Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Trị năm 2026>
Tải vềI. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn trích: Năm lớp 9, lớp Hòa Bình đón thầy giáo chủ nhiệm mới, thầy mới chuyển công tác từ nơi khác về. Buổi học đầu tiên, cả lớp hồi hộp chờ đón thầy. Thầy bước vào lớp, ánh mắt nghiêm nghị (...). Thầy mặc áo dài tay cùng chiếc quần màu xám cũ và sơ vin rất gọn gàng
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
Năm lớp 9, lớp Hòa Bình đón thầy giáo chủ nhiệm mới, thầy mới chuyển công tác từ nơi khác về. Buổi học đầu tiên, cả lớp hồi hộp chờ đón thầy. Thầy bước vào lớp, ánh mắt nghiêm nghị (...). Thầy mặc áo dài tay cùng chiếc quần màu xám cũ và sơ vin rất gọn gàng. Mái tóc thầy đã điểm những sợi bạc. Khi thầy bước vào lớp, Hòa Bình nhớ mãi dáng đi hơi tập tễnh của thầy. Cả lớp đều nghĩ chân trái của thầy bị đau nhưng không ai dám hỏi. (...) Sau giờ học, cả lớp bắt đầu bàn tán xôn xao về thầy. Đứa khen thầy giảng bài dễ hiểu, đứa thì lắc đầu lo lắng bảo chắc thầy nghiêm lắm đây, ... Riêng Hòa Bình thì cứ băn khoăn mãi về bước chân tập tễnh của thầy.
Giờ sinh hoạt lớp tuần này khác với tuần trước. Thầy kể cho cả lớp nghe câu chuyện về cái chân tập tễnh của thầy. Quê thầy ở đây nhưng từ khi ra trường cho đến năm ngoái, thầy công tác ở một trường thuộc vùng khó khăn của tỉnh. Thầy kể các bạn học sinh ở đó khó khăn lắm, ngoài giờ học, các bạn còn phải làm rất nhiều việc để giúp đỡ ba mẹ. Có bạn còn phải mang cả em đến lớp. Có bạn đi học được vài buổi lại ở nhà làm việc, thầy phải đến từng nhà động viên các bạn đi học. Dù vậy, nhiều bạn vẫn học rất chăm và giỏi. Thầy thương các bạn lắm nên mỗi dịp hè, thầy thường gom sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi,... mang lên cho các bạn. Hè năm ngoái, trên đường lên trường, đi qua những khúc cua quanh co, dù đã quen đường nhưng do chở đồ nặng, xe bị trượt bánh, thầy bị ngã văng ra xa khỏi xe, rồi bất tỉnh. Mãi sau có người dân phát hiện, đưa thầy đi bệnh viện. Sau tai nạn đó, giờ chân thầy thành ra tập tễnh như vậy. Thầy bảo vì thế nên mùa hè năm ngoái, thầy không mang được sách vở, quần áo, đồ chơi lên cho các bạn. Kể đến đây, giọng thầy trầm xuống. Rồi thầy chuyển công tác về trường này dù thầy rất muốn tiếp tục gắn bó với các bạn nhỏ ở đó.
- Mỗi khi trái gió trở trời, chân thầy nhức lắm. Thầy nhớ mấy đứa nhỏ trên đó, thỉnh thoảng gom được ít đồ lại nhờ người gửi lên. Cả lớp nghẹn ngào. Mắt Hòa Bình rưng rưng.
Năm đó chuẩn bị thi chuyển cấp, nhờ những lời động viên, ân cần chỉ bảo của thầy, cả lớp Hòa Bình đều nỗ lực học tập. (...) Ngày chia tay, từng đứa học trò vụng về viết lưu bút và hứa với nhau sau này sẽ thành công để không phụ lòng thầy. Thầy chỉ cười: “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”. Cuối năm học, lớp Hòa Bình đã cùng nhau góp sách vở, quần áo, truyện,... nhờ thầy gửi đến các bạn nhỏ vùng khó khăn.
Cuộc sống cuốn mỗi người đi theo một ngả. Nhưng có những buổi chiều chậm lại, khi vô tình ngang qua ngôi trường xưa, trái tim lại gợi lên những hồi ức dịu dàng, hồi ức đẹp về một người đã từng kiên nhẫn gieo vào lòng những đứa trẻ hạt giống lòng tin và sự tử tế.
Thầy bây giờ không còn đứng lớp nữa. Mái tóc thầy bạc dần theo thời gian, sân trường giờ đã có những thế hệ học trò mới. Nhưng với Hòa Bình, người thầy năm xưa vẫn là một điều thiêng liêng trong hành trình trưởng thành, là người đã lặng lẽ thắp sáng những năm tháng đầu đời bằng trái tim hiền hậu và ánh mắt đầy yêu thương.
(Trích Viết tiếp câu chuyện hòa bình, Nguyễn Văn Chung¹, Nxb Đại học Sư phạm, 2025, tr.76-80)
¹ Nguyễn Văn Chung sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của nhiều bài hát nổi tiếng như "Nhật ký của mẹ", "Vầng trăng khóc", "Chiếc khăn gió ấm", ... "Viết tiếp câu chuyện hòa bình" là cuốn sách kết hợp những câu chuyện cuộc đời giản dị, chân thành và những ca khúc âm nhạc được gợi cảm hứng từ chính những câu chuyện ấy, đồng thời còn là giai điệu cuộc đời, là hành trình đầy cảm xúc, nơi âm nhạc và văn học đưa bạn đọc trở về với những điều bình dị nhất nhưng cũng thiêng liêng nhất trong cuộc sống.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của đoạn trích trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra 01 lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu: Thầy thương các bạn lắm nên mỗi dịp hè, thầy thường gom sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi,... mang lên cho các bạn.
Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về câu nói của người thầy dành cho các bạn học sinh lớp chủ nhiệm trong ngày chia tay: “Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.”
Câu 5. (1,0 điểm) Từ nội dung câu văn: “Nhưng với Hòa Bình, người thầy năm xưa vẫn là một điều thiêng liêng trong hành trình trưởng thành, là người đã lặng lẽ thắp sáng những năm tháng đầu đời bằng trái tim hiền hậu và ánh mắt đầy yêu thương.”, hãy rút ra bài học có ý nghĩa đối với bản thân. (Trình bày khoảng 5 - 7 dòng)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật người thầy trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm) Thế kỉ XXI, xã hội có nhiều biến động, nhiều người chủ động để thích ứng nhưng cũng còn một số người e ngại sự thay đổi, không sẵn sàng dấn thân để trải nghiệm. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) đề xuất giải pháp khắc phục lối sống thụ động của giới trẻ hiện nay.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Ngôi kể thứ ba.
Câu 2. Lời dẫn trực tiếp: Chỉ cần các em làm người tốt là đủ.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng qua các từ ngữ: “sách vở, quần áo, đồ ăn, đồ chơi,...”.
- Tác dụng:
+ Làm nổi bật những món quà thiết thực mà thầy dành cho học sinh vùng khó khăn.
+ Thể hiện sự quan tâm, yêu thương sâu sắc và tấm lòng nhân hậu của người thầy đối với các em nhỏ.
+ Qua đó giúp người đọc cảm nhận được sự hi sinh âm thầm, lòng bao dung và trách nhiệm của thầy giáo.
Câu 4.
- Thầy không đặt nặng thành tích hay sự thành công về vật chất mà coi trọng nhân cách, đạo đức của học sinh. Đối với thầy, trở thành người sống tử tế, biết yêu thương, giúp đỡ người khác mới là điều quan trọng nhất trong cuộc đời.
- Câu nói còn thể hiện tình yêu thương và sự kì vọng của thầy dành cho học trò.
Câu 5.
- Bài học về tình yêu thương có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống: sự yêu thương chân thành và lòng tận tụy có thể tạo nên ảnh hưởng tích cực đối với người khác.
- Bài học về việc cần phải biết trân trọng công ơn của thầy cô đã dạy dỗ chúng ta nên người.
II. VIẾT
Câu 1.
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
- Người thầy tận tâm, yêu nghề:
+ Dù công tác ở vùng khó khăn, thầy vẫn hết lòng với học sinh.
+ Không quản nắng mưa thầy đến từng nhà vận động học sinh đi học.
- Người thầy giàu tình yêu thương, hi sinh âm thầm:
+ Quan tâm đến hoàn cảnh của học sinh nghèo, luôn mong các em được tiếp tục đến trường.
+ Khi chuyển công tác, thầy vẫn nhớ và day dứt về học trò cũ.
- Người thầy gieo hi vọng và truyền cảm hứng:
+ Thầy không chỉ dạy chữ mà còn gieo “hạt giống lòng tin và sự tử tế”.
+ Tình yêu thương của thầy đã làm thay đổi nhận thức học sinh, khiến cả lớp biết sẻ chia, quyên góp giúp các bạn nhỏ vùng khó khăn.
- Nghệ thuật:
+ Kể chuyện chân thực, cảm động.
+ Khắc họa nhân vật qua lời kể, hành động, lời nói.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Câu 2.
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận: giải pháp khắc phục lối sống thụ động của giới trẻ hiện nay.
2. Thân bài
a. Giải thích
- Lối sống thụ động là cách sống thiếu chủ động trong học tập, công việc và cuộc sống.
b. Phân tích, chứng minh
- Biểu hiện: ngại giao tiếp, không dám bày tỏ ý kiến, sống dựa dẫm vào gia đình, dành nhiều thời gian cho mạng xã hội nhưng ít hành động thực tế,…
- Nguyên nhân: tâm lí e ngại, sợ thất bại; được cha mẹ bao bọc; thiếu lí tưởng sống; …
- Hậu quả: người trẻ sẽ mất cơ hội phát triển bản thân, bị tụt hậu, …
- Giải pháp:
+ Đối với bản thân giới trẻ
Xác định mục tiêu sống rõ ràng.
Chủ động học hỏi, tham gia hoạt động xã hội, trải nghiệm thực tế.
Rèn luyện bản lĩnh, dám thử sức và chấp nhận thất bại.
Sử dụng mạng xã hội hợp lí, tránh lối sống “ảo”.
+ Đối với gia đình
Tạo điều kiện để con tự lập, tự chịu trách nhiệm với hành động của mình.
Quan tâm, định hướng nhưng không bao bọc quá mức.
+ Đối với nhà trường và xã hội
Tăng cường hoạt động trải nghiệm, giáo dục kỹ năng sống.
Khuyến khích học sinh sáng tạo, phản biện, làm việc nhóm.
Tạo môi trường tích cực để thanh niên cống hiến và khẳng định bản thân.
Lan tỏa những tấm gương sống năng động, giàu nghị lực.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp.
c. Mở rộng vấn đề
- Phê phán những người trẻ lười biếng, sống phụ thuộc, ngại cố gắng. Sống chủ động không phải là hấp tấp mà là biết hành động và thích nghi tích cực.
- Nhận thức cần sống chủ động hơn trong học tập và cuộc sống.
- Không ngừng rèn luyện để trở thành người có ích.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.





Danh sách bình luận