúc tôi buồn bã tột độ, thì ông Bụt xuất hiện, chỉ cho tôi câu thần chú để gắn 100 đốt tre lẻ lại thành một cây tre dài. Tôi vui sướng lắm, vội cảm ơn Bụt rồi chạy ào về nhà. Đến nơi, tôi bất ngờ khi thấy Phú Ông đang tổ chức lễ cưới cho con gái với con trai của một Phú Ông làng khác. Cơn tức giận bùng nổ trong đầu tôi. Thế là, tôi liền dùng câu thần chú vừa học được, gắn Phú Ông vào thân cây tre, trở thành đốt thứ 101. Tên Phú Ông làng kia hoảng sợ, định vào ứng cứu thì cũng bị mắc kẹt cùng. Cuối cùng, Phú Ông đành phải chấp nhận hủy đám cưới này và thực hiện lời hứa với tôi ba năm trước.

Sau khi trở thành con rể Phú Ông, tôi lại càng ra sức làm việc chăm chỉ hơn trước. Của cải nhà Phú Ông cũng ngày càng nhiều, nên ông ấy đã quý tôi như con cái trong nhà.

Bài mẫu 11

Ta là Thủy Tinh - một vị thần đến từ biển cả có tài năng hô mưa gọi gió. Cả đời ta tung hoành ngang dọc, nhưng không thể ngờ rằng lại gặp phải thất bại nặng nề khi tiến vào đất liền.

Năm đó, ta tiến vào đất liền dạo chơi, vừa hay đúng lúc Vua Hùng kén rể cho con gái. Nhìn thấy nàng Mị Nương xinh đẹp, hiền dịu, ta liền quý mến vô cùng. Thế là ta liền vào tham gia kén rể. Tất cả mọi người ở đó chẳng ái là đối thủ của ta. Cuối cùng, chỉ còn lại ta và một kẻ tên là Sơn Tinh là ngang sức ngang tài. Bởi vì hắn cũng biết phép lạ là dời núi lấp bể. Điều này khiến Vua Hùng hết sức băn khoăn. Sau cùng, ngài đã đưa ra một danh sách các sính lễ quý hiếm với số lượng lớn và bảo rằng, ai mang sính lễ đến trước sẽ là người chiến thắng.

Suốt cả đêm, ta không nghỉ ngơi ra sức tìm sính lễ. Ngờ đâu, khi mang sính lễ đến nơi thì hôn lễ của Mị Nương và Sơn Tinh đã hoàn thành xong rồi. Tức giận vô cùng, ta liền dâng nước để đuổi đánh Sơn Tinh. Ta kéo mây, tạo mưa to gió lớn, dâng nước nhấn chìm cả thành Phong Châu. Thế nhưng, tên Sơn Tinh kia lại không hề nao núng. Hắn nâng đất dựng thành kéo lũy chắn dòng nước lũ, dời núi lên cao để tránh bị nhấn chìm. Cứ thế, chúng ta đánh nhau cả mấy tháng trời. Cuối cùng ta đuối sức trước, đành rút quân đi trong sự căm phẫn khôn cùng.

Từ đó về sau, năm nào ta cũng kéo quân đánh Sơn Tinh cả. Dù chưa một lần chiến thắng, nhưng ta tin chắc rằng, một ngày nào đó, ta sẽ tiêu diệt được hắn.

Bài mẫu 12

Ta là Sơn Tinh, một người đến từ vùng núi Tản Viên xa xôi. Ta từ nhỏ đã vô cùng mạnh mẽ, lại có tài phép dời non lấp bể nên được mọi người tôn sùng.

Đến tuổi cập kê, ta đem lòng thương mến nàng Mị Nương xinh đẹp, hiền dịu. Vậy nên khi cha nàng tổ chức kén rể, ta đã đến ngay. Bao nhiêu đối thủ ngày hôm ấy, ta đều vượt qua một cách dễ dàng. Duy chỉ có một người duy nhất là khiến ta phải e dè chính là Thủy Tinh. Hắn đến từ biển sâu, có tài năng hô mưa gọi gió. Cả hai chúng ta đều ngang sức ngang tài khiến Vua Hùng vô cùng khó chọn. Cuối cùng, sau một hồi bàn bạc với mọi người, ngài ấy quyết định đưa ra thử thách cuối cùng là yêu cầu giao nộp sính lễ. Danh sách gồm “một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. Ai mang đến trước sẽ thắng cuộc.

Ngay sau khi thử thách đưa ra, ta đã tức tốc đi tìm. Sáng sớm hôm sau, ta mang tất cả sính lễ đến, và cưới được Mị Nương. Giây phút đó thật vô cùng hạnh phúc. Sau hôn lễ, vợ chồng ta tạm biệt vua cha và trở về núi Tản Viên. Ngờ đâu, vừa mới đi được một đoạn đường, chúng ta đã gặp mưa to gió lớn. Nước từ đâu không biết ồ ạt dâng lên, nhấn chìm cả thành Phong Châu. Nhìn lại thì chính là Thủy Tinh đang đem quân đánh ta. Vì thua cuộc, nên hắn đem lòng căm hận, trở mặt thành thù dâng nước tấn công cả những người dân lành. Thấy vợ sợ hãi, ta an ủi nàng rồi nhảy ra ngăn cản Thủy Tinh. Hắn dâng nước đến đâu, ta dâng núi cao đến đấy. Rồi ta dựng cả tường thành, đắp đê chống lại dòng nước xiết. Hai bên cứ giằng co như thế hằng tháng trời, cuối cùng chiến thắng đã thuộc về ta.

Từ đó về sau, năm nào, Thủy Tinh cũng dâng nước đòi trả thù ta cả. Nhưng dĩ nhiên, hắn chẳng thể chiến thắng dù chỉ một lần. Còn ta thì vẫn chung sống hạnh phúc cùng Mị Nương và được muôn dân yêu mến, kính trọng.

Bài mẫu 13

Tôi là một người nông dân hiền lành. Vợ mất sớm, một mình nuôi con. Hai cha con sống cùng nhau bình yên ở một ngôi làng nọ. Một hôm, cha con tôi đang cày bừa cho vụ mùa mới thì thấy có một viên quan từ đâu tới. Khi đến gần, viên quan ấy mới cất tiếng hỏi:

- Này, lão kia! Trâu của lão cày một ngày được mấy đường?

Tôi lúng túng, chưa biết trả lời sao thì thằng bé đã nhanh miệng hỏi lại:

- Thế xin hỏi ông câu này đã. Nếu ông trả lời được ngựa của ông đi một ngày được mấy bước tôi sẽ cho ông biết trâu của cha tôi cày một ngày được mấy đường.

Viên quan nghe hỏi lại như thế thì lộ ra vẻ sửng sốt. Một thời gian sau, nhà vua sai ban cho làng tôi ba thúng gạo nếp với ba con trâu đực, ra lệnh phải nuôi làm sao cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, hẹn năm sau phải đem nộp đủ, nếu không thì cả làng phải tội.

Nhận lệnh vua, cả làng đều lo lắng. Khi trở về nhà, thằng bé liền nói với tôi:

- Chả mấy khi được lộc vua ban, bố cứ thưa với làng làm thịt hai trâu và đồ hai thúng gạo nếp để mọi người ăn một bữa cho sướng miệng. Còn một trâu và một thúng gạo, ta sẽ xin làng làm phí tổn cho bố con ta trẩy kinh lo việc đó.

Tôi tỏ ý nghi ngờ, nói với thằng bé:

- Lệnh vua ban như thế, sao dân làng dám cãi lại. Con đừng nghĩ như vậy mà rồi gặp họa.

Thằng bé vẫn kiên quyết, nói đã nghĩ ra cách rồi. Hôm sau, tôi dậy sớm, đi ra đình để nói với dân làng. Cả làng nghe nói ban đầu vô cùng ngờ vực, bắt cha con tôi phải làm giấy cam đoan, mới dám ngả trâu đánh chén.

Còn tôi và thằng bé khăn gói tìm đường tiến kinh. Đến hoàng cung, thằng bé bảo tôi đứng ở ngoài, còn nó thì lẻn vào sân rồng khóc um lên. Tôi lấy làm lo lắng lắm, nhưng chỉ biết đứng chờ bên ngoài. Sau khi ra ngoài, nghe thằng bé kể lại tôi mới rõ mọi chuyện. Sau khi vào trong, nhà vua đã hỏi thằng bé:

- Thằng bé kia, ngươi có việc gì oan ức, sao phải tới đây mà khóc làm ầm ĩ cả hoàng cũng vậy?

Nó bình tĩnh trả lời:

- Tâu đức vua con đá mẹ con chết sớm mà cha con thì không chịu đẻ em bé để chơi với con cho có bạn, cho nên con khóc. Dám mong đức vua phán bảo cha con cho con được nhờ.

Nghe nói, vua và các triều thần đều bật cười. Vua phán:

- Muốn có em thì phải kiếm vợ khác cho bố, chứ bố ngươi là giống đực, làm sao mà đẻ được!

Nó nói tiếp:

- Thế sao vua lại bắt làng chúng con lại có lệnh trên bắt nuôi ba con trâu đực cho đẻ thành chín con để nộp lên vua? Giống đực thì làm sao mà đẻ được kia chứ!

Vua cười bảo:

- Ta thử đấy thôi mà! Thế làng chúng mày không biết đem trâu ấy ra thịt mà ăn với nhau à?

Thằng bé hớn hở đáp:

- Tâu đức vua, làng chúng con sau khi nhận được trâu và gạo nếp, biết là lộc của đức vua, cho nên đã làm cỗ ăn mừng với nhau rồi.

Nhà vua tỏ ra hài lòng lắm, liền ban thưởng cho thằng bé, rồi cho người đưa hai cha con tôi về quán trọ. Hôm sau, hai cha con tôi đang ngồi ăn ở quán trọ. Bỗng có sứ nhà vua mang tới cho một con chim sẻ, với lệnh bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Nhanh chóng suy nghĩ, thằng bé liền bảo tôi lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:

- Phiền ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.

Lập tức, vua cho gọi cả hai cha con tôi vào, ban thưởng rất hậu. Bấy giờ, có nước láng giềng lúc nào cũng lăm le xâm lược đất nước ta. Họ cử viên viên sứ giả sang thăm dò xem nước ta có nhân tài nào không. Viên sứ giả đến mang theo một con ốc vặn dài, rỗng hai đầu và một sợi chỉ mảnh, đố các quan trong triều làm thế nào để xâu được sợi chỉ qua ruột ốc. Các quan làm đủ mọi cách: người thì dùng miệng hút, người bôi sáp vào sợi chỉ cho cứng để dễ xâu. Nhưng tất cả đều vô hiệu. Vua bèn mời sứ giả ở lại cùng nghỉ ngơi vài ngày, kéo dài thời gian cho người đi hỏi ý kiến con trai tôi. Lúc đó, tôi đang cặm cụi trong bếp. Còn thằng bé thì đang chơi ngoài sân cùng lũ bạn. Nghe chuyện, nó chỉ liền hát một câu:

“Tang tính tang! Tính tình tang
Bắt con kiến càng, buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng,
Bên thời bôi mỡ kiến mừng kiến sang.
Tang tình tang! Tính tình tang!”

Viên quan hiểu ra, mừng rỡ quay về bẩm báo lên nhà vua. Sau đó, nhà vua liền cho người đến đón hai cha con tôi vào cung. Thằng bé được phong làm trạng nguyên, còn sai người xây dinh thự ngay trong hoàng cung để tiện hỏi thăm.

Bài mẫu 14

Một buổi trưa nọ, tôi và cha đang phải cày ruộng. Bất chợt, tôi thấy một người đàn ông ăn mặc sang trọng cưỡi ngựa đến, có lẽ là quan của nhà vua, ông bèn hỏi cha tôi:

- Này ông kia, trâu này một ngày cày được bao nhiêu đường?

Cha tôi nghe xong thì ngớ người. Tôi nghĩ bụng, ai đời lại đi hỏi câu kì lạ như vậy, chắc chắn là muốn trêu người khác rồi, tôi liền hỏi lại:

- Vậy xin quan trả lời con ngựa kia một ngày đi được bao nhiêu bước,thì tôi sẽ nói cho quan biết con trâu đi được bao nhiêu đường?

Quan lúng túng không biết trả lời, rồi quan bỗng hỏi tên hai cha con, tôi cũng không nghĩ nhiều mà khai báo.

Mấy tuần sau, làng tôi nhận được chiếu vua, vua ban cho làng ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực, năm sau làng phải nuôi cho ba con trâu ấy đẻ thành chín con, thiếu con nào thì sẽ bị phạt. Mọi người đều biết chuyến này lành ít dữ nhiều, được vua quan tâm thì tốt nhưng ai lại làm được trâu đực đẻ con? Cái khó ló cái khôn, tôi chợt nảy ra một kế. Tôi nói với cha:

- Cha cứ bảo cả làng lấy hai con trâu và hai thúng gạo mà ăn, còn lại thì bán đi để hai cha con ta lên kinh thành.

Cha và mọi người lúc đầu còn lo lắng nhưng nghe tôi trấn an, còn làm giấy cam đoan với làng thì yên tâm hơn.

Lên đến kinh vua, nhân lúc lính canh không để ý, tôi lẻn vào sân rồng khóc ầm lên làm nhà vua đang chầu triều phải dừng lại, điệu tôi vào trong. Vua hỏi:

- Thằng bé kia, tại sao lại đến đây mà khóc?

Tôi mới ấm ức phân bua:

- Mẹ con chết sớm mà cha không chịu đẻ em bé cho con chơi, con buồn lắm. Kính vua ra lệnh bắt cha con phải đẻ em bé cho con…

Cả triều đình cười rộ lên, vua tủm tỉm giải thích:

- Cha mày là giống đực, làm sao mà đẻ con được?

Tôi nhanh nhảu đáp lại:

- Vậy sao vua lại bắt làng con làm trâu đực đẻ con?

Vua nhớ ra, cười nói:

- Cái đấy là thử, làng ngươi phải biết thịt trâu mà ăn chứ!

- Làng chúng con nhận được trâu và gạo liền biết đó là lộc vua ban đã làm cỗ ăn mừng rồi.

Hôm sau, tôi và cha đang ăn cơm, bỗng có người của vua mang một con chim sẻ bắt tôi phải dọn ba mâm cỗ, tôi biết ngài là vua lại thử mình liền đưa cho anh lính cây kim nhờ vua rèn thành một con dao để xẻ thịt chim. Cha con tôi được ban thưởng hậu hĩnh.

Một hôm, tôi đang ở nhà chơi với bạn, có sứ thần mang một cái vỏ ốc rất dài bị rỗng hai đầu, ông nhờ tôi dùng sợi chỉ mảnh xuyên qua vỏ ốc. Tôi liền hát:

“Tang tính tang! Tính tình tang!
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng,
Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang
Tang tình tang…”

Mãi về sau khi đã thành trạng nguyên, tôi mới hiểu được, sự nhanh trí lần đó của mình đã cứu nước khỏi giặc ngoại xâm

Bài mẫu 15

Tôi là Sọ Dừa. Khi mẹ sinh ra, tôi không có chân tay, mình mẩy cứ tròn lông lốc như quả dừa. Bà buồn quá, định vứt tôi đi, thì tôi liền nói:

- Mẹ ơi! Con là người đấy! Mẹ đừng vứt con mà tội nghiệp.

Vì thương tôi nên mẹ đã để lại nuôi, đặt cho tôi cái tên là Sọ Dừa. Lớn lên, tôi vẫn như lúc nhỏ, lăn lông lốc trong nhà. Mẹ liền nói với tôi:

- Con nhà người ta báy tám tuổi đã đi ở chăn bò, còn mày chẳng được tích sự gì.

Tôi liền bảo với mẹ:

- Chuyện gì chứ chăn bò con cũng làm được. Mẹ cứ xin phú ông cho con đi chăn bò.

Nghe vậy, mẹ tôi liền đến hỏi phú ông. Từ đó tôi đến ở nhà phú ông. Ngày ngày, tôi lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về nhà, đàn bò béo tốt hẳn ra. Tôi thấy phú ông mừng ra mặt.

Ngày mùa, tôi tớ ra đồng làm hết cả, phú ông bèn sai ba cô con gái thay phiên nhau đem cơm cho tôi. Hai cô chị độc ác nên thường hắt hủi tôi. Chỉ có cô út hiền lành, đối xử với với tôi.

Một hôm, tôi biến thành người, ngồi thổi sáo trên lưng trâu thì tiếng động, biết có người nên tôi lại hóa về hình dáng cũ. Từ đó, cô út càng chăm sóc tôi nhiều hơn, có thức ăn ngon lại giấu đem cho tôi.

Cuối mùa ở, tôi liền về giục mẹ đến hỏi con gái phú ông làm vợ. Mẹ tôi ửng sốt lắm, nhưng thấy tôi năn nỉ mãi nên cũng sang hỏi phú ông. Khi trở về, bà nói rằng phú ông yêu cầu phải sắm đủ một chĩnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm mới đồng ý gả con gái. Tôi nói với mẹ cứ yên tâm.

Đến ngày hẹn, mẹ tôi vô cùng ngạc nhiên khi trong nhà bỗng có đủ những lễ vật mà phú ông yêu cầu. Không chỉ vậy, còn có chục giai nhân khiêng sính lễ sang nhà phú ông. Phú ông liền hỏi ba cô con gái xem có ai đồng ý, thì chỉ có cô út.

Trong ngày cưới, tôi cho bày cỗ thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Lúc rước dâu, tôi biến thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú sang đón cô út về làm vợ. Hai vợ chồng tôi sống hạnh phúc. Tôi ngày đêm miệt mài đèn sách và thi đỗ trạng nguyên. Chẳng bao lâu, nhà vua cử tôi đi sứ. Trước khi đi, tôi đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải giữ luôn các thứ ấy bên mình để có lúc cần dùng đến.

Một hôm có chiếc thuyền đi qua đảo, tôi nghe thấy tiếng con gà trống gáy vang ba lần:

- Ò… ó… o… Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.

Tôi hạ lệnh cho thuyền vào xem, thì gặp lại vợ mình. Vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc. Tôi đưa vợ về nhà, mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong nhà không cho ai biết. Hai người chị của vợ tôi tranh nhau kể chuyện nàng gặp phải rủi ro, tỏ vẻ thương tiếc lắm. Tôi không nói gì, tiệc xong mới cho gọi vợ ra. Nhìn thấy em mình đã trở về bình an, họ xấu hổ bỏ về.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 6 - Kết nối tri thức - Xem ngay

Tham Gia Group Dành Cho Lớp 6 Chia Sẻ, Trao Đổi Tài Liệu Miễn Phí

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...