Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Ninh năm 2026>
Tải vềI. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: GỌI GIẤC MƠ VỀ Nguyễn Bích Lan [Tóm tắt phần đầu: Cậu bé vừa chạy theo ba trên bãi biển vừa nhắc về phần thưởng ba đã hứa từ đầu năm học nếu nó đứng nhất lớp, đạt giải nhất thi học sinh giỏi. Nghe lời ba, nó không chỉ học giỏi mà mỗi ngày còn giúp cha mẹ gỡ lưới, phơi lưới, học vá lưới. Ba nó vừa bước chân về phía trước vừa ngoái đầu lại, hai lần đáp “Nhớ!”.]
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
GỌI GIẤC MƠ VỀ
Nguyễn Bích Lan
[Tóm tắt phần đầu: Cậu bé vừa chạy theo ba trên bãi biển vừa nhắc về phần thưởng ba đã hứa từ đầu năm học nếu nó đứng nhất lớp, đạt giải nhất thi học sinh giỏi. Nghe lời ba, nó không chỉ học giỏi mà mỗi ngày còn giúp cha mẹ gỡ lưới, phơi lưới, học vá lưới. Ba nó vừa bước chân về phía trước vừa ngoái đầu lại, hai lần đáp “Nhớ!”.]
Ngôi nhà nhỏ của gia đình nó hiện ra thấp thoáng sau rặng thông xanh sẫm. Ba con nó như hai con thuyền chòng chành trong bóng tối bỗng thấy ngọn hải đăng dẫn lối vào bờ. Nhưng nó chưa chịu kết thúc cuộc tra vấn dai dẳng của mình. Bây giờ nó phải tranh với cả gió lẫn rặng thông để lời nó bay được lên phía trước mươi bước, tới tận tai ba nó.
“Hôm bế giảng con mang ba tấm giấy khen về, ba hỏi con muốn thưởng gì, con nói chẳng muốn chi hết, con chỉ muốn ba thưởng con chiếc xe đạp mi ni. Ba nói được, con đi chơi Sài Gòn về sẽ có xe đạp! Ba nhớ không?”
“Nhớ!” - ba nó đáp, như thể chưa lặp lại từ đó tới mấy lần, rồi đưa tay đẩy cánh cổng được ghép bằng những thân tre chẻ đôi. Nó bắt đầu mè nheo: “Thế mà bây giờ ba nói không... không xe pháo... chi hết!”. Giọng nó tắc nghẹn, rồi nó oà khóc trước bậc hiên.
Mẹ nó đang quét sân, buông cái chổi đánh “cạch”, chỉ tay về phía nó, mắng một thôi một hồi: “Mi khóc chi rứa! Mi đi chơi ba tháng trời, về tới nhà là mi hành ba! Mi đòi như đòi nợ! Mi có biết vì sao ba mi thất hứa không? Mi có biết vì sao mi ở chơi nhà o Hà những ba tháng, chứ không phải một tuần như ba mi tính không?
Vì o Hà nuôi mi đỡ ba mẹ mi đó. Ba tháng hè mi đi chơi Sài Gòn, ở nhà ba mi không đi biển được, mẹ mi không bán nổi một con cá, không kiếm nổi một đồng, mi biết không? Mi vào góc buồng mà coi đám lưới khô queo từ khi mi đi chưa gỡ kìa! Gạo mi ăn bữa tối nay là gạo được phát đó! Gạo cứu đói đó, mi biết không?
Ba mi đang đau đầu lo chạy tiền cho ba đứa tụi mi đóng học năm nay, mua bút vở năm nay, mua quần áo năm nay! Xe đạp ư! Mi học đâu thói đua đòi! Mi chín tuổi rồi chứ bé bỏng gì! Khi nào mi mới biết thương cha mẹ hả! Nếu mi không để cho ba mi yên thì mi no đòn đó!”
Nó đưa tay bưng miệng, như thể muốn bịt tiếng khóc của mình lại mà không thể. Nó khóc thút thít qua năm ngón tay, khóc trong nỗi oan uổng của mình, trong sự vỡ vụn về nỗi khổ của cha mẹ, trong sự chấp nhận cái lý do hiển nhiên không còn gì để tranh cãi.
Nó ngồi khóc cho tới khi bốn bên hàng xóm đều lên đèn. Lần đầu tiên nó nhận thấy buổi chạng vạng ở xóm nó không có mùi cá.
[Lược một đoạn: Nhìn ba ngồi im khô trong chiếc ghế gỗ kê bên cửa sổ, cậu bé nhớ lại những buổi tối ở nhà cô Hà, xem phim hoạt hình, được cô cho đi hóng gió ngoài phố, nhớ vị của que kem mát lịm, những món ăn thơm phức mà cô nấu... Rồi nó chợt hiểu, một kỳ nghỉ hè như thế đối với nó đã là một phần thưởng mà hiếm có đứa trẻ con nhà dân chài nào ở làng nó dám mơ tới].
“Ăn cơm tối xong, nó hầu như không còn thấy ấm ức gì. Phụ mẹ dọn bát đĩa xong, nó chạy xuyên qua rặng thông đến nhà thằng bạn thân nhất. Nó bước vào trong nhà bạn, chưa kịp đèn bật tỏ nơi vui gặp lại sau ba tháng hè, nó mở miệng, nói lúng búng: “Tuệ, tớ đã hứa với cậu, nhưng... tớ chưa có xe đạp... Năm nay ba tớ chưa có tiền mua xe đạp”.
Mẹ của thằng Tuệ đi tới đặt tay lên vai nó bóp nhẹ: “Hai đứa đừng buồn. Bác bớt bệnh rồi. Bác lại có thể cõng thằng Tuệ đến trường, không để nó phải bỏ học đâu mà lo. Khi nào có xe đạp thì con chở thằng Tuệ đi học đỡ bác...”.
Nó nhìn xuống đôi chân bại liệt teo tóp như hai ống sậy của thằng bạn, suýt nữa lại đổ một cơn khóc oà. Nó muốn nói với bạn rằng nó chỉ tạm thôi giấc mơ về chiếc xe đạp đi như thả một con diều, rằng khi nào ba nó có thể ra khơi, nó sẽ gọi giấc mơ về.”
(Tập truyện Những ngọn lửa, NXB Phụ nữ Việt Nam, năm 2025, trang 117-122)
Thực hiện yêu cầu/trả lời câu hỏi:
Câu 1. (0,5 điểm) Phần thưởng cậu bé mong muốn được nhận từ cha là gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Ghi lại hai lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn in đậm.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích ý nghĩa chi tiết: “Nó khóc thút thít qua năm ngón tay, khóc trong nỗi oan uổng của mình, trong sự vỡ vụn về nỗi khổ của cha mẹ, trong sự chấp nhận cái lý do hiển nhiên không còn gì để tranh cãi.”
Câu 4. (1,0 điểm) Theo em, vì sao tác giả đặt nhan đề cho truyện là Gọi giấc mơ về?
Câu 5. (1,0 điểm) Từ ước mơ của cậu bé trong truyện, em hãy chia sẻ một ước mơ dành cho người thân yêu và lý giải vì sao em có ước mơ đó.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật cậu bé (nó) trong phần cuối văn bản (từ Ăn cơm tối xong, nó hầu như không còn thấy ấm ức gì đến hết).
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về sự sẻ chia trong cuộc sống.
Đáp án
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn đối thoại giữa cậu bé và người cha, tìm chi tiết nói rõ món quà cậu bé mong được thưởng khi đạt thành tích học tập tốt.
Lời giải chi tiết:
Phần thưởng cậu bé mong muốn được nhận từ cha là một chiếc xe đạp mini.
Câu 2.
Phương pháp:
Xác định các câu nói của nhân vật được đặt sau dấu hai chấm và nằm trong dấu ngoặc kép hoặc được dẫn nguyên văn.
Lời giải chi tiết:
Hai lời dẫn trực tiếp trong đoạn văn in đậm là:
- “Nhớ!”
- “Thế mà bây giờ ba nói không... không xe pháo ... chi hết!”
Câu 3.
Phương pháp:
Chú ý các cảm xúc được nhắc đến trong câu văn (oan ức, thấu hiểu, chấp nhận).
Làm rõ sự thay đổi trong nhận thức và tâm lí của cậu bé.
Lời giải chi tiết:
- Thể hiện tâm trạng phức tạp của cậu bé: vừa buồn tủi, thất vọng vì không được nhận phần thưởng đã hứa, vừa cảm thấy oan ức vì mong muốn của mình không được đáp ứng.
- Qua lời mẹ, cậu hiểu ra hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của gia đình và những nỗi vất vả mà cha mẹ đang gánh chịu.
- Chi tiết cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức của cậu bé: từ chỗ chỉ nghĩ đến mong muốn của bản thân đến biết cảm thông, thấu hiểu và chấp nhận hi sinh vì gia đình
Câu 4.
Phương pháp:
Liên hệ với hình ảnh “giấc mơ chiếc xe đạp” ở cuối truyện. Từ đó xác định ý nghĩa biểu tượng của nhan đề về niềm tin, hi vọng và ước mơ chưa bao giờ mất đi.
Lời giải chi tiết:
Tác giả đặt nhan đề “Gọi giấc mơ về” vì chiếc xe đạp là một giấc mơ đẹp của cậu bé nhưng phải tạm gác lại do hoàn cảnh khó khăn của gia đình. Tuy nhiên, cậu không từ bỏ ước mơ ấy mà chỉ “thả” nó đi một thời gian. Khi cuộc sống khá hơn, khi cha có thể ra khơi trở lại, cậu sẽ tiếp tục nuôi dưỡng và thực hiện ước mơ của mình. Nhan đề thể hiện niềm tin, sự hi vọng và tinh thần không từ bỏ những ước mơ tốt đẹp.
Câu 5.
Phương pháp:
Nêu một ước mơ cụ thể dành cho người thân (cha mẹ, ông bà,...), sau đó giải thích lí do xuất phát từ tình yêu thương, sự biết ơn hoặc mong muốn họ có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Lời giải chi tiết:
- Ước mơ cha mẹ luôn mạnh khoẻ.
- Ước mơ chị gái đậu đại học.
- …
II. VIẾT
Câu 1.
Phương pháp:
Phân tích hành động, suy nghĩ và lời nói của cậu bé ở phần cuối truyện để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn. Nhận xét sự trưởng thành, biết cảm thông và giàu tình yêu thương của nhân vật.
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
- Tóm tắt ngắn gọn nội dung câu chuyện.
- Sự thay đổi trong nhận thức và tâm trạng: Sau khi được mẹ giải thích, cậu không còn ấm ức vì không được mua xe đạp. Hiểu được hoàn cảnh khó khăn của gia đình, hiểu nỗi vất vả của cha mẹ.
- Cậu luôn biết nghĩ cho người khác: Cách nói “lúng búng” cho thấy sự áy náy, chân thành và có trách nhiệm với lời hứa của mình.
- Sự trưởng thành trong tâm hồn:
+ Vẫn giữ giấc mơ có chiếc xe đạp để giúp đỡ người khác nhưng không còn đòi hỏi hay trách móc cha mẹ.
+ Biết chờ đợi, biết hi vọng và tin tưởng vào tương lai
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Miêu tả tâm lí tinh tế qua suy nghĩ, hành động và lời nói.
+ Ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc.
+ ….
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2.
Phương pháp:
Giải thích khái niệm sẻ chia, bàn luận ý nghĩa của sự sẻ chia trong cuộc sống. Nêu dẫn chứng, phê phán lối sống ích kỉ và rút ra bài học nhận thức, hành động cho bản thân.
Lời giải chi tiết:
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
II. Thân bài
1. Giải thích
- Sẻ chia là biết quan tâm, đồng cảm, giúp đỡ người khác bằng tình cảm, hành động hoặc vật chất khi họ gặp khó khăn, thiếu thốn.
2. Bàn luận
* Biểu hiện
- Quyên góp, ủng hộ, giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi, người già neo đơn, nạn nhân thiên tai...
- Lời an ủi, sự động viên, lắng nghe và thấu hiểu khi người khác gặp biến cố, bế tắc.
* Vì sao cần có sự sẻ chia trong cuộc sống?
- Cuộc sống luôn có những khó khăn, thử thách mà không phải ai cũng có thể tự mình vượt qua.
- Sự sẻ chia giúp con người cảm thấy được yêu thương, quan tâm và có thêm động lực để vươn lên.
- Làm giảm bớt nỗi đau, mất mát và những áp lực trong cuộc sống.
- Góp phần xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người.
* Ý nghĩa của sự sẻ chia
- Đối với người nhận:
+ Nhận được sự giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần.
+ Có thêm niềm tin, nghị lực để vượt qua hoàn cảnh khó khăn.
+ Cảm nhận được tình yêu thương và sự ấm áp của cộng đồng.
- Đối với người cho đi
+ Mang lại niềm vui, hạnh phúc và cảm giác sống có ích.
+ Hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng lòng nhân ái.
+ Được mọi người yêu quý, tôn trọng.
- Đối với xã hội
+ Gắn kết con người với nhau.
+ Tạo nên môi trường sống nhân văn, đoàn kết và giàu tình yêu thương.
+ Giúp xã hội phát triển bền vững, hạn chế sự thờ ơ, vô cảm.
(HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp)
3. Mở rộng vấn đề
- Phê phán những người sống ích kỉ, chỉ biết lợi ích cá nhân.
- Phê phán lối sống thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác.
- Cần phân biệt sẻ chia chân thành với việc giúp đỡ nhằm mục đích vụ lợi, đánh bóng tên tuổi.
4. Bài học nhận thức và hành động
- Nhận thức được sẻ chia là nét đẹp đạo lý, là nhu cầu thiết yếu để hoàn thiện nhân cách.
- Hành động thiết thực: Bắt đầu từ những việc nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày, sẻ chia với những người thân thiết nhất.
III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.





Danh sách bình luận