Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 5


Hồi còn ở trong chiếc kén chật chội, Sâu Con chỉ muốn thoát khỏi cái nơi bí bách đấy để được bay thật cao trên bầu trời rộng lớn ngoài kia. Nó nhớ lại lời mẹ:

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Đề bài

A. KIỂM TRA ĐỌC

I. Đọc thành tiếng

- Học sinh đọc đoạn văn bản “Trong ánh bình minh” (SGK Tiếng Việt 4 tập 2 – Chân trời sáng tạo, trang 21). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 - 5 phút.

- Dựa vào nội dung bài đọc, học sinh trả lời câu hỏi: Bài đọc giúp em hiểu thêm điều gì về cuộc sống của các loài vật trong rừng?

II. Đọc thầm văn bản sau:

Thế giới của Bướm Vàng

Hồi còn ở trong chiếc kén chật chội, Sâu Con chỉ muốn thoát khỏi cái nơi bí bách đấy để được bay thật cao trên bầu trời rộng lớn ngoài kia. Nó nhớ lại lời mẹ:

- Sâu Con của mẹ, một ngày nào đó, con sẽ lột xác, sẽ hoá kén và trải qua những khoảng thời gian khó khăn. Nhưng con hãy nhớ, thế giới bao la đang chờ con khám phá. Con sẽ trở thành một chú Bướm Vàng xinh đẹp, sẽ có cánh để tung bay khắp mọi nơi và trải nghiệm cuộc sống mới. Hãy tận hưởng mọi điều chờ con ở phía trước nhé!

Rồi cứ thế, nhờ lời dạy bảo của mẹ, nó vượt qua bao đau đớn, phá vỡ chiếc kén nâu, tung đôi cánh, bay ra thế giới để ngắm nhìn mọi thứ. Nó bay lên, ngắm nhìn khu vườn nơi nó sống khi còn là một con sâu. Nó thấy từng cơn gió mát lành quấn lấy đôi cánh mỏng manh, đưa nó lên cao hơn nữa. Nó cảm nhận được mặt trời như gần hơn và những đám mây khổng lồ dường như cũng không còn quá xa xôi nữa. Nó được nếm vị ngọt ngào, thơm lừng của những bông hoa xinh đẹp. Nó được gặp gỡ biết bao nhiêu người bạn ong, bướm khác. Nó kể với bạn Ong Con lúc cả hai đang cùng uống mật hoa nhài:

- Cậu biết không, tớ đang sống một cuộc sống rất khác lúc còn là sâu. Ngày xưa, thế giới chỉ xoay quanh cây chanh nơi tớ nở ra từ quả trứng. Tớ chỉ biết ăn lá và hầu như chẳng cảm nhận được gì khác. Vậy mà bây giờ, tớ được khám phá mọi thứ quanh khu vườn và bay tới bất cứ nơi đâu!

Nói rồi, nó lại uống thứ mật hoa ngon tuyệt và cảm nhận cuộc sống hạnh phúc mà nó có sau khi rời khỏi lớp kén.

Theo Mai Thùy

Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu:

Câu 1. Hồi còn ở trong chiếc kén, Sâu Con mong muốn điều gì?

A. Trở thành một chú bướm xinh đẹp.

B. Mang theo chiếc kén, đi đến nhiều nơi.

C. Ở mãi trong chiếc kén và không muốn ra ngoài.

D. Thoát ra khỏi chiếc kén bí bách để được bay thật cao trên bầu trời rộng lớn.

Câu 2. Nhờ lời dạy bảo của mẹ, Sâu Con đã làm được điều gì?

A. Vượt qua sự đau đớn, phá vỡ chiếc kén và tung cánh, bay ra thế giới rộng lớn.

B. Vượt qua nỗi sợ và tung cánh bay lên bầu trời rộng lớn.

C. Trải nghiệm nhiều điều mới mẻ ở thế giới bên ngoài.

D. Tập bay trước khi trở thành Bướm Vàng.

Câu 3. Bướm Vàng cảm nhận về mọi thứ xung quanh khác với lúc còn là một Sâu Con như thế nào?

A. Được làm bất cứ điều gì mình thích.

B. Được bay tới bất cứ nơi đâu.

C. Được khám phá mọi thứ xung quanh.

D. Cả B và C đều đúng.

Câu 4. Em hãy thêm chủ ngữ phù hợp để hoàn thành câu văn sau:

……………………………………………trong vắt, không một gợn mây.

Câu 5. Em hãy gạch chân dưới câu chủ đề có trong đoạn văn sau:

Bác nông dân thoăn thoắt cắt từng bông lúa. Chú trâu chăm chỉ kéo xe lúa về. Đàn chim sẻ tung tăng nhặt những hạt thóc còn vương trên cánh đồng. Mọi người thu gom rơm sau khi gặt mang về. Khung cảnh buổi chiều trên cánh đồng thật nhộn nhịp.

(Theo Mai Nhung)

Câu 6. Vị ngữ của câu văn dưới đây là gì?

Mùa xuân mang đến làn gió ấm áp và không khí trong lành.

A. xuân mang đến làn gió ấm áp và không khí trong lành

B. mang đến làn gió ấm áp và không khí trong lành

C. mang đến làn gió ấm áp

D. mang đến

Câu 7. Viết lại câu sau sử dụng dấu gạch ngang để đánh dấu các ý liệt kê:

Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, em rất yêu thích các câu chuyện như: “Bác sĩ của nhân dân”, “Món ngon mùa nước nổi”.

B. KIỂM TRA VIẾT

Đề bài: Viết bài văn tả một cây bóng mát được trồng ở trường hoặc nơi em ở.

-------- Hết --------

Lời giải

  HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAHAY.COM

1. D

2. A

3. D

6. B

A. KIỂM TRA ĐỌC

I. Đọc thành tiếng

II. Đọc thầm văn bản sau:

Câu 1. Hồi còn ở trong chiếc kén, Sâu Con mong muốn điều gì?

A. Trở thành một chú bướm xinh đẹp.

B. Mang theo chiếc kén, đi đến nhiều nơi.

C. Ở mãi trong chiếc kén và không muốn ra ngoài.

D. Thoát ra khỏi chiếc kén bí bách để được bay thật cao trên bầu trời rộng lớn.

Phương pháp giải:

Em đọc câu đầu tiên để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Hồi còn ở trong chiếc kén, Sâu Con mong muốn thoát ra khỏi chiếc kén bí bách để được bay thật cao trên bầu trời rộng lớn.

Đáp án D.

Câu 2. Nhờ lời dạy bảo của mẹ, Sâu Con đã làm được điều gì?

A. Vượt qua sự đau đớn, phá vỡ chiếc kén và tung cánh, bay ra thế giới rộng lớn.

B. Vượt qua nỗi sợ và tung cánh bay lên bầu trời rộng lớn.

C. Trải nghiệm nhiều điều mới mẻ ở thế giới bên ngoài.

D. Tập bay trước khi trở thành Bướm Vàng.

Phương pháp giải:

Em đọc đoạn thứ hai để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Nhờ lời dạy bảo của mẹ, Sâu Con đã vượt qua sự đau đớn, phá vỡ chiếc kén và tung cánh, bay ra thế giới rộng lớn.

Đáp án A.

Câu 3. Bướm Vàng cảm nhận về mọi thứ xung quanh khác với lúc còn là một Sâu Con như thế nào?

A. Được làm bất cứ điều gì mình thích.

B. Được bay tới bất cứ nơi đâu.

C. Được khám phá mọi thứ xung quanh.

D. Cả B và C đều đúng.

Phương pháp giải:

Em dựa vào lời Sâu Con nói với Ong Con để chọn đáp án đúng.

Lời giải chi tiết:

Bướm Vàng được bay tới bất cứ nơi đâu, được khám phá mọi thứ xung quanh.

Đáp án D.

Câu 4. Em hãy thêm chủ ngữ phù hợp để hoàn thành câu văn sau:

……………………………………………trong vắt, không một gợn mây.

Phương pháp giải:

Em lựa chọn chủ ngữ phù hợp đặc điểm đã cho.

Lời giải chi tiết:

Bầu trời trong vắt, không một gợn mây.

Câu 5. Em hãy gạch chân dưới câu chủ đề có trong đoạn văn sau:

Bác nông dân thoăn thoắt cắt từng bông lúa. Chú trâu chăm chỉ kéo xe lúa về. Đàn chim sẻ tung tăng nhặt những hạt thóc còn vương trên cánh đồng. Mọi người thu gom rơm sau khi gặt mang về. Khung cảnh buổi chiều trên cánh đồng thật nhộn nhịp.

(Theo Mai Nhung)

Phương pháp giải:

Em dựa vào nội dung câu để chọn từ ngữ phù hợp.

Lời giải chi tiết:

a) Dấu chân của người dân nơi đây đều in hằn trên con đường làng.

b) Tuấn rất thích ngắm hoàng hôn trên bãi biển quê hương mình.

c) Những chiếc thuyền gắn liền với cuộc sống của ngư dân vùng biển.

Câu 6. Vị ngữ của câu văn dưới đây là gì?

Mùa xuân mang đến làn gió ấm áp và không khí trong lành.

A. xuân mang đến làn gió ấm áp và không khí trong lành

B. mang đến làn gió ấm áp và không khí trong lành

C. mang đến làn gió ấm áp

D. mang đến

Phương pháp giải:

Em đặt câu hỏi để tìm vị ngữ.

Lời giải chi tiết:

Vị ngữ của câu văn là “mang đến làn gió ấm áp và không khí trong lành”.

Đáp án B.

Câu 7. Viết lại câu sau sử dụng dấu gạch ngang để đánh dấu các ý liệt kê:

Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, em rất yêu thích các câu chuyện như: “Bác sĩ của nhân dân”, “Món ngon mùa nước nổi”.

Phương pháp giải:

Em bỏ dấu ngoặc kép và sử dụng dấu gạch ngang để viết lại câu.

Lời giải chi tiết:

Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, em rất yêu thích các câu chuyện như:

- Bác sĩ của nhân dân

- Món ngon mùa nước nổi

B. KIỂM TRA VIẾT

Đề bài: Viết bài văn tả một cây bóng mát được trồng ở trường hoặc nơi em ở.

Phương pháp giải:

Em lập dàn ý cho bài văn:

1. Mở bài: Giới thiệu cây bóng mát em định tả:

- Cây được trồng ở đâu? Trồng từ bao giờ?

2. Thân bài:

- Tả hình dáng của cây:

+ Cây cao bao nhiêu?

+ Hình dáng như thế nào? (cong/ thẳng; to/ nhỏ, ...)

+ Thân cây có đặc điểm gì? (nhẵn, bóng, sần sùi, thô ráp, mềm, ...)

+ Rễ có đặc điểm gì? (nằm sâu dưới đất, nổi lên mặt đất, ...)

+ Cành cây ra sao? (nhiều cành, không có cành, khẳng khiu, vươn dài, ...)

+ Đặc điểm của lá cây (Lá cây có hình gì? Kích thước ra sao? Màu sắc như thế nào? Lá cây có rụng theo thời kì không hay rụng theo mùa?, ...)

+ Quả (Khi nào cây có quả? Quả có hình dáng như thế nào? Bao lâu thì chín? Khi chín quả có mùi hương như thế nào? Ăn có vị ra sao?)

- Tả hoạt động của con người với cây

3. Kết bài: Nêu tình cảm của em với cây đó.

Lời giải chi tiết:

Bài tham khảo 1:

Cây bàng là một trong những loài cây bóng mát quen thuộc, được trồng trong khuôn viên trường em. Cây không chỉ mang đến bóng mát mà còn là một phần kí ức đẹp đẽ gắn liền với những năm tháng học sinh của chúng em.

Cây bàng cao gần đến tầng ba của trường em, vươn lên mạnh mẽ giữa không gian rộng lớn. Thân cây có màu nâu sẫm, vững chãi, hai bạn học sinh ôm mới xuể. Lớp vỏ của cây thô ráp, sần sùi, lằn thành từng vỏ của khe rãnh lớn như minh chứng cho sự trưởng thành qua thời gian. Những chiếc lá bàng to, có hình bầu dục, màu xanh bóng. Vào mùa hè. những chiếc lá này lại càng thêm dày, thêm to, che mát cho sân trường, giúp chúng em có những giờ ra chơi thoải mái dưới bóng mát của cây. Cây bàng đã gắn bó với chúng em suốt năm tháng học dưới mái trường tiểu học. Mỗi khi ra chơi, chúng em thường chơi nhảy dây, ô ăn quan dưới bóng râm của cây hoặc đơn giản chỉ là ngồi dưới gốc cây kể cho nhau nghe những câu chuyện thú vị. Cây bàng không chỉ là một cây bóng mát, mà còn là người bạn thân thiết. chứng kiến biết bao kỉ niệm vui buồn của lũ học trò. Cây bàng đã ở đây đón và tiễn bao thế hệ học sinh dưới mái trường này.

Suốt những năm tháng học ở đây, cây bàng đã trở thành người bạn thân thiết của chúng em. Em rất yêu quý cây bàng và mong rằng cây sẽ luôn xanh tốt, tiếp tục tỏa bóng mát cho bao lớp học trò sau này.

Bài tham khảo 2:

Sân trường em trồng rất nhiều cây bóng mát, từ cây phượng đỏ rực mỗi mùa hè đến những cây bằng lăng tím ngát khi hè sang. Nhưng trong tất cả, em yêu thích nhất vẫn là cây xà cừ nằm giữa sân trường như một người bạn gắn bó với em suốt những năm tiểu học.

Cây xà cừ là một cây cổ thụ to lớn, sừng sững như một chiếc ô khổng lồ giữa sân trường, tỏa bóng râm mát che phủ cả một khoảng rộng. Cây cao ngang tầng hai của tòa nhà chính. Thân cây màu nâu sẫm, vỏ sần sùi, lốm đốm bạc, có chỗ bong tróc để lộ lớp thân bên trong màu nâu nhạt. Thân cây to đến mức hai người lớn ôm không xuể. Từ thân cây, ba cành lớn vươn ra ba phía như những cánh tay vững chắc nâng đỡ vô vàn cành nhỏ. Những cành này đan xen, chằng chịt, phủ đầy lá xanh mướt.  Lá xà cừ không quá lớn, màu xanh lá chuối. Dưới gốc cây, những chiếc rễ to ngoằn ngoèo nổi hẳn lên mặt đất như những con trăn khổng lồ. Vào những ngày nắng nóng, cây xà cừ như chiếc ô mát lành, che chở cho cả sân trường. Ánh nắng xuyên qua tán lá chỉ còn là những vệt nắng nhỏ nhảy múa trên mặt đất.

Giờ ra chơi, em và các bạn thường tụ tập dưới gốc cây để nhảy dây, chơi trò đuổi bắt, đọc sách hay đơn giản là trò chuyện. Đặc biệt, chúng em rất thích nhặt những quả xà cừ khô rụng xuống đất để làm con quay. Nhờ có bóng mát của cây xà cừ mà dù trời có nắng gắt, sân trường vẫn luôn rộn rã tiếng cười.

Với em, bác không chỉ là một cái cây che mát mà còn là người bạn gắn bó thân thiết suốt những năm tháng học trò. Sau này dù lớn lên, em chắc chắn sẽ luôn nhớ về hình ảnh bác xà cừ mạnh mẽ, che chở và chứng kiến bao kỉ niệm vui buồn của tuổi thơ dưới mái trường thân yêu.


Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu
  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 4

    Tôi bắt đầu viết thư cho bác Ba từ mùa hè năm tám tuổi. Chiều hôm ấy, mẹ nhận được một bọc hàng to gửi từ Mỹ về. Mẹ bảo: “Bác Ba sang Mỹ đến nay cũng phải hơn hai mươi năm rồi.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 3

    Chuyện trong vườn Có một cây hoa giấy và một cây táo con cùng sống trong một khu vườn. Mùa xuân đến, cây hoa giấy đâm chồi nảy lộc. Mưa phùn làm cho lá cây xanh mướt, tốt tươi. Hàng trăm bông hoa giấy thắm đỏ nở đồng loạt, trông như một tấm thảm đỏ rực. Còn cây táo vẫn đứng lặng lẽ một góc vườn, thân cành trơ trụi, nứt nẻ.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 2

    Câu chuyện về túi khoai tây Vào một buổi học, thầy giáo tôi mang vào lớp rất nhiều túi nhựa và một bao khoai tây thật to. Thầy chậm rãi giải thích với mọi người rằng, mỗi khi cảm thấy oán giận hoặc không muốn tha thứ lỗi lầm cho ai, hãy viết tên của người đó lên một củ khoai tây rồi cho vào túi. Chỉ một lúc sau, chiếc túi nào của chúng tôi cũng đã căng nặng, đầy khoai tây. Thậm chí, có người một túi không chứa hết khoai, phải thêm một túi nhỏ kèm theo.

  • Đề thi giữa học kì 2 Tiếng Việt 4 Chân trời sáng tạo - Đề số 1

    Hai chiếc huy chương Tại đại hội Ô-lim-píc dành cho người khuyết tật, một học sinh tên Giôn, 14 tuổi, mắc hội chứng Đao nên mắt nhìn không rõ. Giôn đăng kí chạy môn 400 mét. Vào ngày thi, sau khi đăng kí để nhận đường chạy và số hiệu, thì cặp kính của Giôn biến mất, nhưng cậu ta nói rất quyết tâm:

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...