Soạn bài Viết bài làm văn số 7: Văn nghị luận - Ngắn gọn nhất

Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

Soạn Văn lớp 10 ngắn gọn tập 2 bài Viết bài làm văn số 7: văn nghị luận. Câu 1. Đề 1: Dân tộc ta có truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Theo anh (chị), truyền thống ấy được nối tiếp như thế nào trong thực tế cuộc sống hiện nay?

➡ Bạn giỏi văn? Hãy tham gia chương trình: Gửi văn hay nhận ngay phần thưởng nhé💘

Đề 1: Dân tộc ta có truyền thông “Tôn sư trọng đạo”. Theo anh (chị), truyền thống ấy được nối tiếp như thế nào trong thực tế cuộc sông hiện nay?

1. Xác định yêu cầu của đề ra:

- Về thể loại: nghị luận xã hội.

- Nội dung: vấn đề “Tôn sư trọng đạo”, một vấn đề có tính truyền thống của dân tộc.

- Phạm vi tư liệu: dùng cho bài viết rất rộng (từ xưa đến nay)

- Thao tác lập Luận: Người viết cần sử dụng một cách tổng hợp các thao tác, lập luận: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh.

2. Bài viết cần đảm bảo những ý cơ bản sau:

- Giải thích ý nghĩa của câu nói: "Tôn sư trọng đạo"

    + Thế nào là "Tôn sư"?

    + "Đạo" có nghĩa là gì?

    + Thế nào là "Tôn sư trọng đạo"

- Chứng minh “Tôn sư trọng đạo” là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta (Cách ứng xử của học trò ngày xưa như thế nào? Ngày nay truyền thống ấy vẫn được phát huy ra sao?)

- Trình bày ý kiến của mình về câu nói:

+ Truyền thống được nêu ra trong câu nói là tốt đẹp, cần được lưu giữ và phát huy.

+ Song trong thời đại mới, việc “Tôn sư trọng đạo” cần phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và dân chủ. Tôn sư trọng đạo không phải chỉ là một việc làm mang ý nghĩa hình thức. Nó phải xuất phát từ sự tôn kính thực sự của mỗi cá nhân.

- Khẳng định ý nghĩa tốt đẹp của câu nói, đặc biệt là trong cuộc sống hôm nay.

Đề 2: Có ý kiên cho rằng: Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên người bạn thân ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính.

Anh (chị) thấy ý kiến này như thế nào?

1. Xác định yêu cầu của đề ra:

- Về thể loại: nghị luận xã hội.

- Nội dung: quá trình hình thành, phát triển của những thói xấu ở con người.

- Phạm vi tư liệu: những kiến thức đời sống, xã hội

- Thao tác lập luận: Người viết cần sử dụng một cách tổng hợp các thao tác, lập luận: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh.

2. Bài viết cần đảm bảo những ý cơ bản sau:

- Giải thích ý nghĩa của ý kiến đã cho:

+ Ba sự so sánh: thói xấu với khách qua đường, thói xấu với người bạn thânthói xấu với ông chủ nhà khó tính, khác nhau như thế nào về ý nghĩa?

+ Ý nghĩa chung của cả câu nói là gì? (những thói xấu nếu không được sửa chữa kịp thời sẽ trở thành những thói quen rất khó thay đổi).

+ Các thói hư tật xấu đã trở thành những thói quen như thế nào? (lặp lại nhiều lần mà ta không có ý thức sửa chữa, uốn nắn).

- Chứng minh bằng các dẫn chứng mà mình đã gặp trong cuộc sống (miêu tả lại quá trình những thói hư tật xấu trở thành thói quen: thói quen ngủ dậy muộn, các thói quen không tốt trong giao tiếp, trong học tập,…)

- Nêu ra cách giải quyết.

- Khẳng định tính đúng đắn của ý kiến đã nêu ra ở đề bài.

Đề 3: Hưởng ứng đợt thi đua xây dựng môi trường xanh, sạch đẹp do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phát động, chi đoàn 10A tó chức hội thảo với chủ đê: Hãy vì một mái trường xanh, sạch, đẹp.

Anh (chị) hãy viết bài tham gia hội thảo đó.

1. Xác định yêu cầu của đề ra:

- Về thể loại: nghị luận văn học

- Nội dung: vấn đề nghị luận là hãy vì một mái trường xanh, sạch, đẹp, một vấn đề đang được đặt ra một cách bức thiết hiện nay.

- Phạm vi tư liệu: Những kiến thức về mồi trường

- Thao tác lập luận: Người viết cần sử dụng một cách tổng hợp các thao tác, lập luận: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh.

2. Bài viết cần làm nổi bật được những ý cơ bản sau:

- Khẩu hiểu: Hãy vì một mái trường xanh, sạch, đẹp có ý nghĩa gì?

- Tại sao lại phải đưa ra khẩu hiệu đó? (Vì hiện nay, khoogn chỉ trong nhà trường mà trên phạm vi toàn thế giới, con người đã và đang phải đối diện với hàng loạt những vấn đề bức xúc của môi trường)

- Môi trường (nơi mà chúng ta đang học tập) hiện nay ra sao? (Đã đạt tiêu chuẩn xanh, sạch, đẹp hay chưa? Còn tồn tại những vấn đề gì? Nguyên nhân là do đâu?...)

- Làm thế nào để ngôi trường của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp? (nêu những giải pháp trước mắt và lâu dài).

Đề 4: Học bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão, có người cho rằng: sự hổ thẹn của tác giả là quá đáng, kiêu kì. Ngược lại, có người ngợi ca và cho rằng đó là biểu hiện một hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước.

Hãy cho biết ý kiến của anh (chị).

1. Xác định yêu cầu của đề ra:

- Về thể loại: nghị luận văn học.

- Nội dung: bàn luận về hai vấn đề trái ngược nhau khi đọc bài thơ Thuật hoài với sự hổ thẹn của tác giả thể hiện ở hai câu cuối

- Phạm vi tư liệu: bài thơ Thuật hoài là những hiểu biết về xã hội, đặc biệt là thời đại của nhà thơ Phạm Ngũ Lão.

- Thao tác lập luận: Người viết cần sử dụng một cách tổng hợp các thao tác lập luận: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh.

2. Bài viết cần làm nổi bật được những ý cơ bản sau:

- Khái quát lại nội dung của bài thơ.

- Do đâu mà có hai quan điểm nêu trên? (bắt nguồn từ “nỗi thẹn” của nhà thơ).

- Sự khác nhau cơ bản giữa hai quan điểm nêu trên là gì? (Cùng đánh giá theo hướng tuyệt đối hóa một mặt của vấn đề)

- Ý kiến của bản thân:

+ Cần phải thấy rằng cách nói của tác giả trong bài thơ là một cách biểu hiện nghệ thuật quen thuộc của thời trung đại, không bao gồm hàm ý “đao to búa lớn”.

+ Hơn nữa, bài thơ ra đời đúng vào cái thời mà “Hào khí Đông A” đang sục sôi hừng hực, mỗi người đều mong góp hết sức mình cho đất nước, non sông. Vì thế có thể coi “nỗi thẹn” của tác giả trong bài thơ là nỗi thẹn đầy trách nhiệm của kẻ trượng phu một lòng vì nước.

Click vào Bài tiếp theo > để xem bài soạn- đầy đủ

loigiaihay.com

Soạn bài Viết bài làm số 7: Văn nghị luận Soạn bài Viết bài làm số 7: Văn nghị luận

Soạn bài Viết bài làm số 7: Văn nghị luận trang 136 SGK Ngữ văn 10. Đề 2: Có ý kiến cho rằng: Những thói xấu ban đầu là người khách qua đường, sau trở nên người bạn thân ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ nhà khó tính.

Xem chi tiết
Bình giảng đoạn “Trao duyên” trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Bình giảng đoạn “Trao duyên” trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Trao duyên là một đoạn thơ có ý nghĩa đặc biệt trong Truyện Kiều. Nó là một trong những đoạn thơ mở đầu cuộc đời mười năm lưu lạc đầy đau khổ của Thúy Kiều, thể hiện sâu sắc chủ đề bi kịch tình yêu tan vỡ của tác phẩm, đồng thời bộc lộ biệt tài tâm lí của nhân vật Nguyễn Du.

Xem chi tiết
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm) Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm)

Trong đoạn trích "Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” tiếng nói ai oán đối với chiến tranh của người thiếu phụ trong khúc ngâm chung quy chỉ có sầu với nhớ và hết nhớ lại sầu.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi Phân tích bài thơ “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi

Bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Nhàn Phân tích bài thơ Nhàn

Bài thơ “Nhàn” bao quát toàn bộ triết lí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vong thối nát

Xem chi tiết
Cảm nhận về bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du Cảm nhận về bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du

Hiểu được nỗi đồng cảm của Nguyễn Du với số phận của nàng Tiểu Thanh - người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí ( Bài 2 ) Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí ( Bài 2 )

Nàng Tiểu Thanh là một trong số những nhân vật tài hoa mà bạc mệnh trong nền văn học Việt Nam, số phận của nàng cũng chính là số phận của những người phụ nữ lúc bấy giờ: có tài,có sắc mà cuộc đời phải chịu nhiều bất công, ngang trái .

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến Lớp 10 trên Tuyensinh247.com, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu

Gửi văn hay nhận ngay phần thưởng