Soạn bài Truyện lạ nhà thuyền chài SGK Ngữ văn 9 tập 1 Chân trời sáng tạo>
Văn học dân gian Việt Nam có nhiều tác phẩm đề cao phẩm chất cao đẹp như sống chung thuỷ, tình nghĩa, vị tha,… của con người Việt Nam, nhất là người phụ nữ. Hãy chia sẻ với các bạn về một nhân vật phụ nữ trong tác phẩm mà em đã đọc và trân trọng.
Video hướng dẫn giải
Nội dung chính
| Truyện lạ nhà thuyền chài kể về cuộc sống của một gia đình thuyền chài trên biển. Truyện tập trung vào cuộc sống của nhân vật chính là Thúc Ngư. Qua câu chuyện nhấn mạnh về tình yêu và sự đoàn kết trong gia đình, truyền đạt thông điệp về sự kiên nhẫn và lòng yêu thương gia đình trong cuộc sống. |
Chuẩn bị đọc
Trả lời Câu hỏi Chuẩn bị đọc trang 97 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Văn học dân gian Việt Nam có nhiều tác phẩm đề cao phẩm chất cao đẹp như sống chung thuỷ, tình nghĩa, vị tha,… của con người Việt Nam, nhất là người phụ nữ. Hãy chia sẻ với các bạn về một nhân vật phụ nữ trong tác phẩm mà em đã đọc và trân trọng.
Phương pháp giải:
Liên hệ hiểu biết của em
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Một số nhân vật phụ nữ trong tác phẩm mà em đã đọc và trân trọng:
- Nhân vật Vũ Nương trong "Chuyện người con gái Nam Xương"
- Nhân vật Tấm trong truyện “ Tấm Cám”
- Nhân vật mẹ Âu Cơ trong tác phẩm “Lạc Long Quân và Âu Cơ”
- …
Tuy bị xã hội tước đoạt mọi quyền làm người, nhưng người phụ nữ vẫn cứ vươn lên, không có thế lực nào có thể vùi dập được họ. Chẳng hạn như nàng Cóc trong truyện Lấy vợ Cóc, mặc dù hình dáng của cô không đẹp nhưng lại có tốt nết. Cô Cóc biết nói và giúp đỡ gia đình chồng mình. Cuối cùng, cô biến thành một cô gái xinh đẹp và hạnh phúc bên chồng. Truyện này mang ý nghĩa về tình yêu và sự đánh giá bề ngoại không quan trọng, quan trọng là tốt nết và lòng chân thành.
Một nhân vật phụ nữ trong tác phẩm văn học dân gian mà em đã đọc và trân trọng nhân vật Mị Châu trong truyện Mị Châu Trọng Thuỷ. Mị Châu là người con gái hiền thục, trọn đạo hiếu, vâng lời cha lấy chồng, lấy chồng thì một lòng tin yêu chồng. Nhưng chính điều đó đã đẩy nàng vào bi kịch phản quốc, bi kịch phản bội vua cha và phải chịu cái chết đầy đau đớn và tội lỗi, chết mà vẫn còn mang nhiều uất hận ngàn năm khó rửa sạch.
Trải nghiệm cùng VB 1
Trả lời Câu hỏi 1 Trải nghiệm cùng văn bản trang 97 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Những câu thơ trong đoạn 1 là lời của người kể chuyện hay là lời của nhân vật?
Phương pháp giải:
Xác định lời người kể chuyện và lời của nhân vật
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Đoạn thơ là lời kể của người kể chuyện bởi trong đoạn có hô “vợ”, chồng” - là ngôi thứ 3.
Những câu thơ là lời của người kể chuyện.
Những câu thơ trong đoạn 1 là lời của người kể chuyện.
Trải nghiệm cùng VB 2
Trả lời Câu hỏi 2 Trải nghiệm cùng văn bản trang 98 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Các lời thoại của cha và Thúc Ngư trong đoạn 2 cho thấy quan niệm về việc học hành giữa hai cha con khác nhau như thế nào?
Phương pháp giải:
Xác định lời thoại của hai nhân vật và rút ra nhận xét
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Thúc Ngư không muốn học trong sách vở mà muốn học trong cuộc sống, chàng muốn đi đánh cá, muốn nhìn thấy vật thật hơn là chữ nghĩa.
- Cha Thúc Ngư lại muốn học con chữ, học làm người.
Quan niệm học hành của hai cha con khác nhau:
- Với người cha: Đi học để học những lời nói, việc làm của thánh hiền đời xưa, chép trong sách, học học mới biết mà bắt chước.
- Với Thúc Ngư: Trong sách không có cá, lời nói lại không thể đem đá cá được, và cậu không chịu đi học.
- Các lời thoại của cha và Thúc Ngư trong đoạn 2 cho thấy quan niệm về việc học hành giữa hai cha con khác nhau:
+ Người cha: Có đi học, đọc sách mới bắt chước những lời nói, việc làm của thánh hiền.
+ Thúc Ngư: Đi học, đọc sách cũng không kiếm được thức ăn như cá, vì vậy không cần đi học đọc sách.
Trải nghiệm cùng VB 3
Trả lời Câu hỏi 3 Trải nghiệm cùng văn bản trang 104 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Việc làm và lời nói, lời hát của Ngọa Vân trong đoạn 4 cho thấy nàng là người thế nào?
Phương pháp giải:
Nhận xét về nhân vật Ngoạ Vân
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Trước cơn bão biển (sóng thần) kinh khủng, Ngọa Vân đã "giơ tay bắt quyết, hô to một tiếng “Biến! 'Tức thì nàng biến thành một con cá to, dài độ ngàn thước, mình lớn ước tới ba mươi quầng…” ngăn chặn làn sóng dữ, bảo vệ sự bình yên cho gia đình nhà chồng. Cho dù có làm “thiên cơ tiết lộ” không thể cùng Thúc Ngư “chung mộng đẹp nữa” nhưng Ngọa Vân vẫn làm.
→ Ngoạ Vân có đức hi sinh, tính đảm đang gánh vác của người vợ, người mẹ, người phụ nữ trong cuộc sống. Tiếng khóc của Ngọa Vân, "một điểm rãi” gửi lại cho chồng trước lúc hoá rồng bay về phương tây bắc cũng thể hiện tình ân nghĩa sâu nặng của Ngọa Vân, của người vợ hiền thảo, thuỷ chung trong cuộc đời. Nhân vật Ngọa Vân mang bao phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam
Tiếng khóc của Ngọa Vân, một điểm rãi gửi lại cho chồng trước lúc hóa rồng bay về phương Tây Bắc cũng thể hiện tình nghĩa sâu nặng của Ngọa Vân, người vợ hiền thảo thủy chung.
Việc làm và lời nói, lời hát của Ngọa Vân trong đoạn 4 cho thấy nàng là người có đức hi sinh, tính đảm đang gánh vác, là người vợ hiền thảo, thuỷ chung.
Suy ngẫm và phản hồi 1
Trả lời Câu hỏi 1 Suy ngẫm và phản hồi trang 104 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Tóm tắt nội dung câu chuyện và cho biết các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trật tự thời gian, không gian như thế nào.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Cách 1
1. Do hiếm muộn, 60 tuổi vợ chồng lão đánh cá mới sinh được cậu con trai đặt tên là Thúc Ngư.
2. Khi đã 15 tuổi, Thúc Ngư không chịu đi học theo lời khuyên của cha với lí do: trong sách không có cá và không thể lấy lời nói và việc làm của thánh hiền mà đánh cá được. Rồi Thúc Ngư bỏ công sức hai, ba năm lặng lẽ tự mình đi tìm bằng được “một người vợ về làm thay cha mẹ, chung sức lại có thể kiếm được nhiều tiền hơn, may ra nghiệp nhà có thể khá lên được ít nhiều".
3. Một lần, cha mẹ Thúc Ngư mải đánh cá, trời tối, lạc lối về. Ông bà tình cờ gặp được cha mẹ của Ngọa Vân; được tiếp đón rất nhiệt tình, nồng hậu, lại gặp mặt được cả Ngoạ Vân, cô con dâu tương lai. Hai bên vui vẻ kết làm thông gia. Ngoạ Vân dùng phép thuật đưa ông bà về tận nhà chỉ trong chớp mắt. Hôn lễ của Thúc Ngư - Ngoạ Vân được tiến hành sau đó không lâu.
4. Từ đó, nhờ có sự góp sức của Ngọa Vân, công việc đánh cá thuận lợi, bội thu, gia tư giàu có dần. Cứ như thế được bốn năm. Chẳng may, một đêm gia đình nghỉ đánh cá, đang khi làm lễ “khất xảo" thì tai hoạ xảy ra. Biển khơi dậy sóng lớn, nhấn chìm tất cả. Ngoạ Vân phải tận lực dùng phép thuật ngăn sóng dữ cứu được cha mẹ Thúc Ngư, Thúc Ngư và gia sản nhà chồng. Tuy vậy, khi đã để lộ bí mật của bản thân và “thiên cơ", Ngọa Vân phải từ biệt chồng và cha mẹ chồng. Nàng khóc, giã biệt mọi người bằng một bài hát bi thương và không quên để lại cho Thúc Ngư một bí quyết phòng tránh gió to, sóng dữ nơi biển cả.
Cuối truyện là lời bàn của Sơn Nam Thúc
- Tóm tắt: Truyện lạ nhà thuyền chài là một câu chuyện cổ kể về cuộc sống và học hỏi trong cuộc sống của hai nhân vật chính là Thúc Ngư. Thúc Ngư – một người dân nghèo, lấy vợ là Ngọa Vân – người có dòng dõi hải tiên, bí ẩn, tài năng. Cả nhà luôn cố gắng làm việc chăm chỉ để nuôi gia đình. Ngọa Vân giúp Thúc Ngư trở thành một ngư dân giàu có và thành công. Một ngày, nước biển dâng cao, Ngọa Vân phải biến thành cá to, dài để che chắn ngọn nước. Nhờ đó mà gia đình tai qua nạn khỏi. Tuy nhiên, Ngọa Vân đã lộ thân phận bí ẩn của bản thân. Vậy nên, nàng đã rời xa Thúc Ngư và bố mẹ chồng để đảm bảo bình yên cho họ.
- Các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo trật tự không gian có sự giao hòa giữa thế giới con người và thế giới thánh thần, thời gian ở cõi trần với thuỷ phủ.
- Hai vợ chồng người thuyền chài đánh cá ở biển Đông. Nhà nghèo, mãi gần 60 tuổi mới sinh được đứa con trai, đặt tên con là Thúc Ngư.
- Năm Thúc Ngư 15 tuổi, người cha muốn cho con đi học nhưng Thúc Ngư không chịu cho rằng kiến thức trong sách không có ích nên không học, cha mẹ thương con, nên không ép buộc.
- Suốt ba năm trời, Thúc Ngữ thường bỏ nhà đi chơi xa. Có lần đến hai ba hôm mới về nhà. Cậu ta đi tìm vợ, tìm vợ tận “đào ấp” cách xa nhà cậu chừng một dặm. Vợ là dòng dõi “hải tiên”, con nhà giàu sang, tên Ngoạ Vân, rất xinh đẹp, có phép rút đường.
- Nhờ vậy, nhà Thúc Ngư giàu có nhanh chóng do đánh bắt được nhiều cá ngon mỗi khi ra khơi
- Đang sống hạnh phúc, nhưng cơn bão biển ập tới, khiến Ngoạ Vân phải hiện nguyên hình cứu gia đình chồng. Vì thiên cơ đã tiết lộ, nàng không thể nào chung sống cùng gia đình chồng được nữa bèn nói lời tạm biệt.
- Trước lúc tạm biệt, Ngoạ Vân đã nhổ ra một điểm rãi trắng trao cho Thúc Ngư và dặn đem hoà với nước thì sẽ không bị chìm, nói xong hoá thành rồng bay về phương Tây Bắc.
Các sự việc trong truyện sắp xếp theo trật tự thời gian, không gian kì ảo
Suy ngẫm và phản hồi 2
Trả lời Câu hỏi 2 Suy ngẫm và phản hồi trang 104 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Em đồng tình hay không đồng tinh với quan niệm về việc học và việc chọn nghề của nhân vật Thúc Ngư? Giải thích ý kiến của em.
Phương pháp giải:
Dựa vào đọc hiểu văn bản để thực hành
Lời giải chi tiết:
Cách 1
- Em vừa đồng tình vừa không đồng tình với ý kiến của nhân vật Thúc Ngư.
Vì:
+ Đồng tình: Học trong sách vở thánh hiền đâu có hay bằng học trong cuộc sống; có đi đó đây mới nhìn rộng biết nhiều.
+ Không đồng tình vì học trong sách vở cũng là một cách học, giúp ta tiếp thu kiến thức của nhân loại sau đó áp dụng các kiến thức đã học ấy vào cuộc sống.
- Em đồng tình với quan niệm về việc học và việc chọn nghề của nhân vật Thúc Ngư trong Truyện lạ nhà thuyền chài”.
- Giải thích: Thúc Ngư là một ngư dân nghèo, nhưng anh ta luôn cố gắng học hỏi và làm việc chăm chỉ để cải thiện cuộc sống của mình và gia đình. Qua câu chuyện, chúng ta thấy rằng việc học và chọn nghề đúng đắn có thể mang lại thành công và hạnh phúc trong cuộc sống.
- Em không đồng tình với quan niệm về việc học và việc chọn nghề của nhân vật Thúc Ngư.
- Giải thích: Quan niệm của Thúc Ngư về việc học là quan niệm hẹp hòi, thực dụng, bản chất cốt lõi của việc học là học đạo lí làm người, rèn luyện đạo đức, học tri thức – lao động trí óc nhưng lại quy đổi ra việc đánh cá – lao động chân tay. Đây là một quan niệm rất sai lầm và thiển cận.
Suy ngẫm và phản hồi 3
Trả lời Câu hỏi 3 Suy ngẫm và phản hồi trang 104 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Phân tích tính cách nhân vật Ngoạ Vân và cho biết cách ứng xử với chồng, cha mẹ chồng của nàng thể hiện điều gì về người phụ nữ Việt Nam truyền thống.
Phương pháp giải:
Tìm các chi tiết nói về nhân vật Ngoạ Vân và rút ra nhận xét
Lời giải chi tiết:
Cách 1
- Tính cách của Ngọa Vân:
+ Thuỳ mị, nết na nhưng tháo vát, giỏi giang.
+ Trong bốn năm làm dâu, chăm chỉ chung sức gây dựng cơ đồ nhà chồng và là chỗ dựa vững chắc cho công việc đánh cá, giúp nhà chồng giàu có lên.
+ Khi tai hoạ xảy ra, nàng đã hết lòng và xả thân cứu sống cả gia đình nhà chồng cùng gia sản của họ.
+ Thể hiện tình nghĩa vẹn toàn chu đáo khi bắt buộc phải từ giã gia đình nhà chồng.
- Thể hiện phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống qua từng lời nói, hành vi ứng xử của nàng.
- Nhân vật Ngọa Vân trong truyện có tính cách rất đặc biệt:
+ Nàng là một người phụ nữ bí ẩn và tài năng, đã giúp Thúc Ngư trở thành một ngư dân giàu có và thành công.
+ Ngọa Vân được miêu tả là xinh đẹp và duyên dáng, với sắc đẹp tuyệt trần.
+ Ngọa Vân có lòng hiếu thảo và sẵn lòng hi sinh cho gia đình. Ví dụ, khi đối mặt với cơn bão biển khủng khiếp, nàng đã biến thành một con cá để bảo vệ gia đình.
=> Tính cách của Ngọa Vân thể hiện sự mạnh mẽ, thông minh và sẵn lòng hy sinh cho người thân yêu.
Người xưa đã qua hành động phi thường chắn sóng dữ của Ngọa Vân để ca ngợi đức hi sinh, tính đảm đang gánh vác của người vợ, người mẹ, người phụ nữ trong cuộc sống. Tiếng khóc của Ngọa Vân, "một điểm rãi” gửi lại cho chồng trước lúc hoá rồng bay về phương tây bắc cũng thể hiện tình ân nghĩa sâu nặng của Ngọa Vân, của người vợ hiền thảo, thuỷ chung trong cuộc đời.
Suy ngẫm và phản hồi 4
Trả lời Câu hỏi 4 Suy ngẫm và phản hồi trang 104 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Nêu một số chi tiết kì ảo và chỉ ra tác dụng của chúng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, chủ đề của văn bản.
Phương pháp giải:
Tìm một số chi tiết kì ảo và chỉ ra tác dụng
Lời giải chi tiết:
Cách 1
- Gia đình Thúc Ngư xuống biển đón con dâu
- Vợ là dòng dõi “hải tiên”
- Chi tiết rút đường của Ngoạ Vân
- Ngoạ Vân hiện nguyên hình, cứu gia đình chồng trong cơn bão biển
- Ngoạ Vân đã nhổ ra một điểm rãi trắng trao cho Thúc Ngư và dặn đem hoà với nước thì sẽ không bị chìm, nói xong hoá thành rồng bay về phương Tây Bắc.
- Những món ăn “ngon tuyệt phẩm, thơm lạ thường” mà cha Ngọa Vân thết đãi ông bà thông gia
- Hình ảnh “gã bán kinh” kéo thuyền, đẩy thuyền như bay trên biển
à Tác dụng: Làm câu chuyện trở nên li kì, hấp dẫn hơn phù hợp với chủ đề và nhân vật. Chính những phép thần thông như vậy mới phù hợp với dòng dõi tiên của Ngoạ Vân.
- Trong truyện có một số chi tiết kì ảo:
+ Ngọa Vân biến thành một con cá để bảo vệ gia đình trong cơn bão biển khủng khiếp.
+ Tác giả miêu tả Ngọa Vân là một người phụ nữ xinh đẹp và duyên dáng, xuất thân đặc biệt, hành động khác thường.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh tính hy sinh và lòng hiếu thảo của Ngọa Vân.
+ Nhằm tạo nên hình ảnh quyến rũ và tuyệt trần của nhân vật.
+ Các chi tiết kì ảo này giúp thể hiện tính cách mạnh mẽ, thông minh và sẵn lòng hy sinh của Ngọa Vân, cũng như tạo nên không khí kỳ bí và lãng mạn trong văn bản.
- Một số chi tiết kì ảo:
+ Nhân vật và thế giới kì ảo: nhân vật Ngoạ Vân, cha mẹ Ngoạ Vân, "gã bán kinh"; cuộc gặp gỡ kì lạ ở không gian biển khơi, đảo ấp; yếu tố "thiên cơ" và những luật lệ khác ở trần gian.
+ Hành động kì ảo: việc gã bán kinh đưa cha mẹ Thúc Ngư về nhà, thuật rẽ nước và phép thuật chống lại sóng dữ của Ngoạ Vân.
- Tác dụng:
+ Thể hiện nét đặc biệt của nhân vật kì ảo (có sức mạnh siêu nhiên), đồng thời thể hiện hình ảnh, tính cách của con người
+ Làm rõ chủ đề: ca ngợi sự hiếu nghĩa của người phụ nữ Việt Nam qua câu chuyện tình kì ảo giữa con người và thần linh
Suy ngẫm và phản hồi 5
Trả lời Câu hỏi 5 Suy ngẫm và phản hồi trang 104 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Đọc kĩ lời thơ ở đoạn 1, lời hát ở đoạn 4 và cho biết:
a. Phần lời thơ ở đoạn 1 là tự sự, miêu tả hay biểu cảm? Phần lời hát ở đoạn 4 là đối thoại hay độc thoại/ độc thoại nội tâm? Những dấu hiệu nào trong văn bản giúp em nhận biết điều đó?
b. Tác dụng của việc dùng lời thơ, lời hát trong văn bản
Phương pháp giải:
a. Xác định và nêu được căn cứ xác định yếu tố tự sự/biểu cảm trong phần lời thơ ở đoạn 1; lời đối thoại độc thoại/ độc thoại nội tâm trong phần lời hát ở đoạn 4.
b. Nêu được tác dụng của việc dùng lời thơ ở đoạn, lời hát ở đoạn 4 trong VB.
Lời giải chi tiết:
Cách 1
5a.
Về bài thơ ở đầu truyện: Bốn dòng thơ đầu chủ yếu tự sự; các dòng cuối kết hợp tự sự với biểu cảm (do bắt đầu bằng cụm từ mang tình bình phẩm biểu cảm: “cũng thật là :... "):
Về bài hát ở đoạn 4: Bài hát là lời của Ngọa Vân (hát đi hát lại) nói để giã biệt chồng, cha mẹ chồng, và cũng nói với cả trời đất ("ông xanh") chính là một dạng đối thoại/ độc thoại nội tâm.
5b. Tác dụng của việc dùng lời thơ ở đoạn 1, lời hát ở đoạn 4:
- Bổ sung vào truyện loại lời kể bằng thơ nhằm gợi tả cuộc sống lương thiện, cần mẫn, đầm ấm của vợ chồng ông ngư.
- Bổ sung vào truyện loại lời thoại bằng bài hát thể hiện tình cảm buồn thương tiếc nuối của nhân vật Ngọa Vân.
- Đang dạng hóa lời văn, tạo sắc thái cổ kính.
a.
- Phần lời thơ ở đoạn 1 là tự sự, vì nội dung giới thiệu, kể lại cuộc sống gia đình của vợ chồng nhà thuyền chài.
- Phần lời hát ở đoạn 4 là đối thoại, vì ta thấy xuất hiện lượt lời của các nhân vật Thúc Ngư, Ngọa Vân.
b. Việc sử dụng lời thơ và lời hát trong văn bản có tác dụng tạo ra một không gian tưởng tượng và thể hiện cảm xúc sâu sắc của nhân vật. Lời thơ và lời hát có thể mang đến những hình ảnh tươi đẹp, những cung bậc cảm xúc phong phú và tạo nên sự tương tác giữa người viết và người đọc. Chúng cũng có thể tạo nên nhịp điệu, âm nhạc và những giai điệu đặc biệt, làm tăng tính hấp dẫn và sức cuốn hút của văn bản.
a. Phần lời thơ ở đoạn 1 là tự sự
Phần lời hát ở đoạn 4 là độc thoại.
Dựa vào lời của nhân vật, các từ ngữ trong khổ thơ
b. Tác dụng của việc dùng lời thơ cho văn bản giúp câu chuyện trở nên nhịp nhàng, sinh động, giàu sức biểu cảm hơn khiến người đọc dễ hình dung hơn về tính cách của các nhân vật.
Suy ngẫm và phản hồi 6
Trả lời Câu hỏi 6 Suy ngẫm và phản hồi trang 105 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Truyện lạ nhà thuyền chài có phải là truyện truyền kì hay không? Dựa vào đâu để em khẳng định như vậy?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
- Truyện lạ nhà thuyền chài có là truyện truyền kì, vì:
+ Có không gian truyền kì
+ Có các chi tiết kì lạ, hoang đường
+ Nhân vật là thần linh
+ Cốt truyện truyền kì
Truyện lạ nhà thuyền chài có phải là truyện truyền kì, bởi vì, ở đó có nhân vật, không gian, thời gian sự kiện không có thật, và có lời bình của người kể phía cuối truyện.
- Truyện lạ nhà thuyền chài có phải là truyện truyền kì vì:
+ Là chuyện kì lạ được ghi chép tản mạn.
+ Có yếu tố hoang đường kì ảo.
+ Có nhân vật, không gian, thời gian sự kiện không có thật.
Suy ngẫm và phản hồi 7
Trả lời Câu hỏi 7 Suy ngẫm và phản hồi trang 105 SGK Văn 9 Chân trời sáng tạo
Lời bàn của Sơn Nam Thúc ở cuối truyện có tác dụng hỗ trợ em đọc hiểu văn bản Truyện lạ nhà thuyền chài như thế nào?
Phương pháp giải:
Đưa ra nhận xét về lời cuối truyện
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Lời bàn của Sơn Nam Thúc ở cuối truyện có tác dụng hỗ trợ đọc hiểu văn bản Truyện lạ nhà thuyền chài vì lí giải sự kì lạ của câu chuyện, giúp em hiểu rõ câu chuyện, bài học tính triết lý câu chuyện mang lại, tóm tắt lại câu chuyện một cách ngắn gọn.
Lời bàn của Sơn Nam Thúc trong truyện là một phần quan trọng trong câu chuyện. Sơn Nam Thúc là một nhân vật thông minh và sáng tạo, ông đã đưa ra những lời khuyên và suy ngẫm sâu sắc về cuộc sống và tình yêu. Ông nhấn mạnh rằng học hỏi từ sách vở không thể sánh bằng việc trải nghiệm cuộc sống và nhìn nhận rộng hơn. Ông cũng nhắc lại câu tục ngữ “Có người là có của” để ca ngợi con trai thông minh và khéo léo. Sơn Nam Thúc cũng đề cập đến việc Thúc Ngư lấy được vợ đẹp như một hải tiên từ một đảo ấp xa xôi, nhấn mạnh rằng niềm tin và sự kiên nhẫn trong cuộc sống là quan trọng.
Lời bàn của Sơn Nam Thúc ở cuối truyện có tác dụng giúp em lí giải vì sao câu chuyện lại có kết thúc như vậy, vì sao Ngoạ Vân không thể sống đầu bạc răng long với Thúc Ngư. Từ đó, giúp em hiểu rõ câu chuyện, bài học tính triết lý câu chuyện mang lại.
TRUYỆN LẠ NHÀ THUYỀN CHÀI
- LÊ THÁNH TÔNG -
1. Nhà thuyền chài có một vợ một chồng, không rõ họ tên, cũng không biết quê quán ở đâu, đến trú ngụ ở miền biển Đông, làm nghề đánh cá. Thật là:
Chồng đem tấm lưới chặn dòng sâu,
Vợ vác cần dài tới bến câu.
Gió sớm đi ra, chèo một mái,
Trăng đêm trở lại cá từng xâu.
Cũng thật là:
Khi sông sớm lúc biển chiều,
Quên mình trong cảnh lao đao tối ngày.
Cá nhiều bán được tiền ngay,
Đêm về có bát cơm đầy phần con.
2. 2. Gần sáu mươi tuổi mới sinh được một con trai. Vợ chồng rất yêu quý. Đêm hôm sinh đứa bé, có đánh lưới được một con cá mè to, nên đặt tên cho đứa bé là Thúc Ngư, tự là Hà Bảo. Khi Thúc Ngư mười lăm tuổi, người cha muốn cho con rời bỏ nghiệp nhà đi học.
Thúc Ngư hỏi cha:
- Đi học là thế nào?
Cha nói:
- Những lời nói và việc làm của thánh hiền1 đời xưa chép trong sách, có học mới biết mà bắt chước.
Thúc Ngư lại hỏi:
- Trong sách có cá không?
Cha rằng:
- Không!
Thúc Ngư lại hỏi:
- Lấy lời nói và việc làm của thánh hiền mà đánh cá có được không?
Cha nói:
- Lời nói chỉ là văn không2, cá là vật thật, làm thế nào mà đánh được. Mày nói sao ngu thế?
Thúc Ngư nói:
- Trong sách đã không có cá, lời nói lại không thể đem đánh được cá, con học làm gì?
Rồi không chịu đi học. Cha mẹ yêu con, không nỡ cưỡng bách. Hàng ngày, cơm sáng xong, đợi cha mẹ đem lưới ra vực, Thúc Ngư vội vàng đi ngay. Hoặc một ngày thì về, hoặc hai, ba ngày mới về. Cha mẹ cố dò xét chỗ con đi chơi, nhưng không sao tìm được. Trước còn kinh ngạc đi hỏi thăm mọi người, sau cũng coi như thường.
Một hôm cha ôn tồn hỏi rằng:
- Trong hai, ba ngày vừa qua, ai cho con ăn? Con làm việc gì? Con chơi ở đâu? Sao cứ mê man đi tràn như thế? Nay đã không đi học, lại bỏ nghề nghiệp nhà, như thế rút lại chỉ là một đứa lêu lổng mà thôi!
Thúc Ngư thưa:
- Tục ngữ có câu “Có người là có của". Con nghĩ cha mẹ tuổi già mà gia tư lại bần bạc, muốn tìm một người vợ về làm thay cha mẹ, chung sức lại có thể kiếm được nhiều tiền hơn, may ra nghiệp nhà có thể khá lên được ít nhiều. Nhưng việc trăm năm không nên cẩu thả, cho nên con phải đi lâu ngày để xét cho kĩ. Dám đâu chỉ rong chơi mà cam chịu thành người lêu lổng.
Cha thấy con nói rất khôn, không nỡ trách mắng nữa. Trong khoảng hai, ba năm, con đi về thế nào cũng mặc.
3. Một hôm, vợ chồng đánh cá ở bờ biển, được nhiều hơn mọi khi, ham cá quên cả về. Đến lúc thu lưới lên thuyền, trống đã điểm canh ba rồi. Trời tối sương mù, không sao tìm được đường về. Bỗng thấy đèn lửa đằng xa, tựa hồ có nhà ở. Vợ chồng bảo nhau rằng:
- Cách chỗ người ở không xa nữa, nên tìm đến ngủ trọ một đêm.
Rồi ghé thuyền lên bờ. Gần đến nhà, nghe trong nhà có tiếng người nói:
- Ông thông gia3 đã đến, mau ra mở cửa đón.
Tiếng nói vừa dứt, một ông già dưới cằm có hai cái râu rất dài từ trong cửa bước ra, trong ánh đèn sáng, miệng cười niềm nở, vái chào vợ chồng ông chài và nói rằng:
- Đường xa đêm khuya, phiền ông bà đến thăm. Hậu tâm ấy biết lấy gì báo đáp?
Vợ chồng không hiểu duyên cớ, chỉ biết theo ông già bước vào trong nhà. Ngồi nói chuyện qua loa một lúc rồi đi ngủ. Sáng mai, ông chài xin đi. Ông già nói:
- Xin hãy tạm ngồi lại để Ngọa Vân làm lễ cho phải đạo làm dâu.
Ông chài hỏi:
- Dám hỏi Ngoạ Vân là ai?
Ông già nói:
- Nó là con gái thứ tám mươi chín của lão đệ. Cùng lệnh lang là Thúc Ngư gặp nhau ở bờ biển, liền có lời hẹn ước Chu Trần. Hiềm còn ít tuổi, chưa tiện cho đẹp duyên cưỡi rồng, nên thường thường lại đây cho được tiện nơi đỗ phượng. Đến nay đã ba năm rồi. Định đến cuối tháng này chọn ngày cho về nhà chồng.
Đoạn gọi Ngoạ Vân bảo rằng:
- Hai vị ngồi trên kia là bố mẹ chồng của con đấy, con phải lạy mừng. Ngoạ Vân ngồi lễ bốn lạy. Vợ chồng ông chài thấy con gái nhà giàu sang, người lại đẹp, trong bụng rất mừng, chỉ hiềm chưa biết tung tích thế nào.
Một lát, cơm được bưng lên. Ông chài nhìn trong xanh vạc đặt trên bàn ăn, thấy toàn là vật sống đang bơi nhảy. Có thứ quây lượn như rồng, cũng có thứ chạy bon bon như ngựa, có thứ như lũ trẻ đua bỡn, cũng có thứ như đàn gà chọi nhau. Tuy mỗi vật chỉ nhỏ bằng đầu ngón tay, mà vảy, sừng, lông, cánh, tai, mắt, chân, tay, con nào rõ ra con ấy. Ông chài xưa nay chưa từng trông thấy như thế, sợ không dám ăn.
Ông già hiểu ý, mỉm cười nói:
- Núi cao chót vót, biển rộng mênh mông, những vật sinh ở trong đó ai dễ biết hết. Đem cái tài vận chuyển như thần như thánh mà chế ra các món ăn hai buổi sớm tối, người ta sở dĩ quý hơn mọi loài là ở chỗ ấy. Hai vị việc gì mà sợ? Bởi ít khi trông thấy nên có nhiều điều lấy làm lạ đấy thôi.
Lão đệ xin ăn trước, rồi mời hai vị xơi sau.
Khi cầm đũa gắp thì đều là vật chín, ngon tuyệt phẩm, thơm lạ thường.
Cơm xong, vợ chồng ông chài cáo từ ra về. Ngoạ Vân thân hành tiễn chân ra đến chỗ cắm thuyền. Nhìn vào trong cái hang ở bãi cát gọi to rằng:
- Gã bán kinh! Gã bán kinh! Nhờ hai người tiễn bố mẹ chồng tôi trở lại nhà.
Quả nhiên có hai người trong hang ở bãi cát đi ra.
Ngoạ Vân dặn rằng:
- Hôm nay sóng to, không thể dùng chèo bơi thuyền được. Hai anh phải cởi áo lội xuống nước, một người đi sau đẩy thuyền, một người đi trước kéo thuyền, mới có thể chóng đến nơi.
Hai người vâng lời.
Bấy giờ Ngoạ Vân dắt vợ chồng ông chài lên thuyền, ghé tai nói nhỏ:
- Chốn này chướng khí trong nước rất độc, vào mắt thì bị mù ngay. Xin thầy mẹ nhắm chặt mắt lại, lấy hai tay che lên, không nên mở ra nhìn. Chỉ đi độ một khắc có thể qua muôn dặm đường trường.
Nói xong, từ giã quay về.
Vợ chồng ông chài theo lời dặn, nhắm mắt ngồi trong thuyền, phó mặc hai người đẩy, kéo thuyền đi. Độ nửa khắc sau, hai người hé mắt nhìn trộm qua kẽ ngón tay, thấy một nước một trời, không biết đâu là bờ bến. Cá nhảy sau lái, trập trùng trăm trượng trời cao; sóng vỗ mui thuyền, man mác ngàn tầm biển rộng.
Hai gã đi sau, đi trước, tựa người nhưng không phải người, vảy rồng mồm giải, mặt thú thân xà, nổi chìm lên xuống nhanh như mây bay. Sáu mươi năm về trước, ông chài tuy là khách giang hồ, cũng chưa từng thấy cảnh vật hình thù như vậy. Vợ chồng đều sợ mất vía, ôm nhau mà ngồi. Đi chừng ba khắc, nghe hai người kia nói:
- Đến nơi rồi.
Hai vợ chồng mở mắt trông ra thì ra ràng bến cũ của mình, mừng lắm, bước ngay lên bờ. Chưa kịp quay lại nói, đã thấy hai người “bán kinh” trở gót ra về và trong chớp mắt đã biến đâu mất tích. Về nhà, ông gọi Thúc Ngư ra bảo rằng:
- Tục ngữ có câu: "Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng". Người mà con định chọn làm vợ thì nay bố mẹ đã thấy rõ ràng. Thật là “con giỏi dâu hiền". Nhưng chưa biết cưới vào ngày nào? Quê quán ở đâu? Gia thế sang hay là hèn? Đường đi gần hay là xa? Con phải nói cho rõ, ta mới lo kịp.
Rồi kể lại rõ ràng quãng đường biển đã qua, cùng hai người kì dị tiễn về như thế nào. Thúc Ngư nói:
- Chỗ ở là đảo ấp, dòng dõi là hải tiên. Từ đảo ấp đến bờ biển Đông này xa chừng một vạn dặm. Theo lời người mối nói thì cuối tháng này tới kì hạn làm lễ cưới.
Cha hoảng sợ nói:
- Muôn dặm thì phải đi tới nửa năm. Cuối tháng thì chỉ còn ba ngày. Làm thế nào cho kịp được?
Thúc Ngư nói:
- Vợ con đã có thuật rút đường. Bố vợ lại không thách3 lấy lụa vàng. Lo gì không kịp việc?
Cuối tháng, có hai người đưa Ngoạ Vân đến làm lễ cưới. Trông như người thường, không có vẻ gì khác cả.
4. Từ đó, một nhà bốn miệng ăn, cùng sống trên thuyền lênh đênh trên mặt nước. Mỗi lần buông lưới là được toàn cá ngon, chốc lát đã đầy nửa thuyền. Chiều đem về chợ bán, thường được giá đắt. Gia tư giàu có dần. Cứ như thế được bốn năm. Một đêm mồng Bảy tháng Bảy, người cha nói với cả nhà rằng:
- Nhà ta ăn sẻn để dành, nay đã được dư dật. Vậy có nghỉ một ngày cũng chẳng hại gì. Đêm nay, sao Ngưu và sao Nữ gặp nhau, ta nên làm lễ "khất xảo".
Người nhà vâng lời. Đang khi lạy khấn, nghe đồn nước biển dâng to. Chỗ nào cây nước đổ xuống là làng xóm sạch nhẫn. Mọi người cùng ra cổng xem, thấy sóng to cuồn cuộn tràn đến. Dù có mọc lông mọc cánh, cũng không bay khỏi ra ngoài nước được.
Ngoạ Vân thấy tình thế nguy bách quá, vội giơ tay bắt quyết, hô to một tiếng: "Biến!". Tức thì nàng hoa ra một con cá to, dài độ ngàn thước, mình lớn ước tới ba mươi quầng5, nằm chắn chỗ ngọn nước tràn vào. Vợ chồng ông chài và Thúc Ngư vin ngay râu cá trèo lên. Nhờ thế được bình an vô sự. Qua một đêm, nước rút xuống. Trông về làng xóm: người, vật, nhà cửa đều bị sông bể cuốn đi hết. Còn nhà, vườn của ông chài thì vẫn y nguyên như ở trên đồi đất cao.
Bấy giờ Ngoạ Vân cầm tay Thúc Ngư khóc rằng:
- Thiếp vốn là nữ Học sĩ ở Long Cung, cùng chàng gặp gỡ những hẹn trăm năm. Hay đâu vạ từ ngoài đến, nếu không lộ bản hình, sao giữ toàn được tính mệnh nhà chồng? Nhưng đã làm thiên cơ2 tiết lộ, thì đoàn tụ với nhau là sự rất khó. Từ nay trở đi, thiếp không thể chung mộng đẹp được nữa. Đoạn, lau nước mắt mà hát rằng:
Từ ngày thay áo lạy cô chưong,
Cách tháng về nhà chàng,
Trăm năm ân ái ngày còn trường,
Bỗng đâu cơn bão táp,
Biển cả sóng điên cuồng,
Rào rạt mênh mang.
Thời ấy, thế ấy,
Không lấy thân đương,
Thì cô chương, thì hiền lang+,
Chôn trong bụng cá rất bi thương.
Thiên cơ đã lộ,
Lại e cha mẹ mắc tai ương
Làm sao giữ được cảnh đồng sàng?
Thúc Ngư lang!
Trời một phương!
Ghi nhớ trong tâm trường:
Trước song chẳng quản trăng soi bóng,
Nhắn nhủ hoa mai tự chủ trương.
Ông xanh, ông xanh sao phũ phàng!
Hát đi hát lại hai ba lượt, rồi nhổ một tí nước bọt trắng trao cho Thúc Ngư và nói:
- Từ này vĩnh biệt, gọi là chút đỉnh tặng lang quân, đem hòa với nước mặn mà uống thì xuống nước không chìm, không bao giờ bị nạn chết đuối.
Một lát nàng hóa rồng, theo phương Tây Bắc bay đi.
LỜI BÀN CỦA SƠN NAM THÚC: Duyên giải cấu như vậy cũng là chuyện lạ xưa nay. Là một nàng hải tiên ở đảo ấp, lại đi làm dâu một nhà thuyền chài ở biển Đông, rất là không hợp. Thế mà ngoi lặn hụp hơi, đuổi cá ngon vào trong chài lưới, chỉ bốn năm đã trở nên giàu. Đến khi gặp con nguy biến, đem thân cản sóng cho nhà chồng. Lại sợ để tai vạ cho cha mẹ, phải tự cắt đứt tình ái vợ chồng, bi ca oán hận; hiếu nghĩa vẹn cả đôi đường. Đọc bài ca để lại, tưởng như trông thấy người vậy. Thế gian làm gì có nàng dâu như thế! Kìa những kẻ cậy giàu sang mà khinh rẻ bố mẹ chồng, chả hoá người mà lại không bằng cá ru!
- Soạn bài Sơn Tinh, Thuỷ Tinh SGK Ngữ văn 9 tập 1 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Thực hành tiếng Việt bài 4 SGK Ngữ văn 9 tập 1 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Dế chọi SGK Ngữ văn 9 tập 1 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Viết một truyện kể sáng tạo dựa trên một truyện đã đọc SGK Ngữ văn 9 tập 1 Chân trời sáng tạo
- Soạn bài Kể một câu chuyện tưởng tượng SGK Ngữ văn 9 tập 1 Chân trời sáng tạo
>> Xem thêm
Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 9 - Chân trời sáng tạo - Xem ngay




Danh sách bình luận