Chép lại những câu thơ có sử dụng các yếu tố chất liệu văn học dân gian trong bài thơ trên, gạch dưới những từ ngữ chi các yếu tố đó. Bình giảng bốn câu thơ cuối của bài thờ (hai cặp lục bát).

Bình chọn:
3.3 trên 6 phiếu

Chép những câu thơ (câu lục câu bát hoặc cả cặp lục bát) có sử dụng các chất liệu văn học dân gian trong Tương tư .,.

➡ Bạn giỏi văn? Hãy tham gia chương trình: Gửi văn hay nhận ngay phần thưởng nhé💘

   Chép lại những câu thơ có sử dụng các yếu tố chất liệu văn học dân gian trong bài thơ trên, gạch dưới những từ ngữ chi các yếu tố đó.

   Bình giảng bốn câu thơ cuối của bài thờ (hai cặp lục bát).

   DÀN Ý

   Yêu cầu 1: Chép những câu thơ (câu lục câu bát hoặc cả cặp lục bát) có sử dụng các chất liệu văn học dân gian trong Tương tư của Nguyễn Bính - gạch chân các từ, ngữ chỉ các yếu tố đó; các câu sau:

   Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

   Một người chín nhớ mười mong một người

   “Bảo rằng cách trở đò giang

   “Nhưng đây cách một đầu đình"

   “Biết cho ai hỏi ai người biết cho?"

   “Bao giờ bến mới gặp đò

   “Nhà em có một giàn giầu

   Nhà tôi có một hàng cau liên phòng

   Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

   Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

   Yêu cầu 2: Bình giảng bốn câu thơ cuối bài (2 cặp lục bát). Các ý chính:

   Giới thiệu sơ lược và khái quát về bài thơ:

   Tuơng tư viết năm 1939 in trong tập Lỡ bước sang ngang (1940). Tương tư: Nghĩa đen của chữ là nhớ nhau. Nghĩa “Tương tư'’ bài thơ này là nỗi nhớ của tình yêu đôi lứa. Nhà thơ đã thể hiện nỗi nhớ này qua mọi cung bậc của nó.

   Bình giảng đoạn kết (bốn câu - 2 cặp lục bát).

   Nhìn trong mạch cảm xúc của bài thơ, đoạn cuối này là mối kết tụ nỗi niềm - tương tư, đồng thời mở ra chân trời hi vọng hạnh phúc tình yêu.

   Giọng điệu:

   Đoạn thơ được nói bằng giọng thầm thì ngọt ngào, gần gũi yêu thương (có thể so sánh với giọng thơ trong các đoạn trước để thấy chuyển đổi giọng thơ). Giọng trống không, xa cách, hờn dỗi trách móc không còn, cũng không còn những khắc khoải, day dứt.

   Cách xưng hô “tôi” - “nàng” đến “tôi” - “em” gần gũi hơn, thân mật hơn.

   Giọng khẳng định, khẳng định một sự thực hiển nhiên: “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” dẫn tới một khẳng định khác trong hi vọng “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.

   Hình ảnh “giầu cau”, cũng là hình ảnh chung kết của bài.

   Hình ảnh sóng đôi “giầu cau” là một chất liệu văn học dân gian được sử dụng cuối cùng trong bài để khẳng định tình yêu bền vững (sau khi đã sử dụng nhiều yếu tố khác). Điệp ngữ “nhà... có một” mang kết cấu song song, cũng biểu thị ý khẳng định, sự sóng đôi tồn tại.

   "Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”: Cấu trúc bỏ lửng, nói thực ra để khẳng định, khẳng định tế nhị, vì hình ảnh trầu cau là một ẩn dụ của chuyện hôn nhân hạnh phúc lứa đôi, là khao khát hạnh phúc hài hòa.

   Đoạn kết bài thơ được thể hiện tinh tế, khéo léo, nhớ “giầu cau", nhớ “Đông, Đoài” mà tình yêu liên tưởng.

   Kết một cách độc đáo nhưng phù hợp lôgic cảm xúc tâm trạng của cả bài: khép lại một nỗi niềm, giải được bệnh “tương tư” và mở ra niềm khát khao hi vọng hạnh phúc nhân duyên.

   Đoạn thơ đậm màu sắc nghệ thuật trữ tình dân gian (thể lục bát, hình ảnh “giầu cau”, "Đông Đoài”, cách ví von ẩn dụ... nó nhất quán với việc dùng các yếu tố chất liệu dân gian trong toàn bài, tạo được chất giọng tình yêu chân quê đằm thắm, bền vững, vốn là đặc trưng nổi bật của thơ Nguyễn Bính.

loigiaihay.com

Các bài liên quan: - Tương tư - Nguyễn Bính

Diễn biến tâm trạng của chàng trai qua bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính Diễn biến tâm trạng của chàng trai qua bài thơ “Tương tư” của Nguyễn Bính

Nguyễn Bính, một nhà thơ mới luôn tha thiết với những giá trị cổ truyền và tìm về với cội nguồn dân tộc để thổi vào những cung bậc cảm xúc của mình một hồn quê đậm đà, chân chất.

Xem chi tiết
Phân tích ‘Tương tư’- Nguyễn Bính Phân tích ‘Tương tư’- Nguyễn Bính

Tô Hoài đã hoàn toàn đúng khi cho rằng: “Thơ và cuộc đời ràng buộc nhà thơ. Trước sau và mãi mãi, Nguyễn Bĩnh vẫn là thi sĩ của chân quê, hồn quê”.

Xem chi tiết
Bình giảng khổ cuối bài Tương tư của Nguyễn Bính. Bình giảng khổ cuối bài Tương tư của Nguyễn Bính.

Đoạn thơ cho thấy vẻ đẹp riêng trong thơ tình của Nguyễn Bính. Tác giả đã vận dụng sáng tạo các chất liệu văn học dân gian như giầu - cau, thôn Đoài - thôn Đông, câu thơ lục bát giàu vần điệu nhạc điệu để nói lên nỗi khát khao tình yêu hạnh phúc của lứa đôi. Một tình yêu đằm thắm, chân quê.

Xem chi tiết
Bài 2: Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính. Bài 2: Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính.

Trong Tương tư có mong nhớ và buồn, có trách móc và giận hờn, nhưng chủ yếu là vươn tới, là mơ ước, khát khao để anh và em, để cau thôn Đoài và giầu không thôn Đông thắm lại, son sắt, thủy chung. Mọi mơ ước đều đẹp. Mơ ước về tình duyên hạnh phúc lại càng đẹp.

Xem chi tiết

>>Học trực tuyến Lớp 11 trên Tuyensinh247.com, mọi lúc, mọi nơi tất cả các môn. Các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu

Gửi văn hay nhận ngay phần thưởng