1001+ mẫu mở bài, kết bài phân tích tác phẩm hay nhất
200+ Mở bài, Kết bài nghị luận về một tác phẩm thơ thất.. Phân tích bài thơ Tự trào (Trần Tế Xương)>
Trần Tế Xương là một nhà thơ trào phúng xuất sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam, nổi tiếng với những vần thơ bộc lộ nỗi niềm thời thế và cái tôi cá tính. Bài thơ Tự trào là một trong những sáng tác tiêu biểu thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật ấy.
Mở bài trực tiếp Mẫu 1
Trần Tế Xương là một nhà thơ trào phúng xuất sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam, nổi tiếng với những vần thơ bộc lộ nỗi niềm thời thế và cái tôi cá tính. Bài thơ Tự trào là một trong những sáng tác tiêu biểu thể hiện rõ nét phong cách nghệ thuật ấy. Qua tác phẩm, nhà thơ không chỉ tự cười cợt, chế giễu hoàn cảnh bất đắc chí của chính mình mà còn gián tiếp phơi bày những nghịch lý, nhiễu nhương của xã hội giao thời lúc bấy giờ.
Mở bài trực tiếp Mẫu 2
Trong dòng chảy của văn học hiện thực trào phúng những năm cuối thế kỷ mười chín, Tự trào của Tú Xương đứng như một bức chân dung tự họa đầy xót xa nhưng cũng không kém phần sâu sắc. Bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật trang nghiêm, tác phẩm đã tái hiện chân thực hình ảnh một nhà nho lỡ dở, bất lực trước thời cuộc. Đi sâu vào phân tích bài thơ, người đọc sẽ cảm nhận được nỗi đau đời ẩn giấu sau những tiếng cười tự trào cay đắng của tác giả.
Mở bài trực tiếp Mẫu 3
Bài thơ Tự trào của nhà thơ Trần Tế Xương là một tiếng cười tự trào độc đáo, phản ánh số phận và tâm trạng của tầng lớp trí thức Nho học buổi giao thời. Với ngôn ngữ giản dị, giọng điệu châm biếm sâu cay, tác phẩm đã phác họa một cách sinh động hoàn cảnh sống ngột ngạt và tâm trạng ngơ ngẩn, bất lực của nhân vật trữ tình. Việc tìm hiểu và phân tích bài thơ này sẽ giúp chúng ta thấu hiểu hơn về bi kịch của một tài năng sinh bất phùng thời.
Mở bài gián tiếp Mẫu 1
Bằng ngôn ngữ gợi tả:
Bài thơ Tự trào mở ra một bức chân dung tự họa đầy góc cạnh và chua chát của Tú Xương giữa buổi giao thời nhiễu nhương. Bằng những nét vẽ ngôn từ vừa trào phúng vừa xót xa, tác phẩm đã thu nhỏ hình ảnh một nhà nho bất đắc chí, ngơ ngẩn đứng bên lề xã hội, cay đắng gánh trên vai bi kịch của chính mình và thời đại.
Mở bài gián tiếp Mẫu 2
Bằng liên hệ văn học:
Khác với giọng điệu tự trào có phần ngạo nghễ, phóng khoáng của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng, Tự trào của Trần Tế Xương lại mang một sắc thái chua chát, đớn đau của một kẻ sinh lầm thế kỷ. Tác phẩm gieo vào lòng người đọc hình ảnh một nhà nho lận đận, ngơ ngẩn giữa dòng đời nhiễu nhương, phải sống kiếp sai vặt, ngửa tay nhận từng củ khoai củ ngô từ vợ. Qua bức chân dung tự họa đầy góc cạnh ấy, Tú Xương đã gửi gắm một thông điệp cay đắng về sự bất lực của con người trước vòng quay của số phận.
Mở bài gián tiếp Mẫu 3
Bằng lí luận văn học:
Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống, nhưng trước hết nó là chiếc gương soi tâm hồn của chính người nghệ sĩ. Đến với bài thơ Tự trào của Trần Tế Xương, người đọc được chiêm ngưỡng một bức chân dung tự họa đầy góc cạnh và chân thực về cái tôi nghệ thuật buổi giao thời. Bằng bút pháp trào phúng bậc thầy, nhà thơ không chỉ tự bóc trần hoàn cảnh bất lực, ngơ ngẩn của bản thân mà còn kết tinh nỗi đau thời thế thành một hình tượng nghệ thuật độc đáo, mang sức chứa hiện thực sâu sắc.
Mở bài gián tiếp Mẫu 4
Bằng phép đối:
Bên ngoài vểnh râu làm bậc phụ lão, bên trong cúi đầu chịu cảnh hầu con; vừa mang dáng dấp của đấng văn thân, lại vừa sống bằng củ ngô củ khoai của vợ. Những nghịch lý đầy trớ trêu ấy đã được Trần Tế Xương gói gọn trong bài thơ Tự trào bằng một ngôn ngữ giàu sức gợi. Tác phẩm là bức chân dung tự họa đầy góc cạnh, kết hợp hài hòa giữa tiếng cười châm biếm sâu cay và giọt nước mắt xót xa của một nhà nho bất lực trước thời cuộc.
Mở bài gián tiếp Mẫu 5
Từ chủ đề:
Chủ đề tự trào hay tự cười chính mình từ lâu đã trở thành một nét đặc sắc trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam khi người trí thức đối diện với nghịch cảnh. Bài thơ Tự trào của Trần Tế Xương chính là một đỉnh cao của chủ đề này, nơi nhà thơ tự phác họa bức chân dung tự họa đầy chua chát của bản thân. Qua những vần thơ giàu sức gợi, tác phẩm không chỉ phơi bày bi kịch của một nhà nho bất lận đận mà còn làm nổi bật chủ đề về sự bất lực của con người trước thời cuộc nhiễu nhương.
Mở bài gián tiếp Mẫu 6
Bằng câu hỏi tu từ:
Còn nỗi đau nào cay đắng hơn khi một bậc văn thân mang chí lớn lại phải sống kiếp ngơ ngẩn, ngày ngày hầu con và ngửa tay nhận từng đồng lương vợ phát dần? Câu hỏi nhức nhối ấy đã được Trần Tế Xương gửi gắm trọn vẹn trong bài thơ Tự trào bằng một ngôn ngữ giàu sức gợi. Tác phẩm là bức chân dung tự họa đầy xót xa, nơi nhà thơ tự bóc trần hoàn cảnh trớ trêu của chính mình, biến tiếng cười tự giễu thành khúc ca u uất của một trí thức bất lực trước thời cuộc.
Mở bài gián tiếp Mẫu 7
Từ tác giả:
Trần Tế Xương vốn nổi tiếng là một thi sĩ mang cốt cách lạ lùng, người đã dùng tiếng cười trào phúng để che đậy những giọt nước mắt dành cho thời cuộc. Bài thơ Tự trào chính là bức chân dung tự họa chân thực nhất mà ông để lại, nơi cái tôi của nhà thơ không còn vẻ ngoài cứng nhắc của một ông đồ mà trở nên gần gũi, ngơ ngẩn và đầy bi kịch. Qua tác phẩm, ta thấy được một tâm hồn luôn khắc khoải, nhạy cảm trước những biến động của xã hội phong kiến buổi giao thời.
Kết bài không mở rộng Mẫu 1
Tóm lại, bài thơ Tự trào của Trần Tế Xương đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc nhờ sự kết hợp tài hoa giữa giọng điệu châm biếm và chất trữ tình sâu lắng. Bằng ngôn từ góc cạnh và giàu sức gợi, tác phẩm không chỉ dừng lại ở lời tự họa cay đắng của một nhà nho lỡ dở mà còn trở thành bức tranh chân thực về nỗi đau thời thế. Khép lại bài thơ, tiếng cười tự giễu của Tú Xương vẫn vang vọng như một nốt nhạc trầm đầy ám ảnh về một giai đoạn lịch sử nhiễu nhương.
Kết bài không mở rộng Mẫu 2
Bài thơ Tự trào là một thành công xuất sắc của Trần Tế Xương trong mảng thơ trào phúng, thể hiện trọn vẹn tài năng và cá tính sáng tạo độc đáo của ông. Qua những nét vẽ ngôn từ đầy tính tương phản, tác giả đã bóc trần hoàn cảnh trớ trêu của bản thân để nói lên bi kịch chung của một thế hệ tri thức sinh bất phùng thời. Tác phẩm xứng đáng là một viên ngọc quý trong nền văn học trung đại Việt Nam, gieo vào lòng người đọc niềm cảm thương sâu sắc cho một kiếp người tài hoa nhưng lận đận.
Kết bài không mở rộng Mẫu 3
Có thể khẳng định, Tự trào chính là lời tự bạch chân thành, xót xa và dũng cảm nhất của Trần Tế Xương trước gương soi của cuộc đời. Bài thơ đã vượt lên trên ý nghĩa của một tiếng cười giải trí thông thường để trở thành một khúc ca nhận thức đầy đau đớn về sự bất lực của con người trước vòng xoay lịch sử. Với ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, tác phẩm mãi mãi giữ vững giá trị hiện thực và giá trị nhân văn cao cả, khẳng định vị thế không thể thay thế của Tú Xương trong dòng thơ trào phúng nước nhà.
Kết bài mở rộng Mẫu 1
Bằng ngôn ngữ gợi tả:
Khép lại bài thơ Tự trào, dư âm của tiếng cười buốt chát và giọt nước mắt thầm kín của Tú Xương vẫn như còn đọng lại trên từng trang sách. Bằng những nét vẽ ngôn từ đầy góc cạnh, tác phẩm đã tạc nên bức chân dung sống động về một nhà nho lỡ dở, bất lực nhìn cuộc đời xoay vần. Bài thơ mãi là một nốt nhạc trầm đầy ám ảnh, gieo vào lòng người đọc nỗi cảm thương sâu sắc cho một tài năng sinh bất phùng thời.
Kết bài mở rộng Mẫu 2
Bằng liên hệ văn học:
Khác với sự ngạo nghễ, thách thức thói đời của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng, Tự trào của Tú Xương khép lại trong nỗi chua chát và tê tái của một kẻ sinh lầm thế kỷ. Qua những nét vẽ ngôn từ đầy tính tương phản, tác phẩm không chỉ phơi bày bi kịch cơm áo và danh phận dở dang của tác giả mà còn thâu tóm được cái thần của một giai đoạn lịch sử nhiễu nhương. Tiếng cười tự giễu ở đây đã vượt lên trên một lời tự bạch cá nhân để trở thành khúc ca bi tráng về sự bế tắc của cả một thế hệ tri thức đương thời.
Kết bài mở rộng Mẫu 3
Bằng lí luận văn học:
Văn học là hình thức tự nhận thức của con người về bản thân và thế giới, và Tự trào của Trần Tế Xương chính là đỉnh cao của sự tự ý thức đầy đớn đau ấy. Nhà thơ đã dũng cảm bóc trần bi kịch ngơ ngẩn, lỡ dở của chính mình để tạo nên một thông điệp nghệ thuật có sức lay động mãnh liệt. Tiếng thở dài ngao ngán ở cuối bài thơ chính là nốt nhạc trầm kết tinh thiên chức của người nghệ sĩ: biến nỗi nhục nhã riêng thành tiếng khóc than cho sự suy tàn của một thời đại lịch sử.
Kết bài mở rộng Mẫu 4
Bằng phép đối:
Khép lại tác phẩm, bài thơ Tự trào đã hoàn thành xuất sắc bức chân dung tự họa bằng cách đối lập giữa cái danh cao sang của một nhà nho và cái thực cay đắng của kiếp sống nghèo hèn. Bằng thứ ngôn từ gợi tả sắc lạnh, Trần Tế Xương vừa tự cười bản thân ngơ ngẩn đứng bên lề xã hội, lại vừa gián tiếp khóc thương cho một thời đại phong kiến đang trên đà suy tàn. Sự đan cài giữa tiếng cười trào phúng buốt chát và giọt nước mắt xót xa ấy đã giúp bài thơ sống mãi với thời gian, tạc vào lòng người đọc nỗi xúc động sâu sắc.
Mẫu 5
Từ chủ đề:
Tóm lại, bài thơ Tự trào đã thể hiện một cách trọn vẹn chủ đề tự thức tỉnh và nhận thức sâu sắc về cái tôi cô đơn, bất lực giữa dòng đời biến động. Qua những câu thơ góc cạnh và giàu sức gợi, Trần Tế Xương không chỉ tập trung vào chủ đề tự cười bản thân lận đận mà còn làm nổi bật nỗi đau của cả một thế hệ tri thức trước cuộc thế xoay vần. Tác phẩm khép lại nhưng chủ đề hiện thực nhức nhối ấy vẫn mãi là một nốt nhạc trầm đầy ám ảnh, khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của tập thơ trào phúng xứ Vị Hoàng.
Kết bài mở rộng Mẫu 6
Bằng câu hỏi tu từ:
Sau tất cả những tiếng cười tự trào chua chát, cái vểnh râu bất lực của ông Tú cuối tác phẩm phải chăng chính là giọt nước mắt thầm kín khóc thương cho một thời đại phong kiến đang trên đà suy tàn? Bằng ngôn từ gợi tả sắc lạnh và cấu trúc tương phản độc đáo, Tự trào đã vượt lên trên một lời tự bạch cá nhân để trở thành khúc ca bi tráng về danh dự của cả một thế hệ văn thân lỡ dở. Tác phẩm đã khép lại một kiếp người lận đận phụ thuộc vào củ ngô củ khoai của vợ, nhưng đồng thời mở ra sự đồng cảm và trân trọng sâu sắc nơi người đọc bao thế hệ.
Kết bài mở rộng Mẫu 7
Từ tác giả:
Qua bài thơ Tự trào, Trần Tế Xương một lần nữa khẳng định bản lĩnh của một nhà thơ trào phúng bậc thầy, người luôn biết cách biến nỗi đau riêng thành tiếng cười châm biếm sâu sắc. Tác phẩm đã hoàn thành bức chân dung tự họa đầy góc cạnh, lột tả chân thực cái tôi lận đận, ngơ ngẩn của thi sĩ đất Vị Hoàng giữa buổi giao thời nhiễu nhương. Chính tấm lòng canh cánh với cuộc đời đằng sau những vần thơ tự giễu chua chát đã giúp tên tuổi của Tú Xương sống mãi trong lòng người đọc bao thế hệ.
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài nghị luận phân tích bài thơ Hoa mắc cỡ (Ngọc Liên Nguyễn) hay nhất
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài nghị luận viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Thuật hứng (bài số 24) – Nguyễn Trãi hay nhất
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài nghị luận viết bài văn phân tích bài thơ “Chạy Tây” của Nguyễn Đình Chiểu hay nhất
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài nghị luận cảm nhận về bài thơ Làm ruộng (Nguyễn Khuyến) hay nhất
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hai câu thơ: Chơi cùng bầy dại nên bầy dại Kết mấy người khôn học nết khôn. (Trích: “Bảo kính cảnh giới” – Bài 21 - Theo Nguyễn Trãi toàn tập - Đào Duy Anh dịch) hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài nghị luận viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của em về hai khổ thơ (5), (6) của văn bản Sau cơn bão (Huỳnh Mai Liên) hay nhất
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh “hạt gạo” trong đoạn thơ sau: Hạt gạo làng ta/.../Mẹ em xuống cấy... (Trích Hạt gạo làng ta, Trần Đăng Khoa, dẫn theo https://www.thivien.net/) hay nhất
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài viết đoạn văn (khoảng 300 chữ) ghi lại cảm xúc của em về vẻ đẹp thiên nhiên mùa hè trong bài thơ sau: Trưa hè gió thổi Hoa phượng lung lay Cánh hoa rụng bay Như bầy bướm lượn Tiếng ve ca rộn Nghe như tiếng đàn Trưa hè liên hoan Ho
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài viết đoạn văn (khoảng 100 chữ) phân tích hai khổ thơ cuối của văn bản "Mẹ" (Đỗ Trung Lai) hay nhất
- 20+ Mẫu mở bài, kết bài nghị luận phân tích bài thơ Quả ngọt cuối mùa (Võ Thanh An) hay nhất




Danh sách bình luận