Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm.

Bình chọn:
4.2 trên 5 phiếu

Bài thơ thể hiện niềm mến yêu, sự ngưỡng mộ và trân trọng đối với người lên đường đi xa vì nghĩa lớn

I. Mở bài.

- Tác giả.

   Thâm Tâm (1917-1950) là bút danh của Nguyễn Tuấn Trình, quê tại Hải Dương. Sống và viết văn tại Hà Nội. Giá trị nhất của Thâm Tâm là thơ. Tên tuổi Thâm Tâm gắn liền với bài "Tống biệt hành". Có nhà phê bình thơ đã xếp “Tống biệt hành" là một trong mười bài thơ hay nhất của "Thơ mới" Việt Nam (1932-1941). Giọng thơ cứng cáp, phảng phất hơi thơ cổ, tuy vẫn đượm chút "bâng khuâng khó hiểu của thời đại" (Hoài Thanh). Kháng chiến bùng nổ. Thâm Tâm làm công tác văn nghệ trong quân đội, ốm chết năm 1950. "Mưa đường số 5" là bài thơ hay nhất của ông viết trong kháng chiến chống Pháp.

-  Xuất xứ, chủ đề.

   Thâm Tâm viết "Tống biệt hành" vào năm 1940.

   Bài thơ thể hiện niềm mến yêu, sự ngưỡng mộ và trân trọng đối với người lên đường đi xa vì nghĩa lớn.

II. Thân bài

-  Nhan đề bài thơ: "Tống biệt hành" là bài hành đưa tiễn người đi xa.

   Cảnh đưa tiễn diễn ra vào một buổi chiều, không hề có bến đò, dòng sông, không diễn ra trong khoảnh khắc hoàng hôn mà vẫn buồn. Câu 2 và câu 4 là câu hỏi tu từ, người đưa tiễn tự hỏi. Nhiều băn khoăn, ngạc nhiên. Lấy ngoại cảnh (sông, hoàng hôn) để diễn tả tâm cảnh xao xuyến, những rung động buồn, lo... đang dâng lên trong lòng. Có câu thơ toàn thanh bằng gợi tả nỗi niềm mênh mang. Các từ ngữ hô ứng cũng tạo nên âm điệu buồn thương khó tả: "Đưa người... không đưa...", "sao có...", "không thắm, không vàng vọt... sao đầy...". Hay ở cách nói biểu cảm tinh tế, hay ở giọng điệu, cấu trúc song hành câu thơ:

      "Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

               Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

            Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?".

- Hình ảnh li khách.

   Ôm chí lớn với quyết tâm lên đường. Li khách: khách ra đi; người đi xa. Cách gọi trang trọng, cảm phục. Điệp lại hai lần "Li khách!", cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ, nhịp thơ 2-2-3 vang lên âm điệu trầm hùng của một hành khúc, một tráng ca:

          "Li khách! Li khách! con đường nhỏ

      Chí nhớn chưa về bàn tay không,

Thì không bao giờ nói trở lại!

          Ba năm mẹ già cũng đừng mong".

   Các từ phủ định: "Chưa về", "không bao giờ", "đừng mong" thể hiện một ý chí sắt đá, một quyết tâm không gì lay chuyển nổi, về phương diện tình cảm, li khách là một đứa con, một đứa em, một người anh. Có mẹ già, có hai chị như sen mùa hạ (đẹp) "Khuyên nốt em trai dòng lệ sót”. "Có em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc - Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay". Rất nhân tình, rất người nên li khách vẫn mang một nỗi buồn riêng khó giấu kín:

      "Ta biết người buồn chiều hôm trước,... "

"Ta biết người buồn sáng hôm nay... "

   Ví "Một chị, hai chị cũng như sen" đã là nay. Hình ảnh em nhỏ "ngây thơ đôi mắt biếc - Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay" kết hợp với ba vần thơ (vần lưng): "biếc - tiếc - chiếc" lại càng hay, gợi tả nhiều vương vấn trong lòng kẻ ở lại và người ra đi.

   Bốn câu cuối có nhiều cách hiểu khác nhau. Cách diễn tả trùng điệp. Giây phút li khách lên đường đã diễn ra. Vượt lên trên thói nữ nhi thường tình, li khách đã ra đi vì một nghĩa lớn, một chí lớn, đặt nghĩa lớn trên mọi tình cảm gia đình. Vần thơ đầy ấn tượng, dư ba:

        "Người đi? ừ nhỉ người đi thực!

   Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

        Em thì coi như như rượu say".

    Giây phút giã biệt tuy buồn, điều đó càng làm nổi bật lí tưởng và quyết tâm lên đường "Một giã gia đình, một dửng dưng” của li khách.

III- Kết luận.

   Sử dụng tài tình một điển cố để ca ngợi li khách ôm chí lớn lên đường. Năm 1940 ở nước ta, hình ảnh li khách trong bài thơ đầy ngưỡng mộ. Đẹp như một tráng sĩ với thanh gươm nghìn cân lên đường. "Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ gân guốc rắn rỏi". "Tống biệt hành" như một hành khúc giục giã lên đường. Mọi cuộc lên đường vì nghĩa lớn xưa và nay đều đẹp và đều được ngưỡng mộ.

loigiaihay.com

Bình giảng bài thơ Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải Bình giảng bài thơ Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải

Bài thơ mượn chuyện một cô gái gánh nước đêm khuya để kín đáo gửi gắm tâm sự của nhà thơ: trân trọng, cảm thương và kính phục những người yêu nước, những chiến sĩ cách mạng, ngầm thức tỉnh lòng yêu nước và tinh thần cứu nước.

Xem chi tiết
Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng. Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng.

Huỳnh Thúc Kháng là một nhà thơ yêu nước. Cụ đã để lại nhiều thơ chữ Nôm và chữ Hán. Năm 1908, trước lúc chia tay các chiến hữu trong tù, bị đày ra Côn Đảo, Cụ viết bài thơ "Bài ca lưu biệt". Bài thơ được viết theo thể hát nói, có một số câu thơ chữ Hán tạo nên phong cách trang trọng hào hùng.

Xem chi tiết
Cảm nghĩ về bài Đốc chiến Chiêu Vũ trích trong Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm Cảm nghĩ về bài Đốc chiến Chiêu Vũ trích trong Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm

Qua bài Đốc chiến Chiêu Vũ, ta càng thấy rõ bài học về đoàn kết: đoàn kết thì thành công; chia rẽ thì thất bại. Ta càng ghê sợ về thói đố kị, lòng nham hiểm của những kẻ xấu xa trong xã hội chỉ âm mưu hãm hại đồng loại.

Xem chi tiết
Bình giảng khổ thơ đầu bài Tống biệt hành của Thâm Tâm. Bình giảng khổ thơ đầu bài Tống biệt hành của Thâm Tâm.

Bài hành này của Thâm Tâm viết theo thể thất ngôn vừa kế thừa vừa cách tân, mang một nội dung khá mới và một vẻ đẹp nghệ thuật đặc sắc. Một âm điệu mênh mang bao trùm toàn bài hành.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến Lớp 11 trên Tuyensinh247.com, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu