Soạn bài Làng SGK Ngữ văn 9 tập 1 Cánh diều>
Chú ý các chi tiết khắc họa nhân vật ông lão trong truyện
Video hướng dẫn giải
Nội dung chính
| Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư đã được thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai trong truyện Làng. |
Đọc hiểu 1
Trả lời Câu hỏi 1 Đọc hiểu trang 79 SGK Văn 9 Cánh diều
Chú ý các chi tiết khắc họa nhân vật ông lão trong truyện
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, tập trung vào nhân vật ông lão
Lời giải chi tiết:
Cách 1
- ông lão náo nức bước ra khỏi phòng thông tin
- ông ngồi vào 1 cái quán gần đấy, hút thuốc lào, uống chè tươi
- chóp chép cái miệng ngẫm nghĩ, bao nhiêu ý nghĩ vui thích
Các chi tiết khắc hoạ nhân vật ông lão trong truyện:
- Ông lão náo nức bước ra khỏi phòng thông tin…
- Ông lão chóp chép cái miệng ngẫm nghĩ, bao nhiêu ý nghĩ vui thích chen chúc trong đầu…
Các chi tiết:
- Ông lão náo nức bước ra khỏi phòng thông tin…
- Ông lão chóp chép cái miệng ngẫm nghĩ, bao nhiêu ý nghĩ vui thích chen chúc trong đầu…
- Ông lão ngồi vào một cái quán gần đấy, hút thuốc lào, uống chè tươi.
- …
Đọc hiểu 2
Trả lời Câu hỏi 2 Đọc hiểu trang 80 SGK Văn 9 Cánh diều
Thông tin nào mà ông lão nghe được đã tác động mạnh đến ông?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn “Các ông, các bà… về nào…”
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Thông tin cả làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây đã tác động mạnh đến ông lão. Cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, lặng đi, tưởng đến không thở được, giọng lạc hẳn đi.
- Thông tin ông lão nghe được tác động mạnh đến ông đó là thông tin làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây.
- Thông tin đó làm “cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân… không thể không tin”
- Thông tin: cả làng Chợ Dầu là Việt gian theo Tây
- Tác động: lặng đi, tưởng như không thở được
Đọc hiểu 3
Trả lời Câu hỏi 3 Đọc hiểu trang 80 SGK Văn 9 Cánh diều
Đây là lời đối thoại hay độc thoại?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, áp dụng phần kiến thức ngữ văn
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Đây là lời độc thoại vì không có lời đáp lại
“Hà, nắng gớm, về nào…” là lời ông Hai nói với chính mình (độc thoại).
Lời độc thoại
Đọc hiểu 4
Trả lời Câu hỏi 4 Đọc hiểu trang 80 SGK Văn 9 Cánh diều
Điều gì diễn ra trong tâm trạng của ông Hai?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản phần 2
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Tâm trạng: đau đớn, tủi nhục, thương lũ con còn bé không biết gì, tức giận, nghi ngờ rồi lại đau khổ, chết lặng
Nhìn đàn con chơi sậm chơi sụi ngoài sân: Ông nghĩ đến sự hắt hủi, khinh bỉ của mọi người dành cho những đứa trẻ của làng Việt gian. Ông nguyền rủa họ đã phản bội, đầu hàng, bán nước.
Điều diễn ra trong tâm trạng của ông Hai: tủi nhục, tức giận
Đọc hiểu 5
Trả lời Câu hỏi 5 Đọc hiểu trang 81 SGK Văn 9 Cánh diều
Đây là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, áp dụng phần kiến thức ngữ văn
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Đây là lời dẫn gián tiếp vì không nằm trong dấu ngoặc kép
Đây là lời dẫn gián tiếp vì là thuật lại lời của chánh Bệu nhưng có sự điều chỉnh theo thời nói của ông Hai.
Lời dẫn gián tiếp
Đọc hiểu 6
Trả lời Câu hỏi 6 Đọc hiểu trang 82 SGK Văn 9 Cánh diều
Chú ý các chi tiết thể hiện tâm trạng của nhân vật ông Hai
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, liệt kê chi tiết
Lời giải chi tiết:
Cách 1
- ông trằn trọc không ngủ được
- hết trở mình bên này lại trở mình bên kia, thở dài
- lặng hẳn đi, chân tay nhũn ra khi nghe tiếng mụ chủ nhà
- trống ngực đập thình thịch, nín thở, lắng tai nghe
=> sự lo lắng, sợ hãi
Khi nói chuyện với bà Hai: Thái đội của ông Hai vừa bực bội, vừa đau đớn, cố kìm nén, ông gắt bà vô cớ, trằn trọc thở dài, lo lắng đến mức chân tay bủn rủn, nín thở, lắng nghe, không nhúc nhích...
Các chi tiết: trằn trọc không ngủ, hết trở mình bên này lại trở mình bên kia, thở dài…
Đọc hiểu 7
Trả lời Câu hỏi 7 Đọc hiểu trang 82 SGK Văn 9 Cánh diều
Điều gì khiến ông Hai sợ nhất?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn “Nhưng còn… mụ thích”.
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Điều khiến ông sợ nhất là mụ chủ nhà và những điều ngấm ngầm làm vợ chồng ông phải khổ
Điều gì khiến ông Hai sợ nhất là mụ chủ nhà. Ông Hai cho rằng mụ ta lấy điều làm cho vợ chồng ông khổ ngầm là mụ thích.
Điều khiến ông Hai sợ nhất: mụ chủ nhà lấy điều làm cho vợ chồng ông khốn khổ là thích.
Đọc hiểu 8
Trả lời Câu hỏi 8 Đọc hiểu trang 83 SGK Văn 9 Cánh diều
Hình dung tâm trạng của ông Hai khi nghe những lời nói của bà chủ nhà
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, tưởng tượng tâm trạng nhân vật theo mạch truyện
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Tâm trạng lúc đó của ông Hai: bàng hoàng, đau đớn, nhục nhã, lo sợ tương lai không biết đi đâu, ở đâu, làm gì
Tâm trạng ông Hai khi nghe những lời nói của bà chủ nhà: ông Hai thực sự rơi vào bế tắc. Chính trong lúc đau đớn tuyệt vọng ấy đã đẩy ông vào tình thế là phải lựa chọn: làng Chợ Dầu hay Tổ quốc? Ông đã thoáng nghĩ đến việc “Hay là quay về làng?” để gia đình ông có chỗ dung thân. Thuở trước, làng Chợ Dầu của ông đáng yêu, đáng tự hào lắm. Nhưng giờ đây chỉ nghĩ đến nó là lòng ông đắng ngắt, đau nhói từng hồi.
Hình dung: bàng hoàng, đau đớn, xót xa, tủi nhục
Đọc hiểu 9
Trả lời Câu hỏi 9 Đọc hiểu trang 86 SGK Văn 9 Cánh diều
Hãy dự đoán ông Hai sẽ trả lời như thế nào trước câu hỏi này
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, dự đoán dựa theo cốt truyện
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Ông sẽ không quay trở về vì ông là một người nông dân yêu nước, dù yêu làng nhưng ông đã thấm thía cái cảnh sống nô lệ.
Mới hôm nào về làng là khao khát, là mong ước cháy bỏng của ông thế mà bây giờ ông thấy rợn cả người và phải dập tắt ngay cái ý nghĩ đen tối đó. Bởi làng giờ đã nối gót theo Tây, “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ”, là cam chịu trở về với kiếp sống lầm than, kiếp sống của những kẻ nô lệ.
Dự đoán: Ông từ chối quay về làng
Đọc hiểu 10
Trả lời Câu hỏi 10 Đọc hiểu trang 85 SGK Văn 9 Cánh diều
Ông Hai khoe điều gì? Điều ông khoe có gì khác thường không?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Ông Hai khoe nhà mình bị đốt nhẵn
Điều ông khoe là khác thường vì thông thường, chẳng ai nói về việc nhà mình bị đốt nhẵn với giọng điệu vui mừng, đắc chí như vậy cả
Chi tiết kể về ông Hai cứ múa tay lên mà khoe nhà ông bị đốt nhẵn… Mới đọc chi tiết này, ta thấy dường như vô lý bởi ngôi nhà là cả một tài sản quá lớn. Hơn thế nó còn gắn với bao kỷ niệm vui buồn rất thiêng liêng của mỗi con người. Mất nó ai mà không xót xa đau đớn? Nhưng ông Hai lại có cử chỉ “Múa tay lên để khoe" đó là biểu hiện của tâm trạng sung sướng, sung sướng đến tột độ. Tâm trạng này dường như có vẻ không bình thường? Không! Đặt ông Hai trong hoàn cảnh của "Làng", làng Dầu đang bị tai tiếng Việt gian theo Tây thì ông Hai vui sướng sao được vì nhà bị tây đốt là bằng chứng hùng hồn rằng làng Dầu của ông vẫn theo kháng chiến, theo cách mạng, đó là một làng quê anh hùng, đứng dậy chống thực dân Pháp.
Ông Hai khoe nhà bị đốt cháy, ông chủ tịch làng đính chính làng Chợ Dầu không theo giặc.
Đọc hiểu 11
Trả lời Câu hỏi 11 Đọc hiểu trang 85 SGK Văn 9 Cánh diều
Vì sao bà chủ nhà thay đổi thái độ với gia đình ông Hai?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần cuối văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Vì làng Chợ Dầu không phải làng Việt gian, vẫn là làng kháng chiến
Mụ chủ không hề “nói tức nói xóc” mà trái lại, mụ lại tỏ vẻ rất vui sướng. Mụ chủ nhà đã hòa chung niềm vui với gia đình ông lão, với người làng Chợ Dầu, hòa chung niềm vui với những người dân kháng chiến vừa rửa được tiếng oan là Việt gian. Sự thay đổi thái độ của nhân vật mụ chủ nhà làm hiện rõ nét đáng quý còn ẩn giấu: yêu nước và căm thù lũ cướp nước, bán nước.
Làng Chợ Dầu không phải là làng Việt gian.
CH cuối bài 1
Trả lời Câu hỏi 1 CH cuối bài trang 86 SGK Văn 9 Cánh diều
Nêu cốt truyện và xác định nhân vật chính của truyện.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, tóm tắt cốt truyện, xác định nhân vật
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Nhân vật chính: ông Hai
Tóm tắt:
Ông Hai là một người con của làng Chợ Dầu vì hoàn cảnh mà buộc phải sống xa làng, dù vậy ông vẫn luôn nhớ về quê hương nơi mình sinh ra lớn lên. Một hôm khi trở về làng ông nghe tin làng theo Tây, tin dữ đến một cách quá bất ngờ khiến ông thất vọng, hụt hẫng và không tin vào sự thật đó. Ông trở về nhà buồn bã, thất vọng, không dám đi đâu nhiều ngày liền. Sau đó có người trong làng chạy đến báo tin làng không theo Tây mà mọi người vẫn chiến đấu theo cách mạng ông mới vui vẻ trở lại, thì ra đó là tin đồn thất thiệt. Ông Hai khoe với mọi người làng đã bị Tây đốt, ngay cả ngôi nhà của mình cũng vậy, dù mất đi tài sản nhưng ông vẫn cảm thấy vui vì cả làng ông vẫn yêu nước, yêu cách mạng.
- Tóm tắt truyện ngắn Làng.
Câu chuyện kể về nhân vật ông Hai - một người nông dân có tinh thần yêu nước mãnh liệt. Vì chiến tranh, ông phải cùng gia đình rời xa làng chợ Dầu yêu dấu để đến nơi khác sinh sống. Tuy xa quê, nhưng lúc nào ông cũng một lòng nhớ về quê hương mình và tự hào về truyề thống yêu nước của làng. Ông thường khoe với mọi người về ngôi làng anh hùng của mình. Tuy nhiên, một ngày nọ ông lại nghe được tin làng mình bỏ theo giặc. Xấu hổ, bàng hoàng, đau khổ, ông thu mình về nhà, lẩn trốn không dám ra ngoài. Ông chỉ biết tâm sự với những đứa con của mình để giãi bày nỗi lòng. Ông Hai sau những giằng xé nội tâm, đã quyết định rằng làng mà theo Tây thì phải thù. Bởi lòng yêu nước còn lớn hơn tình yêu làng. May mắn thay, sự kiện làng ông Hai theo giặc chỉ là một kế hoạch dụ giặc để tiêu diệt mà thôi. Biết tin, ông Hai vui sướng vô cùng, ông lại càng thêm yêu và tự hào về làng mình. Lại phấn khởi đi khoe với mọi người về ngôi làng anh hùng của mình.
- Nhân vật chính của truyện: ông Hai.
- Cốt truyện: Ông Hai là một người nông dân rất yêu và tự hào về làng chợ Dầu của mình. Vì chiến tranh, gia đình ông phải đi tản cư. Một hôm ông nghe tin làng chợ Dầu theo Tây. Tin dữ bất ngờ khiến ông không thể tin, rồi sau đó là bàng hoàng và xót xa. Về nhà, ông nằm vật ra, ai nói gì cũng tưởng họ bàn tán về làng mình. Ông không biết nên về làng hay đi đến nơi khác. Sau khi trò chuyện với thằng con trai út, ông Hai quyết định: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Đến khi chủ tịch xã lên cải chính làng Dầu không theo giặc, ông vô cùng sung sướng đi khoe với tất cả mọi người.
- Nhân vật chính: ông Hai
CH cuối bài 2
Trả lời Câu hỏi 2 CH cuối bài trang 86 SGK Văn 9 Cánh diều
Hãy nêu tình huống truyện và chỉ ra tác dụng của tình huống trong việc khắc hoạ nhân vật và chủ để của tác phẩm.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, khái quát chủ đề
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Tình huống truyện ngắn Làng của Kim Lân:
Ông Hai là một người nông dân yêu làng, dù phải đi tản cư xa làng nhưng ông vẫn luôn yêu làng. Tuy nhiên, bỗng nhiên 1 ngày, ông nghe được 1 nguồn tin khá chắc chắn là làng ông theo Tây, phản Cách Mạng. Đây là 1 tình huống truyện rất đặc sắc, bất ngờ, gay cấn. Tình huống truyện này đã đặt ông vào 1 tình huống giằng xé, đấu tranh dữ dội giữa tình cảm cá nhân và trách nhiệm công dân, giữa tình yêu quê hương và lòng yêu đất nước.
Ý nghĩa tình huống:
Giúp nhân vật ông Hai bộc lộ được tình yêu làng cũng như tinh thần trung thành với cách mạng của ông. Tâm trạng của ông đã thay đổi hoàn toàn từ khi nhận được tin làng theo Tây cho đến khi được tin làng cải chính. Qua đây,nhà văn Kim Lân muốn khẳng định vẻ đẹp của tinh thần yêu nước, yêu làng của những người nông dân Việt Nam.
Cách 1
- Tình huống truyện ngắn Làng của Kim Lân: Ông Hai là một người nông dân yêu làng, dù phải đi tản cư xa làng nhưng ông vẫn luôn nghe ngóng những tin tức, chiến công chống Tây của làng Chợ Dầu mà lòng tự hào ngập tràn. Tuy nhiên, bỗng nhiên 1 ngày, ông nghe được 1 nguồn tin khá chắc chắn là làng ông theo Tây, phản Cách Mạng. Đây là một tình huống truyện rất đặc sắc, bất ngờ, gay cấn. Ông là 1 người tin và yêu làng Cách mạng của mình nhưng lại nghe được tin sét đánh ngang tai là làng ông lập tề theo giặc. Hơn nữa, tin đó lại được từ chính những người đi từ phía làng chợ Dầu nói ra. Tình huống truyện này đã đặt ông vào 1 tình huống giằng xé, đấu tranh dữ dỗi giữa tình cảm cá nhân và trách nhiệm công dân, giữa tình yêu quê hương và lòng yêu đất nước.
- Ý nghĩa tình huống: Giúp nhân vật ông Hai bộc lộ được tình yêu làng cũng như tinh thần trung thành với cách mạng của ông. Tâm trạng của ông đã thay đổi hoàn toàn từ khi nhận được tin làng theo Tây cho đến khi được tin làng cải chính. Qua đây, nhà văn Kim Lân muốn khẳng định vẻ đẹp của tinh thần yêu nước, yêu làng của những người nông dân Việt Nam.
- Tình huống truyện: Ông Hai nghe tin làng chợ Dầu - cái làng mà ông hết mực yêu quý và tự hào lại theo giặc.
- Tác dụng: tình huống truyện góp phần làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai
CH cuối bài 3
Trả lời Câu hỏi 3 CH cuối bài trang 86 SGK Văn 9 Cánh diều
Tìm các chi tiết thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong truyện. Qua đó, hãy nêu nhận xét của em về nhân vật ông Hai và nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Kim Lân.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, liệt kê các chi tiết
Lời giải chi tiết:
Cách 1
- Khi đang vui mừng tin thắng trận ở khắp nơi thì ông Hai nghe tin dữ: làng chợ Dầu theo giặc làm Việt gian, ông bất ngờ, choáng váng
- Về tới nhà ông tủi hổ, lo lắng khi thấy đàn con. Niềm tin, sự ngờ vực giằng xé mạnh trong tâm trạng ông Hai.
- Nghe thấy tiếng chửi bọn Việt gian “ông cúi gằm mặt xuống mà đi”, nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài
- Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, thấy đám đông tụ tập nhắc tới hai chữ Cam nhông, Việt gian ông lại chột dạ.
- Tình yêu làng quê và tình yêu làng trong ông có cuộc xung đột lớn, gay gắt. Ông Hai dứt khoát chọn theo cách mạng “Làng yêu thì yêu thật, nhưng làng theo giặc thì phải thù”.
- Ông Hai chỉ biết tâm sự nỗi lòng mình với đứa con chưa hiểu sự đời. Lời nói của ông với con thực chất là lời nói để ông tỏ lòng mình: nỗi nhớ, tình yêu làng, sự thủy chung với kháng chiến, cách mạng.
- Khi nghe tin cải chính, ông Hai như sống lại, mọi nỗi xót xa, tủi hờn, đau đớn tan biến, thay vào đó là niềm hân hoan, hạnh phúc hiện lên trên khuôn mặt, cử chỉ, điệu cười của ông (dẫn chứng trong văn bản).
Nhận xét:
- Ông Hai là đại diện cho người nông dân yêu làng, yêu nước trong buổi đầu cách mạng
- Đặt tâm trạng nhân vật vào tình huống thử thách để khai thác chiều sâu tâm trạng.
- Thể hiện tâm trạng nhân vật tài tình, cụ thể qua non ngữ đối thoại, độc thoại, và độc thoại nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, cử chỉ.
* Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện:
- Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc:
+ "vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác", "cổ ông lão nghẹn ắng lại. Da mặt tê rân rân", "tưởng như đến không thở được", "cúi gằm mặt mà đi”, "tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra". => Cảm xúc hoang mang, bàng hoàng cùng tâm trạng xót xa, tủi nhục của ông Hai.
+ Thương xót bản thân và những đứa con thơ: "Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?".
+ Ông Hai xấu hổ không dám đi đâu, chỉ biết ngồi thủ thỉ với đứa con nhỏ để làm rõ tấm lòng mình.
+ Sự quyết tâm trung thành với cách mạng: "Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù".
- Khi tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính:
+ Tin tức đến như một sự hồi sinh đối với ông Hai:
Vui vẻ mua quà bánh cho các con.
Chạy khắp nơi khoe: "Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đối nhẵn".
+ Thể hiện sự tự hào về làng bằng cách ngồi miêu tả quá trình chống giặc của dân làng như chính mình đã tham gia.
* Nhận xét về nhân vật ông Hai:
- Ông Hai là đại diện của tầng lớp nhân dân nghèo với tinh thần yêu quê hương đất nước sâu sắc.
- Tình yêu làng được hòa chung với lòng yêu nước.
- Hình ảnh được xây dựng giản dị, tình huống truyện độc đáo, thu hút.
* Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Kim Lân: Tác giả miêu tả tâm lý nhân vật qua hành động, ngôn ngữ độc thoại, đối thoại, rất hợp lý. Từ chỗ đau đớn rụng rời đến chỗ bế tắc tuyệt vọng và cuối cùng là sung sướng, hả hê, giải tỏa tâm lý bằng cái tin cải chính.
* Các chi tiết thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong truyện:
- Lúc mới nghe tin làng chợ Dầu theo giặc:
- Ông Hai cảm thấy sững sờ, ngỡ ngàng: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”.
- Ông tỏ ra nghi ngờ: “Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi: Liệu có thật không hở bác?...”.
- Xấu hổ, đau đớn: Những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin. Từ đấy, trong tâm trí của ông chỉ nghĩ về cái tin dữ ấy. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt mà đi”.
- Khi về đến nhà:
- Đau đớn, thất vọng: “Ông Hai nằm vật ra giường…”; Bao nhiêu niềm tự hào về làng đều sụp đổ.
- Dằn vặt: Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”. Ông nắm chặt tay, rít lên: “Chúng bay … mà nhục nhã thế này?”.
- Những ngày sau đó:
- Lo lắng sợ hãi: Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông chỉ quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa,ông cũng chột dạ.
- Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Thoáng nghe những tiếng “Tây, Việt gian, cam - nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”.
- Bế tắc, hoang mang: Khi nghĩ đến tương lai, ông rơi vào bế tắc, không biết phải đi đâu về đâu “Về làng thì không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi. Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội”. Ông Hai đã trò chuyện với đứa con trai út, để rồi đưa ra quyết định: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
- Sung sướng, hạnh phúc: Khi nghe tin cải chính làng không theo giặc, “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”; “Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy”… Về đến nhà thì chia quà cho lũ con rồi sang nhà bác Thứ để đính chính lại cái tin làng chợ Dầu theo giặc. Ông “bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”
* Ông Hai là một người có lòng tự trọng, giàu tình yêu quê hương, đất nước.
* Diễn biến tâm trạng được khắc họa vô cùng chân thực, sinh động.
CH cuối bài 4
Trả lời Câu hỏi 4 CH cuối bài trang 86 SGK Văn 9 Cánh diều
Hãy nêu và làm rõ nhận xét của em về ngôn ngữ của các nhân vật trong truyện.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, nhận xét về ngôn ngữ truyện
Lời giải chi tiết:
Ngôn ngữ đậm chất khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân, và thế giới tinh thần của người nông dân vì đối tượng là người nông dân; hơn nữa ngôn ngữ độc thoại nội tâm cũng được sử dụng rất đắt giá
Cách 1
Ngôn ngữ của truyện rất đặc sắc, nhất là ngôn ngữ nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ mang đậm chất khẩu ngữ và là lời ăn tiếng nói của người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu do truyện được trần thuật chủ yếu theo điểm nhìn của ông Hai, dù vẫn dùng cách trần thuật ở ngôi thứ ba. Ngôn ngữ nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, với cách dùng từ, đặt câu hết sức dễ hiểu, mộc mạc lại mang đậm cá tính của nhân vật, rất sinh động.
- Sử dụng nhiều khẩu ngữ
- Ngôn ngữ mang sắc thái thân mật, mộc mạc
CH cuối bài 5
Trả lời Câu hỏi 5 CH cuối bài trang 86 SGK Văn 9 Cánh diều
Theo em, tại sao nhà văn đặt tên cho tác phẩm là Làng mà không phải là Làng Chợ Dầu?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, liên hệ các tác phẩm khác
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Đặt là "Làng Chợ Dầu" sẽ thiếu tính khái quát, chỉ đến một làng quê cụ thể. Do đó, tình yêu làng được thể hiện cũng chỉ bó hẹp trong phạm vi cá nhân ở một làng quê, một địa phương cụ thể mà thôi. Nhan đề "Làng" có tính khái quát cao. Làng là danh từ chung chỉ mọi làng quê trên đất nước ta. Vì vậy, đặt tên truyện là "Làng", Kim Lân muốn tác phẩm của mình không chỉ thể hiện tình yêu làng yêu nước của một nhân vật ông Hai, mà sâu rộng hơn, tác giả còn muốn nói đến một tình cảm bao trùm, phổ biến – đó là tình yêu làng quê, yêu đất nước - trong mọi người dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Nhan đề của truyện là “Làng” không phải là “Làng Chợ Dầu” vì nếu là “Làng Chợ Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp, cụ thể ở một làng. Dụng ý của tác giả muốn nói tới một vấn đề mang tính phổ biến ở khắp các làng quê, có trong mọi người nông dân. Bởi thế “Làng” là nhan đề hợp lý với dụng ý của tác giả. Qua đó ta hiểu chủ đề của truyện: ca ngợi tình yêu làng quê tha thiết của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
Như vây, nhan đề “Làng” vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của ông Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung: tấm lòng của những người dân quê đất Việt.
- “Làng” là một từ dùng để chỉ đơn vị hành chính nhỏ nhất nước ta. Nhưng Kim Lân không đặt tên cho tác phẩm của mình là “Làng Chợ Dầu” mà lại là “Làng”, giúp nhan đề có tính khái quát hơn.
- Nhà văn không chỉ đề cập đến một cái làng cụ thể. “Làng” là hình ảnh mang tính biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến giành độc lập cho dân tộc. Đồng thời, nhà văn cũng gửi gắm tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng của những người nông dân Việt Nam lúc bấy giờ.
CH cuối bài 6
Trả lời Câu hỏi 6 CH cuối bài trang 86 SGK Văn 9 Cánh diều
Hãy tưởng tượng: Nếu nhân vật ông Hai trong tác phẩm của Kim Lân sống ở làng Chợ Dầu trong bối cảnh cuộc sống hôm nay thì em nghĩ ông sẽ chia sẻ với mọi người điều gì về làng quê của mình?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, Liên tưởng
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Ông Hai sẽ chia sẻ với mọi người về truyền thống của làng, về sự thay đổi, phát triển của làng Chợ Dầu từ những ngày kháng chiến cho đến khi đất nước đã hòa bình, độc lập như hôm nay. Và có thể, ông Hai cũng sẽ nói về những tấm gương sáng cách mạng của làng.
Nếu nhân vật ông Hai trong tác phẩm của Kim Lân sống ở làng Chợ Dầu trong bối cảnh cuộc sống hôm nay thì ông sẽ chia sẻ với mọi người sự phát triển hiện đại, sự thay đổi từng ngày của làng quê. Cơ sở hạ tầng được xây dựng khang trang, từ nhà cửa mới, có nhiều nhà cao tầng. Đường được xây dựng mới, rộng rãi, thuận tiện cho việc đi lại. Chợ quê đông vui, nhộn nhịp, với nhiều người mua và bán, lúc nào cũng nghe xe cộ náo nhiệt. Trường học đã được sửa chữa, nhiều trường mới được xây thêm, phòng học có đèn, có quạt, nhìn mới toanh và có tòa nhà cao. Ngoài ra, thêm ngân hàng, bệnh viện, công viên được xây dựng rất khang trang và tiện nghi, phục vụ tốt cho con người
Nếu nhân vật ông Hai trong tác phẩm của Kim Lân sống ở làng Chợ Dầu trong bối cảnh cuộc sống hôm nay thì em nghĩ ông sẽ chia sẻ với mọi người về làng quê của mình: sự phát triển của làng quê, những nét đẹp văn hóa truyền thống,...
LÀNG
- KIM LÂN -
1. [...] Ông lão náo nức bước ra khỏi phòng thông tin, rẽ vào quán dặn vợ mấy việc rồi đi thẳng ra lối huyện cũ. Ở đây, những tốp người tản cư mới ở dưới xuôi lên đứng ngồi lố nhố cả dưới mấy gốc đa xù xì, cành lá rườm rà ken vào nhau, rải xuống mặt đường và bãi cỏ một vùng bóng mát rộng. Ông lão ngồi vào một cái quán gần đấy. Hút một điếu thuốc lào, uống một hụm chè tươi nóng, ông chóp chép cái miệng ngẫm nghĩ; bao nhiêu ý nghĩ vui thích chen chúc trong đầu óc. Tiếng quạt, tiếng thở, tiếng trẻ con khóc, cùng với tiếng cười nói của cánh đi phá đường về râm ran một góc đường. Dưới chân đồi, những thửa ruộng lúa xanh mượt, uốn quanh co dưới trời nắng, lấp loáng như một khúc sông. Có mấy bóng cò trắng bay dật dờ ...
- Các ông, các bà ở đâu ta lên đấy ạ?
Ông Hai đặt bát nước xuống chõng hỏi. Một người đàn bà mau miệng trả lời:
- Thưa ông, chúng cháu ở Gia Lâm lên đấy ạ. Đi bốn, năm hôm mới lên đến đây, vất vả quá!
- Ở Gia Lâm lên ạ! Lúa má dưới ta thế nào, liệu có cấy được không bác?
- Chả cấy thì lấy gì mà ăn. Cấy tất ông ạ. Chân ruộng dưới chúng cháu còn tốt hơn trên này nhiều.
- Thì vưỡn! Lúa dưới ta tốt nhiều chứ.
Ông lão rít một hơi thuốc lào nữa, gật gù cái đầu: “Hừ, đánh nhau cứ đánh nhau, cày cấy cứ cày cấy, tản cư cứ tản cư ... Hay đáo để.".
- Này, bác có biết mấy hôm nay súng nó bắn ở đâu mà nghe rát thế không?
Một người đàn bà cho con bú mé bên kia nói xen vào:
- Nó rút ở Bắc Ninh về qua Chợ Dầu, nó khủng bố ông ạ.
Ông Hai quay phắt lại lắp bắp hỏi:
- Nó ... Nó vào làng Chợ Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng?
Người đàn bà ẵm con cong môi lên đỏng đảnh:
- Có giết được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì nữa!
Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hắn đi:
- Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại ...
- Thì chúng tôi vừa mới ở dưới ấy lên đây mà lại. Việt gian từ thằng chủ tịch mà đi cơ ông ạ. Tây vào làng, chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hoan hô. Thằng chánh Bệu thì khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, vải vóc lên xe cam-nhông, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh mà lại.
Có người hỏi:
- Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà?...
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy!
Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to:
- Hà, nắng gớm, về nào ...
Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên ấy vẫn dõi theo. Ông nghe rõ cái giọng chua lanh lảnh của người đàn bà cho con bú:
- Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát!
Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi. Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà.
2. Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lén đùa nhau ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.
Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu ... Ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!
Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được? Mà thằng chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi. Không có lửa làm sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước ... Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cái sự này chưa?...
Chiều hôm ấy bà Hai về cũng có vẻ khác. Bà bước từng bước uể oải, cái mặt cúi xuống bần thần. Đôi quang thúng thõng thẹo trên hai mấu đòn gánh. Bà đi thẳng vào trong nhà lúi húi xếp hàng vào một xó, rồi lắng lặng ra bậc cửa ngồi ôm má nghĩ ngợi. Trẻ con cũng không đứa nào dám vòi quà. Trong nhà có cái im lặng thật là khó chịu, không ai dám cất tiếng lên nói, cả đến nhìn nhau, họ cũng không dám nhìn nhau nữa.
Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy. Bà lắng lặng xuống bếp châm lửa ngồi tính tiền hàng. Vẫn những tiền cua, tiền bún, tiền ỗ, tiền kẹo, ... Vẫn cái giọng rì rầm, rì rầm thường ngày.
- Này, thầy nó ạ.
Ông Hai nằm rũ ra ở trên giường không nói gì.
- Thầy nó ngủ rồi à?
- Gì?
Ông lão khẽ nhúc nhích.
- Tôi thấy người ta đồn ...
Ông lão gắt lên:
- Biết rồi!
Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi, hiu hắt. Ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của bà lão. Tiếng thở của ba đứa trẻ chụm đầu vào nhau ngủ nhẹ nhàng nổi lên, nghe như tiếng thở của gian nhà.
- Thế nhưng người ta đồn trên này người ta không chứa những người Chợ Dầu nữa thầy nó ạ.
Nghe ngóng một chút, không thấy chồng trả lời, bà lão lại cúi xuống lầm bầm tính. Nét mặt bà lặng đi, chịu đựng và nhẫn nhục.
Bên gian bác Thứ đã ngủ từ lâu, chung quanh đều im lặng ... Một vài tiếng chó nhúc nhắc sủa phía xa, và có tiếng trẻ con khóc văng vắng trong tiếng gió.
Ông Hai vẫn trằn trọc không sao ngủ được. Ông hết trở mình bên này lại trở mình bên kia, thở dài. Chợt ông lão lặng hẳn đi, chân tay nhủn ra, tưởng chừng như không cất lên được ... Có tiếng nói léo xéo ở gian trên. Tiếng mụ chủ ... Mụ nói cái gì vậy? Mụ nói cái gì mà lào xào thế? Trống ngực ông lão đập thình thịch. Ông lão nín thở, lắng tai nghe ra bên ngoài ...
Bà Hai bỗng lại cất tiếng:
- Thầy nó ngủ rồi ư? Dậy tôi bảo cái này đã.
Ông Hai bật ngóc đầu dậy, giơ tay trỏ lên nhà trên, ông sít hai hàm răng lại mà nghiến:
- Im! Khổ lắm! Nó mà nghe thấy lại không ra cái gì bây giờ.
Ông lão lại ngả mình nằm xuống, không nhúc nhích.
Đã ba, bốn hôm nay, ông Hai không bước chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốt ngày ông chỉ quanh quần ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng. Nghe ngóng xem binh tình bên ngoài ra sao. Một đám đông xúm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam-nhông, ... là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!
Nhưng còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia nhiều, ấy là mụ chủ nhà. Từ ngày xảy ra chuyện ấy, hình như mụ ta lấy điều làm cho vợ chồng ông khổ ngấm khổ ngầm là mụ thích.
Sáng chiều bốn buổi đi làm đồng về, mụ kéo lê cái nạo cỏ quèn quẹt dưới đất, qua cửa, mụ nhòm vào nói những câu bóng gió xa xôi, như khía vào thịt ông lão. Thôi thì bây giờ thế nào mà chả phải chịu. Có được chỗ chui ra chui vào là may mắn rồi. Mỗi lần mụ nói, ông lão chỉ cười gượng làm như không biết chuyện gì.
Ông thì ông muốn lặng đi như thế, nhưng mụ chủ nhà có để cho ông yên đâu.
Sáng hôm nay, lúc bà Hai sắp sửa quang gánh ra hàng thì mụ chủ nhà không biết đi đâu về, mụ đứng dạng háng ở ngoài sân nói chõ vào:
- Bà lão chưa đi hàng cơ à? Muộn mấy?...
- Chưa bà ạ. Mời bà vào chơi trong này!
- Vâng, bà để mặc em ... À, bà Hai này!...
Mụ chạy sát vào bực cửa, thân mật:
- Trên này họ đồn giăng giăng ra rằng, thì là làng dưới nhà ta đi Việt gian theo Tây đấy, ông bà đã biết chưa nhỉ?... Nghe nói, bảo có lệnh đuổi hết những người làng Chợ Dầu ra khỏi vùng này không cho ở nữa.
Mụ chủ nhà chép miệng, giọng ngọt xớt:
- Em cứ khó nghĩ quá ... ông bà cũng là người làm ăn tử tế cả. Nhưng mà có lệnh biết làm thế nào. Đành nhẽ là ông bà kiếm chỗ khác vậy ... Này, ở với nhau đang vui vẻ, ông bà dọn đi, em lại cứ nhớ đáo để đấy nhớ.
Bà Hai cúi mặt xuống rân rấn nước mắt, bà nói:
- Vâng ... thôi thì dân làng đã chả cho ở nữa, chúng tôi cũng đành phải đi nơi khác chứ biết làm thế nào. Nhưng xin ông bà trên ấy nghĩ lại thư thư cho vợ chồng chúng tôi vài ba hôm nữa. Bây giờ bảo đi, vợ chồng chúng tôi cũng không biết là đi đâu ...
Mụ chủ đi rồi, bà Hai và con bé lớn nước mắt ròng ròng, lằng lặng gánh hàng ra quán. Vợ chồng cũng chẳng dám nói với nhau câu gì.
Ông Hai ngồi lặng trên một góc giường. Bao nhiêu ý nghĩ đen tối, ghê rợn nối tiếp bời bời trong đầu óc ông lão. Biết đem nhau đi đâu bây giờ? Biết đâu người ta chứa bố con ông mà đi bây giờ?...
Thật là tuyệt đường sinh sống! Mà không một gì cái đất Thắng này. Ở Đài, ở Nhã Nam, ở Bố Hạ, Cao Thượng, ... đâu đâu có người Chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Mà dẫu cho vì chính sách Cụ Hồ người ta chẳng đuổi đi nữa, thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu.
“Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây ... ", cái câu nói của người đàn bà tản cư hôm trước lại dội lên trong tâm trí ông.
Hay là quay về làng?...
Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản đối ngay. Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ.
Nước mắt ông giàn ra. Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây. [ ... ]
Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời đen tối, lầm than cũ nổi lên trong ý nghĩ ông. Ông không thể về cái làng ấy được nữa. Về bây giờ ra ông chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.
Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:
- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con ai?
- Là con thầy mấy lị con u.
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng Chợ Dầu
- Thế con có thích về làng Chợ Dầu không?
Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
- Có
Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:
- À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
- Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:
- Ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ, con nhỉ.
Mấy hôm nay ru rú ở xó nhà, những lúc buồn khổ quá chẳng biết nói cùng ai, ông lão lại thủ thỉ với con như vậy. Ông nói như để ngỏ lòng mình, như để mình lại minh oan cho mình nữa.
Anh em đồng chí biết cho bố con ông.
Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.
Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai. Mỗi lần nói ra được đôi câu như vậy, nỗi khổ trong lòng ông cũng vợi đi được đôi phần.
3. Khoảng ba giờ chiều hôm ấy, có một người đàn ông đến chơi nhà ông Hai. Hắn cũng là người làng Chợ Dầu. Hai người thì thầm ở góc nhà một lúc lâu rồi thấy ông Hai đóng khăn áo chỉnh tề tất tả theo hắn đi. Ông vội vã đến quên cả dặn trẻ coi nhà.
Ông Hai đi mãi đến sẩm tối mới về. Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hắn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy ... Vừa đến ngõ, ông lão đã lên tiếng:
- Chúng mày đâu rồi, ra thầy chia quà cho nào.
Lũ trẻ trong nhà ùa ra, ông lão rút vội cái gói bọc lá chuối khô cho con bé lớn:
- Bánh rán đường dây, chia cho em mỗi dứa một cái.
Dứt lời, ông lão lại lật dật đi thẳng sang bên gian bác Thứ.
Chưa đến bực cửa, ông lão đã bô bô:
- Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi, bác ạ. Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính, ông ấy cho biết ... cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo!
Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả.
Bác Thứ chưa nghe thủng câu chuyện ra sao, ông lão đã lại lật đật bỏ lên nhà trên.
- Tây nó đốt nhà tôi rồi, ông chủ ạ. Đốt nhẫn. Ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính ... cải chính cái tin làng Chợ Dầu chúng em Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục địch cả!
Cũng chỉ được bằng ấy câu, ông lão lại lật đật bỏ đi nơi khác. Còn phải kể cho người khác biết chứ. Ông lão cứ múa tay lên mà khoe cái tin ấy với mọi người. Ai cũng mừng cho ông lão.
Đến ngay cả mụ chủ nhà là người ông lão yên trí nghe xong tin này thế nào mặt mụ cũng sa sầm xuống mà nói tức nói xóc, thì trái lại, mụ lại tỏ vẻ rất vui sướng. Mụ giương tròn cả hai mắt lên mà reo:
- A, thế chứ! Thế mà tớ cứ tưởng dưới nhà đi Việt gian thật, tớ ghét ghê ấy ... Thôi, bây giờ thì ông bà lại cứ ở tự nhiên chả ai bảo sao. Ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu.
Mụ cười khì khì:
- Này, rồi cũng phải nuôi lấy con lợn ... mà ăn mừng đấy!...
Ông Hai gật gật:
- Được, được, chuyến này phải nuôi chứ ...
Tối hôm ấy, ông Hai lại sang bên gian bác Thứ, lại ngồi trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái làng của ông.
Ông kể lại hôm Tây vào khủng bố. Chúng nó có bao nhiêu thằng, bao nhiêu Tây, bao nhiêu Việt gian, đi những đường nào, đốt phá những đâu đâu, và dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, rành rọt, tỉ mỉ như chính ông lão vừa mới dự trận đánh giặc ấy xong thật ...
- Soạn bài Ông lão bên chiếc cầu SGK Ngữ văn 9 tập 1 Cánh diều
- Soạn bài Thực hành tiếng Việt bài 4 SGK Ngữ văn 9 tập 1 Cánh diều
- Soạn bài Chiếc lược ngà SGK Ngữ văn 9 tập 1 Cánh diều
- Soạn bài Chiếc lá cuối cùng SGK Ngữ văn 9 tập 1 Cánh diều
- Soạn bài Phân tích một tác phẩm truyện SGK Ngữ văn 9 tập 1 Cánh diều
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Văn bản Phân tích bài "Khóc Dương Khuê"
- Văn bản Về truyện "Làng" của Kim Lân (Nguyễn Văn Long)
- Văn bản Nói thêm về "Chuyện người con gái Nam Xương" (Nguyễn Đình Chú)
- Văn bản Đình công và nổi dậy (trích vở kịch Kim tiền - Vi Huyền Đắc)
- Văn bản Người thứ bảy (Mu-ra-ka-mi)




Danh sách bình luận