Lược trích: Lúc nhân vật "tôi" còn nhỏ, "cô tôi" thường rủ "tôi" lên bờ đê tìm cỏ mật và chỉ cho "tôi" cách ngửi hương cỏ mật - mùi hương như dâng lên từ trong lòng đất, như lắng xuống từ trên trời, một vị ngọt như có thể uống được.
Chiến tranh ác liệt nổ ra. Cô tôi xung phong đi bộ đội. Ngay lập tức cô phải vượt Trường Sơn sang Lào rồi lộn về đánh nhau ở Khe Sanh. Những bức thư cô tôi viết về ướp đầy hương cỏ mật. Bà nội tôi cầm bức thư - đã đi qua hàng trăm nơi, qua tay bao nhiêu người mới về đến đúng địa chỉ nhà tôi - khóc ngất:
- Không biết nó sống chết ra răng, chiến trường bom đạn, đã nói ở nhà lấy chồng cho tôi nhờ, cứ khăng khăng đòi ra trận.
- Thôi đi nội - tôi đón bức thư từ nội - nội đưa con đọc cho.
- Ừ, đọc đi con, đọc đi coi hắn đang ở chỗ mô con, không biết có khỏe không để mà lo chiến đấu!
- Dạ.
Tôi đón bức thư cô tôi gửi, một mùi hương cỏ mật thơm thoảng qua trong tôi. Cô tôi viết thư, chữ con gái nắn nót và có phần điệu đà:
“Gửi mẹ và Khảm!
Con đang ở Khe Sanh mẹ ạ, sau khi vượt Trường Sơn sang Lào, chúng con lại ngược về Khe Sanh. Ở rừng vất vả lắm nhưng rất vui mẹ ạ. Các anh chị ở đây luôn yêu thương và đùm bọc lẫn nhau. Ngày đêm ngày, chiến tranh cứ thế dai dẳng không dứt. Con làm cứu thương, chăm sóc thương binh ở đoạn rừng này. Các anh bị thương nhiều lắm. Nhiều đêm nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ Khảm, con lại viết thư nhưng không biết những bức thư con gửi có đến được tay mẹ hay không. Nếu nó đến được tay mẹ thì hãy tin rằng, con bình yên mẹ nhé. Mùi hương cỏ mật của quê nhà luôn bên con, nghe ngọt như mùi trầu của mẹ và mùi mồ hôi của Khảm.
Khảm cố gắng học tốt cháu nhé. Lớn lên cháu sẽ là nhà văn. Cháu sẽ được đi học và không phải ra trận như cô bây giờ nữa”.
Hương cỏ mật
Cô tôi đi bộ đội, để lại nơi quê nhà nỗi ngóng trông của nội.
Tôi gấp bức thư lại rồi bỏ vào trong chiếc hộp sắt gọn gàng. Hộp thư chứa đầy những bức thư của cô tôi. Trong mỗi bức thư gửi về nhà, cô toàn kể chuyện chiến trường, chuyện bom đạn gầm rú... nhưng từ lá thư của cô lại tỏa ra thứ hương thơm của sự bình yên, của cuộc sống vĩnh cửu, của đất đai mùa màng và cả của sự hứa hẹn trở về... Điều đó khiến tôi tin là cô tôi không bao giờ hy sinh cả.
Một buổi chiều bình yên. Hôm đó, nắng quái ráng đỏ cả bờ đê và đám cỏ may cháy vàng. Tôi thả trâu ven đê và nằm dài riu riu mắt, gối đầu lên đám cỏ mật vừa tìm được. Chợt tôi nghe tiếng gọi đò thất thanh từ bên kia sông:
- Đò ơi! Đò ơi! Đò ơi!
Tôi vùng dậy bàng hoàng. Như không tin vào mắt mình nữa, bên kia sông là hai người bộ đội đang vẫy gọi đò. Một nam và một nữ. Người đàn ông đi nạng tập tễnh bước ra ngoài mép nước. Con thuyền chòng chành sang sông.
Tôi đứng trân trân mất một lúc. Búi cỏ mật trên tay trở nên vụng về. Rồi như có ai xúi, tôi chạy ngay xuống bến:
- Cô Thao.
- Khảm, Khảm ơi!
Tiếng kêu vọng lại của cô làm tôi chùng lòng. Nội tôi ốm lâu rồi, nằm mê man cứ ngóng tin cô hằng ngày. Những bức thư của tôi gói đầy cỏ mật bặt tin không trở lại. Sợ nội buồn, ngày nào tôi cũng lấy lá thư cũ, đọc đi rồi đọc lại cho nội. Giờ thì thôi không cần nữa, cô tôi đã thật sự trở về. Không phải tưởng tượng đâu xa xôi, rõ ràng hương cỏ mật đang tan nhanh trong không khí rất ngọt. Hình như nó lửng lơ từ trên tóc cô tôi tỏa ra vậy.
(Trích Hương cỏ mật, Đỗ Chu, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1962, trích theo Nguyễn Văn Tùng)
Lược trích: Lúc nhân vật "tôi" còn nhỏ, "cô tôi" thường rủ "tôi" lên bờ đê tìm cỏ mật và chỉ cho "tôi" cách ngửi hương cỏ mật - mùi hương như dâng lên từ trong lòng đất, như lắng xuống từ trên trời, một vị ngọt như có thể uống được.
Chiến tranh ác liệt nổ ra. Cô tôi xung phong đi bộ đội. Ngay lập tức cô phải vượt Trường Sơn sang Lào rồi lộn về đánh nhau ở Khe Sanh. Những bức thư cô tôi viết về ướp đầy hương cỏ mật. Bà nội tôi cầm bức thư - đã đi qua hàng trăm nơi, qua tay bao nhiêu người mới về đến đúng địa chỉ nhà tôi - khóc ngất:
- Không biết nó sống chết ra răng, chiến trường bom đạn, đã nói ở nhà lấy chồng cho tôi nhờ, cứ khăng khăng đòi ra trận.
- Thôi đi nội - tôi đón bức thư từ nội - nội đưa con đọc cho.
- Ừ, đọc đi con, đọc đi coi hắn đang ở chỗ mô con, không biết có khỏe không để mà lo chiến đấu!
- Dạ.
Tôi đón bức thư cô tôi gửi, một mùi hương cỏ mật thơm thoảng qua trong tôi. Cô tôi viết thư, chữ con gái nắn nót và có phần điệu đà:
“Gửi mẹ và Khảm!
Con đang ở Khe Sanh mẹ ạ, sau khi vượt Trường Sơn sang Lào, chúng con lại ngược về Khe Sanh. Ở rừng vất vả lắm nhưng rất vui mẹ ạ. Các anh chị ở đây luôn yêu thương và đùm bọc lẫn nhau. Ngày đêm ngày, chiến tranh cứ thế dai dẳng không dứt. Con làm cứu thương, chăm sóc thương binh ở đoạn rừng này. Các anh bị thương nhiều lắm. Nhiều đêm nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ Khảm, con lại viết thư nhưng không biết những bức thư con gửi có đến được tay mẹ hay không. Nếu nó đến được tay mẹ thì hãy tin rằng, con bình yên mẹ nhé. Mùi hương cỏ mật của quê nhà luôn bên con, nghe ngọt như mùi trầu của mẹ và mùi mồ hôi của Khảm.
Khảm cố gắng học tốt cháu nhé. Lớn lên cháu sẽ là nhà văn. Cháu sẽ được đi học và không phải ra trận như cô bây giờ nữa”.
Hương cỏ mật
Cô tôi đi bộ đội, để lại nơi quê nhà nỗi ngóng trông của nội.
Tôi gấp bức thư lại rồi bỏ vào trong chiếc hộp sắt gọn gàng. Hộp thư chứa đầy những bức thư của cô tôi. Trong mỗi bức thư gửi về nhà, cô toàn kể chuyện chiến trường, chuyện bom đạn gầm rú... nhưng từ lá thư của cô lại tỏa ra thứ hương thơm của sự bình yên, của cuộc sống vĩnh cửu, của đất đai mùa màng và cả của sự hứa hẹn trở về... Điều đó khiến tôi tin là cô tôi không bao giờ hy sinh cả.
Một buổi chiều bình yên. Hôm đó, nắng quái ráng đỏ cả bờ đê và đám cỏ may cháy vàng. Tôi thả trâu ven đê và nằm dài riu riu mắt, gối đầu lên đám cỏ mật vừa tìm được. Chợt tôi nghe tiếng gọi đò thất thanh từ bên kia sông:
- Đò ơi! Đò ơi! Đò ơi!
Tôi vùng dậy bàng hoàng. Như không tin vào mắt mình nữa, bên kia sông là hai người bộ đội đang vẫy gọi đò. Một nam và một nữ. Người đàn ông đi nạng tập tễnh bước ra ngoài mép nước. Con thuyền chòng chành sang sông.
Tôi đứng trân trân mất một lúc. Búi cỏ mật trên tay trở nên vụng về. Rồi như có ai xúi, tôi chạy ngay xuống bến:
- Cô Thao.
- Khảm, Khảm ơi!
Tiếng kêu vọng lại của cô làm tôi chùng lòng. Nội tôi ốm lâu rồi, nằm mê man cứ ngóng tin cô hằng ngày. Những bức thư của tôi gói đầy cỏ mật bặt tin không trở lại. Sợ nội buồn, ngày nào tôi cũng lấy lá thư cũ, đọc đi rồi đọc lại cho nội. Giờ thì thôi không cần nữa, cô tôi đã thật sự trở về. Không phải tưởng tượng đâu xa xôi, rõ ràng hương cỏ mật đang tan nhanh trong không khí rất ngọt. Hình như nó lửng lơ từ trên tóc cô tôi tỏa ra vậy.
(Trích Hương cỏ mật, Đỗ Chu, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1962, trích theo Nguyễn Văn Tùng)
Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về chi tiết mùi hương của mật
Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh chị về chi tiết mùi hương của mật
Dàn ý:
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu: Chi tiết "mùi hương cỏ mật" trong văn bản.
- Khẳng định đây là một hình ảnh, chi tiết nghệ thuật đặc sắc, mang nhiều ý nghĩa.
2. Thân đoạn:
- Luận điểm 1: Phân tích ý nghĩa cụ thể của hương cỏ mật trong câu chuyện.
- Luận điểm 2: Bàn luận mở rộng về giá trị của chi tiết này.
3. Kết đoạn:
- Khẳng định lại ý nghĩa sâu sắc của chi tiết "mùi hương cỏ mật".
- Liên hệ bản thân: Bài học về việc trân trọng những giá trị tinh thần giản dị nhưng bền vững trong cuộc sống.
Đoạn văn mẫu 1:
Đoạn văn mẫu 2:

Viết 1 đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ phân tích nhân vật người cô.
Viết 1 đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ phân tích nhân vật người cô.
Dàn ý:
1. Mở bài:
- Giới thiệu nhân vật người cô
- Khái quát ấn tượng chung
2. Thân bài:
- Hình ảnh người cô trong ký ức tuổi thơ:
+ Gắn liền với thiên nhiên thanh bình, dịu dàng (dắt cháu đi tìm cỏ mật, dạy cháu cảm nhận hương thơm).
+ Tâm hồn lãng mạn, tinh tế, yêu cái đẹp (cảm nhận hương cỏ mật một cách sâu sắc).
- Người cô trong chiến tranh:
+ Là một nữ thanh niên xung phong, dũng cảm, giàu lý tưởng
+ Hiện thực chiến tranh khốc liệt
+ Giữ trọn tình cảm với quê hương, gia đình
- Sự trở về trong niềm hạnh phúc:
+ Khoảnh khắc đoàn tụ đầy xúc động, khẳng định sự sống bất diệt và chiến thắng của tình yêu thương.
+ Hình ảnh "hương cỏ mật" từ tóc cô tỏa ra: biểu tượng cho sự thanh bình, hòa hợp với quê hương và sự trở về trọn vẹn.
3. Kết bài:
- Khẳng định vẻ đẹp của người cô
- Ý nghĩa nhân văn
Đoạn văn mẫu 1:
Trong đoạn trích “Hương cỏ mật”, nhân vật người cô hiện lên như một biểu tượng đẹp đẽ của thế hệ thanh niên Việt Nam thời chiến. Trong ký ức tuổi thơ của nhân vật “tôi”, cô là người dịu dàng, gieo vào lòng cháu tình yêu thiên nhiên qua hương cỏ mật ngọt ngào. Khi chiến tranh bùng nổ, người con gái ấy đã dũng cảm xung phong ra trận, bất chấp lời can ngăn. Nơi chiến trường khốc liệt Khe Sanh, cô làm nhiệm vụ cứu thương đầy gian khổ. Thế nhưng, những bức thư cô gửi về chẳng hề nhuốm màu bi lụy. Ngược lại, chúng “ướp đầy hương cỏ mật” – thứ hương thơm của sự bình yên, của niềm tin và hy vọng. Cô kể chuyện chiến trường nhưng vẫn giữ nguyên nét điệu đà, lạc quan, dặn dò cháu trai hãy học hành để có một tương lai tươi sáng hơn. Sự trở về của cô ở cuối đoạn trích như một phép nhiệm màu, khẳng định sức sống bất diệt và sự chiến thắng của tình yêu thương, lý tưởng. Qua nhân vật này, tác giả đã ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn người Việt: kiên cường nơi chiến trận nhưng vẫn giữ trọn vẹn sự lãng mạn, tinh tế và tình yêu gia đình, quê hương tha thiết.
Đoạn văn mẫu 2:
Người cô trong “Hương cỏ mật” hiện lên như một đóa hoa thầm lặng giữa rừng đạn bom, mang trong mình vẻ đẹp của sự kiên cường và tình yêu tha thiết với quê hương. Xuất thân từ một người con gái dịu dàng, gắn bó với hương cỏ mật thanh bình nơi quê nhà, cô đã dũng cảm xung phong ra chiến trường, bước vào cuộc chiến đầy khắc nghiệt. Trong cái khốc liệt của Khe Sanh, giữa những mất mát và hi sinh, cô vẫn giữ trọn tâm hồn lạc quan và tình yêu sâu đậm với gia đình. Những bức thư cô gửi về không chỉ là lời kể về hiện thực chiến tranh, mà còn là sự truyền tải hơi ấm của niềm tin và hy vọng. Hương cỏ mật trong thư trở thành biểu tượng của sự sống, của ký ức đẹp đẽ và khát vọng trở về. Ở cô, ta thấy sự hòa quyện giữa bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ và trái tim đa cảm của một người con, người cô. Sự trở về của cô ở cuối đoạn trích không chỉ là sự trở về của một người lính sau chiến tranh, mà còn là sự trở về của tình yêu, của ký ức và của những giá trị vĩnh hằng. Cô chính là hiện thân của một thế hệ thanh niên Việt Nam: sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc nhưng không bao giờ đánh mất đi vẻ đẹp tâm hồn và niềm tin vào cuộc sống.

Các bài tập cùng chuyên đề
Đọc văn bản sau và thực hiện các câu hỏi:
CHIẾC ÁO CỦA CHA
Ngô Bá Hòa
Tuổi chiếc áo bằng một nửa tuổi Cha
mỗi nếp gấp mang dáng hình đồng đội
mỗi mảnh vá chứa bao điều muốn nói
về một thời trận mạc của Cha
Ngày con sinh ra
đất nước hoà bình
với bạn bè con hay xấu hổ
khi thấy Cha mặc chiếc áo xanh cũ kĩ
đâu biết với Cha là kỉ vật cuộc đời
Nơi nghĩa trang nghi ngút khói hương
trước hàng hàng ngôi mộ
cha đắp áo sẻ chia hơi ấm
với đồng đội xưa yên nghỉ nơi này
Khoé mắt con chợt cay
khi chứng kiến nghĩa tình người lính
không khoảng cách nào giữa người còn người mất
chiếc áo bạc màu hoá gạch nối âm dương.
Lập bảng tổng hợp về những loại văn học đã được học trong SGK Ngữ văn 12, tập 1. Kể tên các tác phẩm cụ thể thuộc từng loại, thể loại đó
Nêu khái quát những kiến thức mới về loại văn bản, thể loại văn học được trình bày ở phần Tri thức Ngữ văn của từng bài học.
Lập bảng đối sánh phong cách cổ điển, phong cách hiện thực và phong cách lãng mạn trong sáng tác văn học. Nêu tên một số tác phẩm cụ thể thuộc từng phong cách đó
Nêu các nội dung thực hành tiếng Việt đã thực hiện trong học kì I và làm rõ tác dụng của các nội dung thực hành ấy đối với việc đọc hiểu văn bản ở từng bài học.
Xác định những yêu cầu chung và yêu cầu riêng của các kiểu bài viết được thực hiện ở Bài 1, Bài 2, và Bài 4 bằng một sơ động phù hợp.
Chỉ ra những yêu cầu mới của việc viết một báo cáo nghiên cứu ở lớp 10 và lớp 11
Nêu những nội dung của hoạt động nói và nghe được thực hiện trong học kì I
Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ vào loại thơ tượng trưng được không? Vì sao?
Theo hiểu biết của bạn, hình ảnh “bình đựng lệ” có thể gợi nhớ đến những câu chuyện cổ nào?
“Bình đựng lệ” là biểu tượng của cái gì? Căn cứ vào đâu để xác định những hàm nghĩa của biểu tượng này?
Tìm những câu thơ thể hiện nhận thức của tác giả về sự tồn tại vĩnh cửu của “bình đựng lệ”. Tác giả phát biểu nhận thức này dựa trên những trải nghiệm cá nhân nào?
Thủ pháp đối lập đã được tác giả vận dụng như thế nào và đạt hiệu quả nghệ thuật gì?
Nêu nhận xét về màu sắc nghị luận của bài thơ thông qua một số dấu hiệu hình thức mang tính đặc trưng.
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm của bạn đối với nỗi niềm và nhận thức của tác giả được bộc lộ qua bài thơ.
Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện cùng sáng tác về một đề tài hoặc cùng nói về một loại nhân vật.
Nội dung 1: Thuyết trình về một tác phẩm truyện có cách tiếp cận và thể hiện mới mẻ đối với đời sống, khát vọng của tuổi 20.
Liệt kê và chia nhóm các văn bản đọc có trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai theo loại văn bản và thể loại văn học. Nêu tên những văn bản thuộc một thể loại văn học chưa được học trước đó ( nếu có)
Phân tích mối quan hệ mật thiết giữa Yêu cầu cần đạt và phần Tri thức Ngữ văn ở mỗi bài học trong SGK Ngữ văn 12, tập 2. Nêu tác dụng thiết thực của việc nắm bắt các khái niệm then chốt được giới thuyết ở phần Tri thức Ngữ văn đối với việc đọc hiểu các văn bản trong từng bài học.
Các văn bản đọc trong Bài 6 ( Hồ Chí Minh-“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”) thuộc những văn bản và thể loại nào? Nêu lí do dẫn đến sự đa dạng về thể loại, thể loại của các văn bản được chọn học ở đây, xét từ góc độ người sáng tác và từ đặc trưng của bài học về tác gia.
Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai đã hướng dẫn thực hành tiếng Việt theo những nội dung gì? Nêu ý nghĩa của việc thực hành những nội dung đó đối với việc khám phá nét đặc sắc về mặt ngôn ngữ của các văn bản đọc.
a.Vẽ lại sơ đồ trên giấy khổ lớn ( có thể theo một hình thức khác, những vẫn đảm bảo được các thông tin chính)
b.Ghi tên một số tác phẩm văn học dân gian Việt Nam tiêu biểu ( đã học theo sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 12) vào các ô phù hợp trong sơ đồ
c.Ghi tên một số tác phẩm văn học viết Việt Nam tiêu biểu ( đã học theo sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 12) vào các ô. Lưu ý ghi kèm tên tác giả, thể loại; đối với văn học trung đại Việt Nam, cần để rõ tác phẩm thuộc loại hình sáng tác chữ Hán hay chữ Nôm
d.Nêu nhận xét khái quát về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam dựa trên những thông tin đã được điền bổ sung trong sơ đồ vẽ lại.
Liệt kê những kiểu bài viết đã được luyện tập trong học kì II. Theo bạn, kiểu bài viết nào trong số đó có khả năng ứng dụng cao hơn cả? Vì sao?
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập hai, sự phong phú của hoạt động nói và nghe đã được thể hiện như thế nào? Phân tích một ví dụ cho thấy hoạt động nói và nghe ở lớp cuối cấp có những đòi hỏi cao hơn về mặt kiến thức và kĩ năng so với hoạt động đó ở các lớp dưới
Xác định ý nghĩa ẩn dụ trong hình ảnh “lửa bên trong” và vấn đề chính được tác giả đề cập trong văn bản
Khi viết bài Lửa bên trong, tác giả hướng tới đối tượng độc giả nào trước hết? Căn cứ cho phép khẳng định điều đó là gì?
Tóm tắt những luận điểm chính của văn bản. Khái niệm “cuộc đời lớn” có mối liên quan như thế nào tới cảm hứng viết và lập luận của tác giả?
Theo tác giả, đối với đời sống của mỗi con người, “lửa bên trong” có ý nghĩa gì?
Tìm trong văn bản những từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí, hoạt động của con người ứng với hai tình trạng: có “lửa bên trong” và không có “lửa bên trong” (lập bảng liệt kê và đối sánh)
Chỉ ra một số biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong văn bản. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà bạn tâm đắc nhất.



Danh sách bình luận