“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thêm
Rải rác biên cương, mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, rút ra nhận xét âm hưởng bi tráng về hình tượng người lính trong thơ Quang Dũng.
Dàn ý tham khảo:
1. Mở bài:
- Giới thiệu về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.
- Giới thiệu về cảm hứng lãng mạn như một nét cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
2. Thân bài:
- Giải thích cảm hứng lãng mạn là gì và sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong tác phẩm văn chương:
+ Cảm hứng lãng mạn trong văn học được hiểu là xu thế vươn lên, vượt lên trên thực tại khách quan bằng cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ, thể hiện những khát vọng mạnh mẽ hướng về những vẻ đẹp khác lạ trong thế giới của mơ ước, tưởng tượng, ở tương lai hay quá khứ.
+ Cảm hứng lãng mạn vì thế thường khai thác những đề tài như thiên nhiên, tình yêu, tôn giáo, hồi tưởng, kỉ niệm,... đồng thời đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, phi thường, độc đáo, vượt lên những cái tầm thường, quen thuộc của đời sống hằng ngày. Nó đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của tưởng tượng, liên tưởng, cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương, phóng đại, thủ pháp tương phản, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và tạo được ấn tượng mạnh mẽ.
- Sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: Cần phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến trên hai phương diện: nội dung cảm hứng (nỗi nhớ về một thời chiến chinh gian khổ, nhiều mất mát hy sinh nhưng cũng thật hào hùng; hình tượng thiên nhiên; hình tượng người lính Tây Tiến); nghệ thuật thể hiện (bút pháp tương phản trong việc thể hiện hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống và chất thơ từ chính cuộc sống đó, tính chất bi tráng của hình tượng người lính, giọng điệu trữ tình và bi tráng của tác phẩm,...).
+ Vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người: địa hình gập ghềnh, hiểm trở với núi cao, vực thẳm, sông sâu; thiên nhiên hoang sơ, bí ẩn nhưng cũng toát lên vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng, trữ tình với tất cả vẻ quyến rũ, làm say lòng người.
+ Vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến: những khó khăn, thử thách không ngăn được bước chân người lính vốn là những chàng trai Hà Thành hào hoa, tinh tế; những nét bi thương "không mọc tóc,", "mồ viễn xứ",... là những âm trầm trong bản hùng ca về những con người "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh".
- Nhận xét, bàn luận về ý nghĩa, giá trị của sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến:
+ Cảm hứng lãng mạn và giá trị của bài thơ Tây Tiến: Cảm hứng lãng mạn giúp tác giả khắc hoạ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến cùng vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây, tạo nên một tác phẩm độc đáo trong thơ ca thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.
+ Cảm hứng lãng mạn và sự thể hiện phong cách của tác giả: nét hồn nhiên, tinh tế, vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng.
3. Kết bài:
Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về vẻ đẹp của cảm hứng lãng mạn trong bài thơ (có thể so sánh với một số bài thơ ra đời trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp).
Bài viết tham khảo 1:
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hào hoa và đậm chất lãng mạn. Bài thơ "Tây Tiến" là kiệt tác được sáng tác trong nỗi nhớ da diết về đoàn quân Tây Tiến và những ngày tháng chiến đấu gian khổ, đã thể hiện trọn vẹn phong cách nghệ thuật độc đáo của ông. Xuyên suốt thi phẩm, cảm hứng lãng mạn trở thành mạch nguồn chủ đạo, tạo nên vẻ đẹp bi tráng và hào hùng cho hình tượng người lính, đồng thời nâng tầm hiện thực khắc nghiệt thành những trang thơ bất tử.
Cảm hứng lãng mạn trong văn học là khuynh hướng sáng tạo đề cao cái tôi chủ quan, vượt lên hiện thực khách quan bằng cảm xúc, trí tưởng tượng và khát vọng mãnh liệt. Trong "Tây Tiến", cảm hứng ấy được thể hiện tài tình qua cách nhìn và miêu tả thiên nhiên, cuộc sống con người miền Tây. Thiên nhiên hiện lên không chỉ hiểm trở, dữ dội với những "dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm", "ngàn thước lên cao ngàn thước xuống" mà còn đầy chất thơ, quyến rũ qua hình ảnh "sương lấp đoàn quân mỏi", "hoa về trong đêm hơi". Con người nơi đây hiện lên trong vẻ đẹp nguyên sơ, bí ẩn của "doanh trại bừng lên hội đuốc hoa", của "em xiêm áo tự bao giờ" trong tiếng "nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ". Tất cả đều được nhìn qua lăng kính của nỗi nhớ và tâm hồn lãng mạn, biến hiện thực khắc nghiệt thành bức tranh vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.
Tiêu biểu nhất cho cảm hứng lãng mạn chính là hình tượng người lính Tây Tiến. Họ hiện lên trong sự kết hợp hài hòa giữa chất bi và chất tráng, giữa hiện thực và lãng mạn. Hiện thực chiến tranh khốc liệt in dấu lên ngoại hình "không mọc tóc", "quân xanh màu lá" vì những cơn sốt rét rừng. Nhưng dưới cái nhìn lãng mạn, những hình ảnh ấy lại mang vẻ ngang tàng, dữ oai hùm, làm bật lên khí phách anh hùng. Họ là những người lính dũng cảm "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh", đồng thời là những chàng trai Hà Nội hào hoa với đời sống tâm hồn phong phú:
"Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm".
Cái chết, sự hy sinh vốn là bi thương, nhưng trong thơ Quang Dũng được bao bọc bởi không khí bi tráng, trang trọng:
"Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
Cách nói "áo bào" sang trọng hóa sự hy sinh, "về đất" gợi sự hóa thân vào non sông, và tiếng gầm của sông Mã như khúc tráng ca tiễn đưa. Cảm hứng lãng mạn đã nâng đỡ hiện thực, biến cái bi thành cái tráng, tạo nên tượng đài bất tử về người lính.
Về nghệ thuật, Quang Dũng vận dụng xuất sắc bút pháp lãng mạn. Thủ pháp tương phản được sử dụng hiệu quả giữa cái dữ dội, khắc nghiệt với cái thơ mộng, trữ tình; giữa cái bi và cái hùng. Ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình, nhạc điệu, với hệ thống từ Hán Việt trang trọng góp phần tạo không khí cổ kính, bi tráng. Giọng điệu chủ đạo là nỗi nhớ da diết, pha lẫn tự hào, ngợi ca, có cả xót thương nhưng không bi lụy.
Cảm hứng lãng mạn đã mang lại cho "Tây Tiến" sức sống riêng, độc đáo trong nền thơ ca kháng chiến chống Pháp. Khác với nhiều bài thơ cùng thời thiên về chất hiện thực, mộc mạc, "Tây Tiến" nổi bật với vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, đậm chất lãng tử. Bài thơ không chỉ khắc họa chân dung một đoàn quân mà còn thể hiện rõ phong cách một hồn thơ - Quang Dũng: tài hoa, phóng khoáng và giàu cảm hứng lãng mạn.
Có thể khẳng định, cảm hứng lãng mạn là linh hồn của "Tây Tiến". Nó giúp nhà thơ dựng lên bức tranh thiên nhiên, con người và cuộc chiến đấu không chỉ chân thực mà còn đầy chất thơ, đẹp một cách bi tráng. Đọc "Tây Tiến", ta không chỉ thấy được gian khổ, hy sinh mà còn cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn của những người lính - những con người đã sống và chiến đấu bằng cả trái tim lãng mạn và ý chí kiên cường. Đó chính là giá trị bất tử làm nên sức sống lâu bền của bài thơ trong lòng độc giả nhiều thế hệ.
Bài viết tham khảo 2:
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, vừa làm thơ, viết văn, vẽ tranh, vừa sáng tác nhạc, nhưng ông được biết đến nhiều nhất với tư cách là một nhà thơ lãng mạn. Bài thơ Tây Tiến sáng tác năm 1948 là kết tinh đẹp nhất của hồn thơ ấy, vừa tài hoa, tinh tế, vừa thấm đẫm tình yêu quê hương, đồng đội. Cảm hứng lãng mạn là mạch cảm xúc chủ đạo xuyên suốt tác phẩm, thể hiện trong cách nhà thơ nhìn người, nhìn cảnh bằng con mắt của mộng tưởng và lý tưởng hóa. Đoạn thơ cuối từ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” đến “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là đỉnh cao của cảm hứng bi tráng, khắc họa hình tượng người lính vừa bi thương, vừa hào hùng, tiêu biểu cho vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng trong thơ ca kháng chiến.
Cảm hứng lãng mạn là khuynh hướng nghệ thuật hướng tới cái đẹp, cái phi thường, vượt lên trên giới hạn thực tại khắc nghiệt. Nó thể hiện khát vọng sống, lý tưởng hóa con người và cuộc đời, đề cao cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ. Trong văn học, cảm hứng lãng mạn thường biểu hiện qua những hình ảnh được thăng hoa bởi tưởng tượng, lý tưởng hóa, qua thủ pháp tương phản, ngôn ngữ giàu biểu cảm và tạo nên những rung động mạnh mẽ. Nhờ cảm hứng ấy, nhà thơ không chỉ miêu tả hiện thực mà còn nâng nó lên tầm mộng tưởng và lý tưởng, giúp người đọc nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong gian khổ và khốc liệt.
Trong đoạn thơ, hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên thật độc đáo và khác thường. Quang Dũng không né tránh hiện thực khắc nghiệt của đời lính mà thể hiện nó bằng con mắt lãng mạn.
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Câu thơ gợi ra hình ảnh những chiến sĩ gầy yếu vì sốt rét, tóc rụng, da xanh. Nhưng với cái nhìn của người nghệ sĩ, Quang Dũng đã nâng hình ảnh ấy lên thành biểu tượng của sự kiên cường, gan góc. Họ không hề tầm thường hay bi lụy, mà ngược lại, ẩn trong vẻ ngoài tiều tụy là sức mạnh phi thường, là khí phách dữ dội. Cái nhìn ấy vừa thực vừa lý tưởng, vừa đau xót vừa tự hào, thể hiện rõ chất lãng mạn anh hùng trong thơ Quang Dũng.
Giữa bom đạn khốc liệt, người lính Tây Tiến vẫn giữ trong mình tâm hồn hào hoa, mộng mơ.
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Hai câu thơ cho thấy vẻ đẹp vừa mạnh mẽ vừa lãng mạn của người lính. Ánh mắt họ kiên định, gửi theo khát vọng chiến đấu và giấc mơ bình yên, còn nỗi nhớ Hà Nội, nhớ dáng hình người con gái thân thương lại cho thấy một tâm hồn trẻ trung, nhạy cảm. Giấc mơ ấy không làm họ yếu mềm mà trở thành nguồn động lực để vượt qua gian khổ. Giữa chiến trường khốc liệt, họ vẫn là những chàng trai tuổi đôi mươi mang trong mình tình yêu và lý tưởng, biết mơ mộng, biết nhớ thương, một nét đẹp rất riêng trong thơ Quang Dũng.
Khi viết về cái chết, Quang Dũng không sa vào bi thương mà nâng nỗi mất mát lên thành vẻ đẹp bi tráng.
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Hai câu thơ gợi ra hiện thực khốc liệt, nhưng giọng thơ lại bình thản, kiêu hãnh. Người lính ngã xuống nơi đất khách nhưng đó là cái chết vì lý tưởng, vì Tổ quốc, nên không bi lụy mà đầy tự hào. Cảm hứng lãng mạn khiến cái chết được nhìn bằng con mắt của sự bất tử, biến mất mát thành khúc ca hiên ngang. Hình ảnh “Áo bào thay chiếu anh về đất” vừa gợi xót thương vừa chan chứa sự trân trọng. Cách nói “áo bào” mang sắc thái trang trọng, làm cho cái chết của người lính trở nên thiêng liêng, cao quý như sự trở về của người anh hùng. Câu thơ cuối “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” khép lại đoạn thơ bằng âm hưởng hùng tráng. Tiếng gầm của sông Mã như lời tiễn biệt bi thương mà oai hùng, như bản hùng ca bất tử về sự hy sinh cao cả.
Cảm hứng lãng mạn đã giúp Quang Dũng khắc họa thành công tượng đài người lính Tây Tiến, những con người vừa chân thực, vừa phi thường, vừa mang vẻ đẹp đời thường vừa mang tầm vóc sử thi. Họ hiện lên giữa khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội mà cũng thơ mộng, say đắm. Chính cảm hứng lãng mạn đã khiến Tây Tiến không chỉ là bản ghi chép chiến tranh mà là bản tình ca của một thời tuổi trẻ, nơi con người sống, chiến đấu và hi sinh với tất cả đam mê và niềm tin. So với nhiều bài thơ cùng thời như Đồng chí của Chính Hữu hay Nhớ của Hồng Nguyên, Tây Tiến vẫn mang phong vị riêng, phóng khoáng, tài hoa, đậm chất mộng và chất nhạc, thể hiện phong cách độc đáo của Quang Dũng, một hồn thơ hào hoa, phóng khoáng mà sâu lắng.
Đoạn thơ trên là khúc ca bất tử về người lính Tây Tiến, những chàng trai tuổi đôi mươi đã hóa thân vào non sông bằng vẻ đẹp bi tráng. Cảm hứng lãng mạn giúp Quang Dũng nhìn hiện thực bằng con mắt của nghệ sĩ, từ đó biến đau thương thành vẻ đẹp, biến cái chết thành khúc ca. Bằng ngòi bút tài hoa và tâm hồn chan chứa yêu thương, Quang Dũng đã để lại trong lòng người đọc một hình tượng người lính mãi mãi sáng ngời giữa thơ ca Việt Nam, những con người “chẳng tiếc đời xanh”, ra đi giữa tiếng gầm của sông núi, giữa âm vang bất tử của lý tưởng và tình yêu Tổ quốc.

Các bài tập cùng chuyên đề
Đọc văn bản sau và thực hiện các câu hỏi:
CHIẾC ÁO CỦA CHA
Ngô Bá Hòa
Tuổi chiếc áo bằng một nửa tuổi Cha
mỗi nếp gấp mang dáng hình đồng đội
mỗi mảnh vá chứa bao điều muốn nói
về một thời trận mạc của Cha
Ngày con sinh ra
đất nước hoà bình
với bạn bè con hay xấu hổ
khi thấy Cha mặc chiếc áo xanh cũ kĩ
đâu biết với Cha là kỉ vật cuộc đời
Nơi nghĩa trang nghi ngút khói hương
trước hàng hàng ngôi mộ
cha đắp áo sẻ chia hơi ấm
với đồng đội xưa yên nghỉ nơi này
Khoé mắt con chợt cay
khi chứng kiến nghĩa tình người lính
không khoảng cách nào giữa người còn người mất
chiếc áo bạc màu hoá gạch nối âm dương.
Lập bảng tổng hợp về những loại văn học đã được học trong SGK Ngữ văn 12, tập 1. Kể tên các tác phẩm cụ thể thuộc từng loại, thể loại đó
Nêu khái quát những kiến thức mới về loại văn bản, thể loại văn học được trình bày ở phần Tri thức Ngữ văn của từng bài học.
Lập bảng đối sánh phong cách cổ điển, phong cách hiện thực và phong cách lãng mạn trong sáng tác văn học. Nêu tên một số tác phẩm cụ thể thuộc từng phong cách đó
Nêu các nội dung thực hành tiếng Việt đã thực hiện trong học kì I và làm rõ tác dụng của các nội dung thực hành ấy đối với việc đọc hiểu văn bản ở từng bài học.
Xác định những yêu cầu chung và yêu cầu riêng của các kiểu bài viết được thực hiện ở Bài 1, Bài 2, và Bài 4 bằng một sơ động phù hợp.
Chỉ ra những yêu cầu mới của việc viết một báo cáo nghiên cứu ở lớp 10 và lớp 11
Nêu những nội dung của hoạt động nói và nghe được thực hiện trong học kì I
Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ vào loại thơ tượng trưng được không? Vì sao?
Theo hiểu biết của bạn, hình ảnh “bình đựng lệ” có thể gợi nhớ đến những câu chuyện cổ nào?
“Bình đựng lệ” là biểu tượng của cái gì? Căn cứ vào đâu để xác định những hàm nghĩa của biểu tượng này?
Tìm những câu thơ thể hiện nhận thức của tác giả về sự tồn tại vĩnh cửu của “bình đựng lệ”. Tác giả phát biểu nhận thức này dựa trên những trải nghiệm cá nhân nào?
Thủ pháp đối lập đã được tác giả vận dụng như thế nào và đạt hiệu quả nghệ thuật gì?
Nêu nhận xét về màu sắc nghị luận của bài thơ thông qua một số dấu hiệu hình thức mang tính đặc trưng.
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm của bạn đối với nỗi niềm và nhận thức của tác giả được bộc lộ qua bài thơ.
Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện cùng sáng tác về một đề tài hoặc cùng nói về một loại nhân vật.
Nội dung 1: Thuyết trình về một tác phẩm truyện có cách tiếp cận và thể hiện mới mẻ đối với đời sống, khát vọng của tuổi 20.
Liệt kê và chia nhóm các văn bản đọc có trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai theo loại văn bản và thể loại văn học. Nêu tên những văn bản thuộc một thể loại văn học chưa được học trước đó ( nếu có)
Phân tích mối quan hệ mật thiết giữa Yêu cầu cần đạt và phần Tri thức Ngữ văn ở mỗi bài học trong SGK Ngữ văn 12, tập 2. Nêu tác dụng thiết thực của việc nắm bắt các khái niệm then chốt được giới thuyết ở phần Tri thức Ngữ văn đối với việc đọc hiểu các văn bản trong từng bài học.
Các văn bản đọc trong Bài 6 ( Hồ Chí Minh-“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”) thuộc những văn bản và thể loại nào? Nêu lí do dẫn đến sự đa dạng về thể loại, thể loại của các văn bản được chọn học ở đây, xét từ góc độ người sáng tác và từ đặc trưng của bài học về tác gia.
Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai đã hướng dẫn thực hành tiếng Việt theo những nội dung gì? Nêu ý nghĩa của việc thực hành những nội dung đó đối với việc khám phá nét đặc sắc về mặt ngôn ngữ của các văn bản đọc.
a.Vẽ lại sơ đồ trên giấy khổ lớn ( có thể theo một hình thức khác, những vẫn đảm bảo được các thông tin chính)
b.Ghi tên một số tác phẩm văn học dân gian Việt Nam tiêu biểu ( đã học theo sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 12) vào các ô phù hợp trong sơ đồ
c.Ghi tên một số tác phẩm văn học viết Việt Nam tiêu biểu ( đã học theo sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 12) vào các ô. Lưu ý ghi kèm tên tác giả, thể loại; đối với văn học trung đại Việt Nam, cần để rõ tác phẩm thuộc loại hình sáng tác chữ Hán hay chữ Nôm
d.Nêu nhận xét khái quát về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam dựa trên những thông tin đã được điền bổ sung trong sơ đồ vẽ lại.
Liệt kê những kiểu bài viết đã được luyện tập trong học kì II. Theo bạn, kiểu bài viết nào trong số đó có khả năng ứng dụng cao hơn cả? Vì sao?
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai, sự phong phú của hoạt động nói và nghe đã được thể hiện như thế nào? Phân tích một ví dụ cho thấy hoạt động nói và nghe ở lớp cuối cấp có những đòi hỏi cao hơn về mặt kiến thức và kĩ năng so với hoạt động đó ở các lớp dưới
Xác định ý nghĩa ẩn dụ trong hình ảnh “lửa bên trong” và vấn đề chính được tác giả đề cập trong văn bản
Khi viết bài Lửa bên trong, tác giả hướng tới đối tượng độc giả nào trước hết? Căn cứ cho phép khẳng định điều đó là gì?
Tóm tắt những luận điểm chính của văn bản. Khái niệm “cuộc đời lớn” có mối liên quan như thế nào tới cảm hứng viết và lập luận của tác giả?
Theo tác giả, đối với đời sống của mỗi con người, “lửa bên trong” có ý nghĩa gì?
Tìm trong văn bản những từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí, hoạt động của con người ứng với hai tình trạng: có “lửa bên trong” và không có “lửa bên trong” (lập bảng liệt kê và đối sánh)
Chỉ ra một số biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong văn bản. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà bạn tâm đắc nhất.



Danh sách bình luận