1001+ mẫu mở bài, kết bài phân tích tác phẩm hay nhất 200+ Mở bài, Kết bài nghị luận về một tác phẩm thơ tự do

"Viết đoạn văn cảm nhận về khổ thơ sau: “Con ở miền Nam...đứng thẳng hàng”(Trích Viếng lăng Bác - Viễn Phương, Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm 2005, trang 58, 59)


Khổ thơ đầu tác phẩm "Viếng lăng Bác" đã ghi lại trọn vẹn niềm xúc động nghẹn ngào của nhà thơ Viễn Phương trong ngày đầu ra thăm lăng Người. Giữa không gian thiêng liêng ấy, từng câu chữ hiện lên như tiếng lòng thành kính, tha thiết của một người con miền Nam sau bao năm tháng mong chờ được gặp Bác.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Mở bài trực tiếp Mẫu 1

Khổ thơ đầu tác phẩm "Viếng lăng Bác" đã ghi lại trọn vẹn niềm xúc động nghẹn ngào của nhà thơ Viễn Phương trong ngày đầu ra thăm lăng Người. Giữa không gian thiêng liêng ấy, từng câu chữ hiện lên như tiếng lòng thành kính, tha thiết của một người con miền Nam sau bao năm tháng mong chờ được gặp Bác.

Mở bài trực tiếp Mẫu 2

Đoạn thơ mở đầu trong bài "Viếng lăng Bác" của Viễn Phương gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc bởi hình ảnh hàng tre xanh bát ngát trong sương sớm. Qua lăng kính trữ tình của tác giả, rặng tre quanh lăng không chỉ là cảnh thực mà đã trở thành biểu tượng cho cốt cách kiên cường, bất khuất của con người Việt Nam.

Mở bài trực tiếp Mẫu 3

Đến với khổ một bài thơ "Viếng lăng Bác", người đọc được chìm đắm trong dòng cảm xúc tự nhiên, chân thành của người con miền Nam ra thăm lăng Bác. Bằng việc khắc họa hình ảnh hàng tre đứng thẳng hàng trong bão táp, Viễn Phương vừa bày tỏ niềm thành kính sâu sắc, vừa tôn vinh ý chí kiên trung của toàn dân tộc.

Mở bài gián tiếp Mẫu 1

Bằng ngôn ngữ gợi tả:
Khổ thơ mở đầu "Viếng lăng Bác" là thước phim tư liệu bằng thơ, thấm đẫm những giọt sương sớm quảng trường và nghẹn ngào tiếng lòng của Viễn Phương. Đứng trước lăng Người, nhà thơ không giấu nổi niềm xúc động vỡ òa, gửi gắm trọn vẹn niềm thành kính vào sắc xanh kiên cường của hàng tre Việt Nam.

Mở bài gián tiếp Mẫu 2

Bằng liên hệ văn học:
Nỗi đau thương khi Bác ra đi từng khiến Tố Hữu thốt lên đầy xót xa rằng trái đất khóc Người, lệ tuôn giăng hạng. Thế nhưng, đến với khổ một bài thơ Viếng lăng Bác, người con miền Nam Viễn Phương lại kiềm nén nỗi đau ấy vào sắc xanh kiên cường của rặng tre bát ngát. Bằng ngôn từ giàu sức gợi, đoạn thơ đã dệt nên một tiếng lòng thành kính, tự hào trước một biểu tượng quật cường của cả dân tộc.

Mở bài gián tiếp Mẫu 3

Bằng liên hệ thực tế:
Cây tre vốn là biểu tượng gắn liền với đời sống giữ làng canh nước gian lao của người dân Việt Nam từ bao đời nay. Thừa hưởng mạch nguồn thực tế đó, khổ thơ đầu bài Viếng lăng Bác đã khắc họa rặng tre xanh xanh ẩn hiện trong sương sớm bằng ngôn từ giàu sức gợi, vừa tạo nên bức tranh quảng trường trang nghiêm, vừa ngợi ca cốt cách kiên trung của dân tộc.

Mở bài gián tiếp Mẫu 4

Từ chủ đề:
Khổ thơ đầu bài Viếng lăng Bác là nốt trầm xao xuyến mở đầu cho chủ đề ngợi ca lòng biết ơn sâu sắc đối với vị Cha già dân tộc. Giữa quảng trường sương mờ, sắc xanh miên man của rặng tre đứng thẳng hàng trong bão táp đã gợi tả trọn vẹn sự gắn kết thiêng liêng giữa lãnh tụ kính yêu và khí phách của cả một đất nước.

Mở bài gián tiếp Mẫu 5

Bằng phép đối:
Giữa không gian quảng trường Ba Đình bảng lảng khói sương, bước chân người con miền Nam đã dồn nén bao năm tháng đợi chờ vào khổ đầu bài thơ Viếng lăng Bác. Bằng ngôn từ giàu sức gợi, tác giả đã đối lập cái mênh mông của sương sớm bát ngát với cái hiên ngang của rặng tre xanh, làm bật lên lòng thành kính và ý chí quật cường của cả dân tộc.

Mở bài gián tiếp Mẫu 6

Bằng câu hỏi tu từ:
Có cảnh sắc nào bên lăng Bác lại vừa bình dị, vừa thiêng liêng như hình ảnh rặng tre xanh ẩn hiện trong sương sớm quảng trường? Khổ thơ đầu bài Viếng lăng Bác bằng ngôn ngữ gợi hình sâu sắc đã biến sắc tre bát ngát ấy thành khúc ca thành kính ngợi ca khí phách kiên trung của cả một dân tộc.

Mở bài gián tiếp Mẫu 7

Từ tác giả:
Là một người con Nam Bộ dành cả cuộc đời chiến đấu nơi khói bom, Viễn Phương đã dồn nén trọn vẹn nỗi lòng mong mỏi của mình vào khổ đầu bài Viếng lăng Bác. Giữa quảng trường Ba Đình bảng lảng khói sương, nhà thơ mượn sắc xanh miên man của rặng tre đứng thẳng hàng để gửi gắm tiếng lòng thành kính sâu sắc đến vị Cha già dân tộc.

Kết bài không mở rộng Mẫu 1

Khổ thơ mở đầu "Viếng lăng Bác" đã khép lại bằng một bức tranh thơ vừa chân thực vừa giàu tính biểu tượng. Qua việc khắc họa hình ảnh hàng tre kiên cường trước bão táp, Viễn Phương không chỉ bộc lộ niềm xúc động thành kính của người con miền Nam mà còn tôn vinh cốt cách bất khuất của cả dân tộc.

Kết bài không mở rộng Mẫu 2

Tóm lại, bốn câu thơ đầu của tác phẩm đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc nhờ ngôn ngữ giàu sức gợi tả. Hình ảnh rặng tre đứng thẳng hàng nơi quảng trường Ba Đình mãi là một biểu tượng nghệ thuật tuyệt đẹp về tinh thần thép và dẻo dai của con người Việt Nam bên vị lãnh tụ kính yêu.

Kết bài không mở rộng Mẫu 3

Bằng giọng thơ trang nghiêm, thiết tha đậm chất Nam Bộ, Viễn Phương đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh khơi dòng cảm xúc cho toàn tác phẩm ngay từ khổ thơ đầu. Tiếng lòng thành kính của tác giả hòa vào sắc xanh của tre như một nén tâm hương vĩnh cửu dâng lên giấc ngủ ngàn thu của Bác.

Kết bài mở rộng Mẫu 1

Bằng ngôn ngữ gợi tả:
Khổ thơ mở đầu Viếng lăng Bác đã khép lại nhưng sắc xanh miên man của rặng tre già vẫn còn bảng lảng, thấm đượm trong tâm trí người đọc. Bằng những nét vẽ đậm chất hội họa, Viễn Phương không chỉ gửi gắm một tiếng nấc nghẹn ngào của đứa con xa xứ mà còn tạc vào lòng người tượng đài kiêu hãnh về cốt cách dẻo dai, kiên cường của dân tộc Việt Nam.

Kết bài mở rộng Mẫu 2

Bằng liên hệ văn học:
Bằng ngôn từ giàu sức gợi, bốn câu thơ đầu đã dệt nên một nốt trầm thành kính, biến nỗi đau thương thành niềm kiêu hãnh dân tộc. Khác với dòng lệ tuôn giăng hạng xót xa trong bài Bác ơi! của Tố Hữu, Viễn Phương chọn cách gửi gắm tình cảm của khúc ruột miền Nam vào rặng tre xanh xanh kiên cường, tạo nên một tượng đài nghệ thuật bất tử về lòng biết ơn lãnh tụ.

Kết bài mở rộng Mẫu 3

Bằng liên hệ thực tế:
Khổ thơ đầu Viếng lăng Bác khép lại nhưng sắc xanh miên man của rặng tre già vẫn bảng lảng trong tâm trí người đọc. Đối với một người con vừa bước ra từ khói bom dữ dội của chiến trường miền Nam như Viễn Phương, rặng tre đứng thẳng hàng trong bão táp mưa sa chính là hiện thân thực tế cho ý chí sắt đá, quật cường của đồng bào ruột thịt đã kiên cường chiến đấu để có ngày bừng sáng bình minh độc lập.

Kết bài mở rộng Mẫu 4

Bằng phép đối:
Bằng ngôn từ giàu tính tạo hình, bốn câu thơ đầu đã để lại dư âm sâu sắc nhờ sự kết hợp tài hoa giữa bút pháp tả thực và ẩn dụ. Sự tương phản đối lập giữa cái dữ dội của bão táp mưa sa ngoài cuộc đời với nét đứng thẳng hàng bất khuất của rặng tre đã tôn vinh trọn vẹn tinh thần thép và sức sống dẻo dai của con người Việt Nam.

Kết bài mở rộng Mẫu 5

Từ chủ đề:
Khổ thơ đầu Viếng lăng Bác đã khép lại trọn vẹn mạch chủ đề về lòng biết ơn sâu sắc đối với vị Cha già dân tộc. Bằng ngôn từ giàu sức gợi, sắc xanh miên man của rặng tre đứng thẳng hàng trong bão táp đã để lại dư âm xao xuyến, biến tiếng lòng thành kính của đứa con xa xứ thành khúc ca bất tử cùng mạch nguồn đất nước.

Kết bài mở rộng Mẫu 6

Bằng câu hỏi tu từ:
Khổ thơ đầu Viếng lăng Bác đã khép lại nhưng bức tranh quảng trường sương mờ dạt dào cảm xúc vẫn còn đọng lại vẹn nguyên. Bằng ngôn từ giàu sức gợi, Viễn Phương đã biến rặng tre bát ngát đứng thẳng hàng trong bão táp thành một biểu tượng nghệ thuật kiêu hãnh. Liệu có sắc xanh nào bình dị mà kiên trung, dẻo dai hơn màu tre xanh Việt Nam đang ngày đêm canh giữ giấc ngủ cho Người?

Kết bài mở rộng Mẫu 7

Từ tác giả:
Khổ thơ đầu đã khép lại trọn vẹn tiếng lòng thành kính của Viễn Phương trong ngày đầu ra thăm lăng Bác. Bằng giọng thơ nhỏ nhẹ và thiết tha đậm chất Nam Bộ, tác giả đã gửi gắm một nén tâm hương vĩnh cửu vào sắc tre xanh đứng thẳng hàng, thay lời cho triệu triệu khúc ruột miền Nam bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với vị Cha già dân tộc.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...