Viết bài văn kể lại một truyện truyền thuyết hoặc cổ tích mà em đã được học, được đọc bằng lời văn của em >
- Em muốn kể lại truyện truyền thuyết hoặc cổ tích nào? (Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thánh Gióng, Sự tích Hồ Gươm, Cây khế, Tấm Cám, Sọ Dừa,...) - Em biết đến câu chuyện ấy từ đâu? (Được học trên lớp, đọc trong sách, nghe bà, kể,...) Câu chuyện để lại cho em ấn tượng gì? (Thú vị, xúc động, khâm phục, yêu thích,...)
Dàn ý
I. Mở bài
- Em muốn kể lại truyện truyền thuyết hoặc cổ tích nào? (Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thánh Gióng, Sự tích Hồ Gươm, Cây khế, Tấm Cám, Sọ Dừa,...)
- Em biết đến câu chuyện ấy từ đâu? (Được học trên lớp, đọc trong sách, nghe bà, kể,...)
Câu chuyện để lại cho em ấn tượng gì? (Thú vị, xúc động, khâm phục, yêu thích,...)
II. Thân bài
a) Giới thiệu hoàn cảnh và nhân vật
- Câu chuyện xảy ra vào thời gian nào, ở đâu? (Ngày xưa, tại một ngôi làng, một vương quốc, trong núi rừng,...)
- Câu chuyện có những nhân vật nào? (Nhân vật chính, các nhân vật phụ,...)
- Nhân vật chính có đặc điểm gì nổi bật về ngoại hình và tính cách? (Hiền lành, chăm chỉ, dũng cảm, thông minh, tốt bụng,...)
- Hoàn cảnh hoặc sự việc nào đã mở đầu cho câu chuyện? (Một cuộc gặp gỡ, một thử thách, một biến cố, một lời hứa,...)
b) Kể lại diễn biến câu chuyện
- Sự việc đầu tiên diễn ra như thế nào? Nhân vật đã làm gì? (Kể theo đúng trình tự của câu chuyện nhưng dùng lời văn của em.)
- Những sự việc tiếp theo diễn ra ra sao? ( Nhân vật gặp khó khăn, thử thách,...)
- Nhân vật chính đã hành động, suy nghĩ và cảm xúc như thế nào trước những sự việc ấy? (Lo lắng, quyết tâm, dũng cảm, vui mừng, buồn bã,...)
- Sự việc nào là cao trào của câu chuyện? (Cuộc chiến, thử thách lớn, sự lựa chọn quan trọng, sự xuất hiện của yếu tố kì ảo,...)
- Cuối cùng, nhân vật đã giải quyết vấn đề như thế nào? (Chiến thắng, được giúp đỡ,...)
c) Kết thúc câu chuyện và suy nghĩ của em
- Câu chuyện kết thúc như thế nào? (Nhân vật chính có cuộc sống ra sao, điều gì xảy ra với các nhân vật khác,...)
- Chi tiết nào trong câu chuyện khiến em nhớ nhất? Vì sao?
- Em cảm thấy thế nào về nhân vật hoặc kết thúc câu chuyện? (Khâm phục, xúc động,...)
III. Kết bài
- Câu chuyện để lại cho em bài học hoặc ý nghĩa gì?
- Em có suy nghĩ hoặc tình cảm gì sau khi đọc và kể lại câu chuyện?
- Em mong muốn điều gì? (Biết noi theo những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật và vận dụng bài học vào cuộc sống,...)
Bài siêu ngắn Mẫu 1
Từ những câu chuyện truyền thuyết được nghe kể, em đặc biệt ấn tượng với hình ảnh một cậu bé lên ba bỗng vươn vai thành tráng sĩ cứu nước. Đó chính là câu chuyện về Thánh Gióng, một người anh hùng gắn với truyền thống yêu nước của dân tộc ta. Câu chuyện có nhiều chi tiết kì ảo nhưng cũng chứa đựng những bài học thật sâu sắc. Mỗi lần đọc lại, em vẫn cảm thấy khâm phục trước sức mạnh và lòng dũng cảm của Thánh Gióng.
Ngày xưa, ở làng Phù Đổng có một cậu bé lên ba nhưng vẫn chưa biết nói, biết cười hay biết đi. Cậu sống cùng mẹ trong một gia đình nghèo nhưng rất yêu thương nhau. Một ngày nọ, giặc Ân kéo quân sang xâm lược nước ta, nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài cứu nước. Khi nghe tiếng sứ giả rao tìm người đánh giặc, cậu bé bỗng cất tiếng nói đầu tiên và nhờ mẹ mời sứ giả vào. Cậu nói với sứ giả rằng hãy về tâu với vua rèn cho mình một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt và một bộ áo giáp sắt để đánh giặc. Sứ giả trở về báo tin, nhà vua lập tức cho người chuẩn bị những thứ cậu yêu cầu. Từ hôm ấy, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn bao nhiêu cũng không đủ. Mẹ cậu phải nhờ bà con trong làng cùng góp gạo nuôi cậu. Chẳng bao lâu sau, cậu bé đã trở thành một chàng trai cao lớn, khỏe mạnh và đầy sức mạnh. Khi giặc đến gần, ngựa sắt, roi sắt và áo giáp cũng vừa được mang tới. Gióng vươn vai thành một tráng sĩ oai phong, mặc áo giáp, cầm roi sắt rồi cưỡi ngựa xông thẳng ra trận. Chàng đánh giặc rất mạnh mẽ, nhưng khi roi sắt bị gãy, chàng liền nhổ những bụi tre bên đường làm vũ khí. Cuối cùng, Gióng đánh tan quân giặc, bảo vệ đất nước rồi cưỡi ngựa lên núi và bay về trời.
Em rất khâm phục Thánh Gióng bởi tuy còn nhỏ tuổi nhưng chàng đã có lòng yêu nước và sức mạnh phi thường. Câu chuyện giúp em hiểu rằng mỗi người cần biết yêu quê hương, đất nước và có trách nhiệm bảo vệ những điều tốt đẹp. Em cũng tự nhắc mình phải chăm chỉ học tập, rèn luyện để trở thành người có ích.
Bài siêu ngắn Mẫu 2
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam có rất nhiều câu chuyện hấp dẫn, nhưng câu chuyện khiến em nhớ mãi là Cây khế. Câu chuyện không có những cuộc chiến dữ dội mà cuốn hút em bởi những tình tiết kì ảo và cách xây dựng nhân vật rất rõ nét. Qua hình ảnh người em hiền lành và người anh tham lam, câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc về cách sống. Mỗi lần đọc lại, em càng yêu thích và trân trọng ý nghĩa của câu chuyện.
Ngày xưa, có hai anh em sống cùng nhau trong một gia đình. Sau khi cha mẹ qua đời, người anh vốn tham lam nên chiếm hết nhà cửa, ruộng vườn, chỉ chia cho người em một túp lều nhỏ cùng một cây khế. Người em không than trách mà chăm chỉ làm ăn và ngày ngày chăm sóc cây khế. Đến mùa, cây khế ra rất nhiều quả vàng óng, mọng nước. Một hôm, có một con chim lớn bay đến ăn khế khiến người em buồn bã vì đó là tài sản duy nhất của mình. Thấy vậy, chim nói rằng ăn một quả sẽ trả một cục vàng và bảo người em chuẩn bị một chiếc túi ba gang để đựng vàng. Người em nghe lời, may một chiếc túi vừa đủ rồi chờ chim đến. Khi chim xuất hiện, nó đưa người em bay qua biển đến một hòn đảo đầy vàng bạc. Người em chỉ lấy vừa đủ số vàng mà chiếc túi có thể đựng rồi trở về. Nhờ số vàng ấy, người em có cuộc sống đầy đủ nhưng vẫn sống hiền lành và giản dị. Người anh biết chuyện liền tìm cách đổi toàn bộ gia tài lấy cây khế của em. Khi chim lại đến ăn khế, người anh cũng than khóc và đòi chim trả vàng. Được chim đưa đến đảo, người anh tham lam lấy thật nhiều vàng, chất đầy chiếc túi. Trên đường trở về, vì chiếc túi quá nặng, chim không thể bay nổi. Cuối cùng, người anh rơi xuống biển cùng số vàng mà mình tham lam lấy được.
Em rất yêu mến người em vì anh hiền lành, chăm chỉ và không tham lam. Câu chuyện giúp em hiểu rằng cần biết bằng lòng với những gì mình có và không nên tham lam của cải. Em sẽ cố gắng sống chân thành, biết chia sẻ và luôn đối xử tốt với mọi người xung quanh.
Bài siêu ngắn Mẫu 3
Mỗi khi nghe tiếng mưa rơi dồn dập ngoài cửa sổ, em lại nhớ đến một truyền thuyết quen thuộc đã được nghe kể từ nhỏ, đó là Sơn Tinh, Thủy Tinh. Câu chuyện đưa em trở về thời các vua Hùng với những nhân vật có tài năng phi thường và những cuộc giao tranh đầy kì ảo. Qua câu chuyện, em không chỉ được biết về nguồn gốc của hiện tượng lũ lụt mà còn cảm nhận được sức mạnh của con người trước thiên nhiên. Vì thế, đây là một trong những truyền thuyết em yêu thích nhất.
Ngày xưa, vua Hùng thứ mười tám có một người con gái xinh đẹp tên là Mị Nương. Khi nàng đến tuổi lấy chồng, có hai chàng trai tài giỏi đến cầu hôn là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sơn Tinh là chúa vùng non cao, có tài dời núi, dựng đồi, còn Thủy Tinh là chúa vùng nước thẳm, có tài hô mưa gọi gió. Cả hai đều tài giỏi nên vua Hùng rất khó lựa chọn. Cuối cùng, vua đưa ra điều kiện rằng ai mang sính lễ gồm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao cùng nhiều lễ vật quý đến trước sẽ được cưới Mị Nương. Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang đầy đủ lễ vật đến trước nên được vua gả Mị Nương. Thủy Tinh đến sau, không cưới được nàng nên vô cùng tức giận và quyết đuổi theo để giành lại Mị Nương. Chàng hô mưa gọi gió, làm nước sông dâng lên cuồn cuộn, nhấn chìm ruộng đồng và nhà cửa. Trước tình thế ấy, Sơn Tinh không hề sợ hãi mà bình tĩnh chống lại Thủy Tinh. Nước dâng đến đâu, chàng nâng núi cao đến đó, dựng thành những bức tường vững chắc để ngăn dòng nước dữ. Hai bên giao chiến suốt nhiều ngày nhưng Thủy Tinh vẫn không thể thắng được Sơn Tinh. Cuối cùng, vì kiệt sức, Thủy Tinh phải rút quân về. Tuy vậy, hằng năm Thủy Tinh vẫn dâng nước đánh Sơn Tinh, gây nên những trận lũ lớn.
Câu chuyện đã giúp em hiểu rằng con người cần đoàn kết, kiên trì và chủ động vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Em cũng thêm yêu những truyền thuyết dân gian vì qua mỗi câu chuyện, cha ông đã gửi gắm nhiều bài học quý báu.
Bài tham khảo Mẫu 1
Tiếng trống hội vang lên giữa những ngày đầu xuân thường khiến em nghĩ đến những câu chuyện hào hùng mà cha ông đã truyền lại qua bao thế hệ. Trong kho tàng truyền thuyết Việt Nam, em đặc biệt yêu thích câu chuyện về Thánh Gióng, người anh hùng đã đứng lên cứu nước khi giặc ngoại xâm kéo đến. Câu chuyện có những chi tiết kì ảo nhưng lại thể hiện rất chân thực lòng yêu nước và sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Hình ảnh cậu bé làng Phù Đổng vươn vai thành tráng sĩ luôn khiến em cảm thấy tự hào mỗi khi nhớ đến.
Ngày xưa, ở làng Phù Đổng có một cậu bé lên ba tuổi nhưng vẫn chưa biết nói, biết cười hay biết đi. Cậu sống cùng mẹ trong một ngôi nhà nhỏ, cuộc sống tuy nghèo khó nhưng hai mẹ con luôn yêu thương nhau. Bỗng một ngày, giặc Ân kéo quân sang xâm lược nước ta, khiến nhân dân vô cùng lo lắng. Nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài cứu nước. Khi nghe tiếng sứ giả rao tìm người đánh giặc, cậu bé bỗng cất tiếng nói đầu tiên và nhờ mẹ mời sứ giả vào. Cậu nói với sứ giả rằng hãy về tâu với vua rèn cho mình một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt và một bộ áo giáp sắt. Sứ giả nghe xong vô cùng ngạc nhiên nhưng vẫn vội vàng trở về báo tin cho nhà vua. Từ hôm ấy, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn bao nhiêu cũng không đủ. Mẹ cậu phải nhờ bà con trong làng góp gạo nuôi cậu. Ai cũng vui lòng góp sức vì mong cậu sớm trưởng thành để cứu nước. Chẳng bao lâu sau, cậu bé đã trở thành một chàng trai cao lớn, khỏe mạnh và có sức mạnh phi thường.
Khi quân giặc tiến đến gần, sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến. Gióng lập tức vươn vai thành một tráng sĩ oai phong, mặc áo giáp, cầm roi sắt rồi nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt hí vang, phun lửa và lao thẳng về phía quân giặc. Gióng vung roi đánh giặc mạnh mẽ, khiến quân thù hoảng loạn, tháo chạy tán loạn. Nhưng giữa trận chiến, roi sắt bất ngờ bị gãy. Không hề nao núng, Gióng liền nhổ những bụi tre bên đường làm vũ khí và tiếp tục xông vào đánh giặc. Những bụi tre xanh trở thành vũ khí lợi hại trong tay người anh hùng. Cuối cùng, quân giặc bị đánh tan, đất nước trở lại bình yên. Gióng cưỡi ngựa lên núi Sóc rồi cả người lẫn ngựa bay về trời. Nhân dân nhớ ơn chàng nên lập đền thờ để tưởng niệm người anh hùng đã cứu nước.
Điều khiến em xúc động nhất là Gióng tuy chỉ là một cậu bé nhưng khi đất nước lâm nguy lại sẵn sàng đứng lên bảo vệ quê hương. Em cũng rất ấn tượng với hình ảnh dân làng cùng góp gạo nuôi Gióng, bởi đó là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Qua câu chuyện, em hiểu rằng lòng yêu nước không chỉ thể hiện qua những việc lớn lao mà còn được tạo nên từ sự chung sức của mỗi người. Em càng thêm tự hào về truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của dân tộc ta.
Thánh Gióng đã trở thành một hình ảnh đẹp trong tâm trí em, giống như ngọn lửa luôn cháy sáng giữa những câu chuyện về lịch sử dân tộc. Câu chuyện giúp em hiểu rằng khi quê hương gặp khó khăn, mỗi người đều cần có trách nhiệm góp sức bảo vệ những điều thân yêu. Em tự nhắc mình phải chăm chỉ học tập, rèn luyện và biết yêu thương quê hương từ những việc nhỏ nhất. Dù sau này có đọc thêm bao nhiêu câu chuyện khác, em tin rằng hình ảnh người tráng sĩ làng Phù Đổng vẫn luôn để lại trong em niềm tự hào sâu sắc.
Bài tham khảo Mẫu 2
Một buổi chiều, khi nhìn những quả khế chín vàng đung đưa trong vườn, em chợt nhớ đến một câu chuyện cổ tích quen thuộc đã theo em từ những năm đầu tiểu học. Đó là câu chuyện Cây khế, câu chuyện kể về hai anh em có tính cách hoàn toàn trái ngược nhau. Một người hiền lành, chăm chỉ và biết đủ, còn một người tham lam, ích kỉ và luôn muốn chiếm lấy những thứ không thuộc về mình. Qua những tình tiết kì ảo, câu chuyện đã gửi đến người đọc một bài học thật giản dị mà sâu sắc.
Ngày xưa, có hai anh em cùng sống trong một gia đình. Sau khi cha mẹ qua đời, người anh vốn tham lam nên chiếm hết nhà cửa, ruộng vườn và tài sản, chỉ chia cho người em một túp lều nhỏ cùng cây khế trước nhà. Người em không oán trách mà chăm chỉ làm ăn, ngày ngày chăm sóc cây khế. Nhờ được vun trồng cẩn thận, cây khế ngày càng xanh tốt rồi ra rất nhiều quả chín. Người em vui mừng vì nghĩ rằng mình có thể bán khế để kiếm tiền trang trải cuộc sống. Thế nhưng một hôm, một con chim lớn bay đến ăn khế. Chim ăn hết quả này đến quả khác khiến người em vô cùng lo lắng. Anh buồn bã nói rằng cây khế là tài sản duy nhất của mình, nếu chim ăn hết thì gia đình sẽ chẳng còn gì. Bất ngờ, chim cất tiếng nói rằng ăn một quả sẽ trả một cục vàng và bảo người em chuẩn bị một chiếc túi ba gang để đựng vàng. Người em nghe lời, trong lòng vừa ngạc nhiên vừa hồi hộp chờ đợi.
Hôm sau, chim thần đưa người em bay qua biển đến một hòn đảo đầy vàng bạc, châu báu. Người em chỉ lấy vừa đủ số vàng trong chiếc túi ba gang rồi trở về. Nhờ số vàng ấy, cuộc sống của người em trở nên sung túc hơn nhưng anh vẫn sống hiền lành, chăm chỉ. Người anh nghe chuyện liền nổi lòng tham, tìm cách đổi toàn bộ gia tài lấy cây khế của em. Khi chim đến ăn khế, người anh cũng than khóc và được chim hứa trả vàng. Được đưa đến hòn đảo, người anh mừng rỡ trước kho vàng trước mắt. Anh may một chiếc túi thật lớn rồi cố lấy thật nhiều vàng bạc cho đầy túi. Trên đường trở về, vì túi vàng quá nặng, chim bay rất khó khăn. Người anh vẫn không chịu bỏ bớt vàng nên cuối cùng cả người và túi vàng rơi xuống biển. Lòng tham đã khiến anh phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.
Em rất yêu mến người em vì anh hiền lành, chịu khó và không tham lam. Ngược lại, người anh khiến em không đồng tình bởi anh luôn muốn chiếm đoạt mọi thứ và cuối cùng phải nhận hậu quả đau lòng. Chi tiết người em chỉ lấy vừa đủ số vàng khiến em nhớ nhất, bởi nó cho thấy anh biết bằng lòng với những gì mình có. Câu chuyện giúp em hiểu rằng lòng tham có thể làm con người mù quáng, còn sự hiền lành và biết đủ sẽ đem lại cuộc sống bình yên. Em cũng tự nhắc mình phải biết chia sẻ, không ích kỉ và luôn trân trọng những gì mình đang có.
Mỗi lần nhớ đến cây khế sai trĩu quả trong câu chuyện, em lại nhớ đến bài học mà ông cha muốn gửi gắm qua từng trang truyện. Hạnh phúc không nằm ở việc sở hữu thật nhiều mà còn nằm ở cách chúng ta biết sống tử tế với mọi người. Em sẽ cố gắng giữ cho mình một tấm lòng chân thành, không chạy theo những lợi ích ích kỉ. Đó cũng là điều đẹp nhất mà câu chuyện Cây khế đã để lại trong em.
Bài tham khảo Mẫu 3
Những ngày mưa lớn, khi những con đường bắt đầu ngập nước và dòng sông cuộn lên từng đợt, em lại nhớ đến truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh. Câu chuyện đưa em trở về thời đại các vua Hùng, nơi những con người và vị thần có sức mạnh phi thường cùng xuất hiện. Không chỉ hấp dẫn bởi những chi tiết kì ảo, câu chuyện còn thể hiện ước mơ của cha ông về sức mạnh của con người trong việc chế ngự thiên nhiên. Vì vậy, Sơn Tinh, Thủy Tinh luôn là một trong những truyền thuyết khiến em nhớ mãi.
Ngày xưa, vua Hùng thứ mười tám có một người con gái xinh đẹp tên là Mị Nương. Khi nàng đến tuổi lấy chồng, có hai chàng trai tài giỏi cùng đến cầu hôn là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sơn Tinh là chúa vùng non cao, có tài dời núi, dựng đồi, còn Thủy Tinh là chúa vùng nước thẳm, có tài hô mưa gọi gió. Cả hai đều tài giỏi nên vua Hùng rất khó lựa chọn. Cuối cùng, vua đưa ra điều kiện rằng ai mang lễ vật gồm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao cùng những lễ vật quý đến trước sẽ được cưới Mị Nương. Hai chàng trai đều đồng ý và lập tức chuẩn bị sính lễ. Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang đầy đủ lễ vật đến trước nên được vua Hùng gả Mị Nương. Sơn Tinh đưa nàng về núi trong niềm vui của mọi người. Thủy Tinh đến sau, không cưới được Mị Nương nên vô cùng tức giận và quyết đuổi theo để giành lại nàng.
Thủy Tinh hô mưa gọi gió, làm nước sông dâng lên cuồn cuộn. Nước tràn qua ruộng đồng, cuốn theo cây cối và dâng cao từng ngày khiến cuộc sống của người dân bị đe dọa. Trước sức mạnh dữ dội ấy, Sơn Tinh vẫn bình tĩnh chống lại Thủy Tinh. Nước dâng đến đâu, chàng nâng núi cao đến đó, dựng nên những ngọn núi vững chắc để ngăn dòng nước. Thủy Tinh càng dâng nước, Sơn Tinh càng nâng núi lên cao. Hai bên giao chiến quyết liệt suốt nhiều ngày nhưng Thủy Tinh vẫn không thể thắng được Sơn Tinh. Cuối cùng, vì sức lực đã cạn kiệt, Thủy Tinh đành rút quân về. Tuy nhiên, hằng năm, Thủy Tinh vẫn dâng nước lên đánh Sơn Tinh, gây nên những trận lũ lớn. Câu chuyện từ đó được lưu truyền để giải thích hiện tượng lũ lụt thường xảy ra ở nước ta.
Em rất khâm phục Sơn Tinh bởi chàng không hề nao núng trước sức mạnh dữ dội của Thủy Tinh. Chi tiết nước dâng đến đâu, Sơn Tinh nâng núi cao đến đó khiến em ấn tượng nhất vì nó thể hiện ý chí mạnh mẽ và khả năng chế ngự thiên nhiên của con người. Qua câu chuyện, em còn hiểu thêm về những khó khăn mà người dân xưa phải đối mặt và ước mong của họ về một cuộc sống bình yên. Em càng thêm yêu những truyền thuyết dân gian bởi mỗi câu chuyện đều chứa đựng những giá trị đẹp đẽ.
Dù câu chuyện đã được kể từ rất lâu, hình ảnh Sơn Tinh kiên cường chống lại dòng nước dữ vẫn còn sức sống đến hôm nay. Em hiểu rằng trước những khó khăn của thiên nhiên và cuộc sống, con người không nên sợ hãi hay bỏ cuộc mà cần đoàn kết và tìm cách vượt qua. Câu chuyện cũng nhắc em biết trân trọng sức mạnh của con người và có ý thức bảo vệ quê hương. Với em, Sơn Tinh, Thủy Tinh không chỉ là một truyền thuyết hấp dẫn mà còn là bài học về ý chí và nghị lực.
Bài tham khảo Mẫu 4
Mặt hồ xanh trong, những hàng cây soi bóng xuống làn nước luôn gợi cho em cảm giác vừa yên bình vừa thiêng liêng. Mỗi lần nhìn thấy hình ảnh hồ Gươm trong sách, em lại nhớ đến câu chuyện về thanh gươm thần đã giúp nghĩa quân Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh. Câu chuyện Sự tích Hồ Gươm không chỉ giải thích nguồn gốc tên gọi của một thắng cảnh nổi tiếng mà còn kể về một thời kì hào hùng của dân tộc. Qua câu chuyện, em càng thêm tự hào về truyền thống yêu nước và ý chí đánh giặc của cha ông.
Ngày xưa, giặc Minh sang xâm lược nước ta, nhân dân phải sống trong cảnh lầm than, khổ cực. Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở vùng Lam Sơn nhưng lực lượng còn yếu nên gặp rất nhiều khó khăn. Bấy giờ, một người đánh cá tên là Lê Thận trong lúc kéo lưới đã ba lần kéo được một thanh sắt lên. Lạ thay, mỗi lần ông ném thanh sắt xuống nước thì lần sau lại kéo được nó lên đúng chỗ cũ. Thấy chuyện kì lạ, Lê Thận mang thanh sắt về nhà rồi phát hiện đó chính là một lưỡi gươm. Sau đó, Lê Lợi đến nhà Lê Thận và nhìn thấy trên lưỡi gươm có hai chữ sáng rõ. Trong một lần khác, Lê Lợi tìm thấy chuôi gươm phát sáng trong khu rừng. Khi đem chuôi gươm về ghép với lưỡi gươm, hai bộ phận vừa khít như đã được tạo ra để dành cho nhau. Lê Lợi nhận ra đây là thanh gươm thần mà trời đất trao cho nghĩa quân Lam Sơn. Từ đó, ông cùng nghĩa quân càng thêm quyết tâm chiến đấu chống giặc.
Có thanh gươm thần trong tay, nghĩa quân Lam Sơn như được tiếp thêm sức mạnh. Lê Lợi cùng các tướng sĩ đoàn kết một lòng, vượt qua nhiều trận chiến gian khổ. Quân Minh ngày càng thất thế, còn nghĩa quân ngày càng lớn mạnh. Cuối cùng, nghĩa quân đánh tan quân xâm lược, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Sau khi lên ngôi, Lê Lợi một lần đi thuyền trên hồ. Bỗng một con rùa vàng lớn nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền và nói rằng nhà vua hãy trả lại thanh gươm cho Long Quân. Lê Lợi hiểu rằng thanh gươm thần đã hoàn thành sứ mệnh cứu nước. Ông rút gươm trao cho rùa vàng. Rùa ngậm lấy thanh gươm rồi lặn xuống mặt hồ xanh biếc. Từ đó, nhà vua đặt tên hồ là Hồ Hoàn Kiếm, nghĩa là hồ trả lại gươm.
Em rất thích câu chuyện vì mỗi chi tiết đều mang màu sắc kì ảo nhưng vẫn làm nổi bật tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Em ấn tượng nhất với cảnh rùa vàng nổi lên nhận lại thanh gươm, bởi đó là khoảnh khắc câu chuyện khép lại nhưng cũng mở ra một ý nghĩa thật đẹp. Thanh gươm chỉ xuất hiện khi đất nước cần và được trả lại khi non sông đã bình yên, như thể sức mạnh luôn thuộc về chính nghĩa. Qua câu chuyện, em càng khâm phục Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, đồng thời thêm tự hào về lịch sử dân tộc.
Ngày nay, Hồ Gươm vẫn nằm giữa lòng Hà Nội như một dấu ấn đẹp của lịch sử. Mỗi khi nhắc đến tên hồ, em lại nhớ đến thanh gươm thần và câu chuyện về cuộc khởi nghĩa năm xưa. Câu chuyện dạy em biết trân trọng hòa bình và ghi nhớ công lao của những người đã bảo vệ đất nước. Em mong mình sẽ luôn giữ trong lòng niềm tự hào ấy và cố gắng học tập thật tốt để góp phần xây dựng quê hương.
Bài tham khảo Mẫu 5
Trong thế giới cổ tích đầy màu sắc, em luôn thích những câu chuyện mà người tốt dù trải qua nhiều bất hạnh vẫn có thể tìm thấy hạnh phúc bằng chính phẩm chất của mình. Sọ Dừa là một câu chuyện như thế. Nhân vật chính có vẻ ngoài khác thường nhưng lại có một tâm hồn đẹp, thông minh và tài giỏi. Qua câu chuyện, em không chỉ bị cuốn hút bởi những tình tiết kì ảo mà còn cảm nhận sâu sắc bài học về cách nhìn nhận con người.
Ngày xưa, có một bà mẹ nghèo đi làm thuê cho một phú ông. Một hôm, vì khát nước, bà uống nước trong chiếc sọ dừa rồi về nhà mang thai. Sau đó, bà sinh ra một đứa bé không có tay chân, thân hình tròn như quả dừa nên mọi người gọi là Sọ Dừa. Người mẹ ban đầu rất buồn nhưng vẫn yêu thương và nuôi nấng con. Khi lớn lên, Sọ Dừa xin mẹ cho mình đi chăn bò thuê. Phú ông thấy hình dáng của Sọ Dừa thì tỏ vẻ nghi ngờ nhưng cuối cùng vẫn đồng ý. Không ngờ Sọ Dừa chăn bò rất giỏi, ngày nào đàn bò cũng no đủ và trở về chuồng đúng giờ. Ba cô con gái của phú ông thường thay nhau mang cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị luôn chê bai, cười nhạo hình dáng của chàng, chỉ có cô út đối xử tử tế và không hề khinh thường. Một hôm, cô út tình cờ nhìn thấy Sọ Dừa hiện nguyên hình là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Từ đó, cô hiểu rằng bên trong vẻ ngoài khác thường ấy là một con người tài giỏi và tốt bụng.
Sọ Dừa sau đó xin cưới cô út. Phú ông vốn không muốn gả con nên đưa ra rất nhiều sính lễ khó khăn. Thế nhưng Sọ Dừa vẫn chuẩn bị đầy đủ và cuối cùng được cưới cô út. Sau ngày cưới, mọi người càng bất ngờ khi thấy Sọ Dừa hiện ra là một chàng trai khôi ngô. Chàng chăm chỉ học hành và thi đỗ trạng nguyên. Trước khi đi sứ, chàng đưa cho vợ một con dao, hai quả trứng gà và một hòn đá lửa để phòng thân. Hai cô chị vì ghen ghét em nên tìm cách hãm hại cô út bằng cách đẩy cô xuống biển. May mắn thay, cô út được dạt vào một hòn đảo và sống sót. Nhờ những vật Sọ Dừa đưa cho, cô có thức ăn và ánh lửa để chờ đợi. Khi Sọ Dừa đi sứ trở về, chàng cho thuyền đi qua nơi ấy và nghe tiếng gà gáy. Chàng nhận ra đó là tín hiệu của vợ nên tìm kiếm và đưa cô trở về. Hai vợ chồng đoàn tụ trong niềm vui, còn hai cô chị xấu hổ vì những việc mình đã làm.
Em rất thương cô út vì cô biết nhìn vào phẩm chất bên trong thay vì đánh giá một người qua vẻ ngoài. Em cũng khâm phục Sọ Dừa bởi chàng không mặc cảm trước hình dáng khác thường mà luôn cố gắng học tập và khẳng định giá trị của bản thân. Chi tiết Sọ Dừa hiện nguyên hình thành một chàng trai khôi ngô khiến em ấn tượng, nhưng điều đáng quý hơn vẫn là sự tài giỏi, chăm chỉ và thủy chung của chàng. Câu chuyện giúp em hiểu rằng không nên đánh giá người khác chỉ qua vẻ bề ngoài mà cần biết trân trọng những phẩm chất tốt đẹp bên trong mỗi con người.
Khép lại câu chuyện, em vẫn nhớ hình ảnh Sọ Dừa từ một chàng trai có vẻ ngoài khác thường trở thành người có tài, có đức và có một gia đình hạnh phúc. Câu chuyện nhắc em biết yêu thương, tôn trọng mọi người và không nên chế giễu những người có hoàn cảnh hoặc ngoại hình khác mình. Em cũng hiểu rằng nếu có nghị lực và lòng quyết tâm, mỗi người đều có thể vượt qua những giới hạn của bản thân. Chính bài học ấy khiến Sọ Dừa trở thành một câu chuyện cổ tích mà em luôn yêu mến.
Bài tham khảo Mẫu 6
Mùi hương của những hàng cau, giàn trầu trong khu vườn nhỏ đôi khi khiến em nhớ đến những câu chuyện cổ tích đã gắn bó với tuổi thơ. Trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam, Tấm Cám là câu chuyện để lại trong em nhiều cảm xúc nhất. Hành trình của cô Tấm từ một cô gái chịu nhiều bất hạnh đến khi tìm được cuộc sống hạnh phúc khiến em vừa thương cảm vừa khâm phục. Câu chuyện cũng giúp em hiểu hơn về ước mơ công bằng và niềm tin vào điều tốt đẹp.
Ngày xưa, có một cô gái tên là Tấm mồ côi cha mẹ từ nhỏ và phải sống cùng dì ghẻ và cô em cùng cha khác mẹ là Cám. Tấm hiền lành, chăm chỉ nhưng ngày ngày phải làm rất nhiều việc nặng nhọc, trong khi Cám được mẹ nuông chiều. Một hôm, dì ghẻ sai hai chị em ra đồng bắt tép và hứa ai bắt được nhiều sẽ được thưởng. Tấm chăm chỉ mò từng con tép nên chẳng mấy chốc chiếc giỏ đã đầy. Cám vốn ham chơi nên chẳng bắt được gì, liền lừa chị xuống ao gội đầu rồi trút hết tép của Tấm sang giỏ mình. Tấm trở về thấy giỏ trống không thì buồn tủi bật khóc. Bụt hiện lên, hỏi chuyện rồi giúp Tấm tìm lại niềm vui. Bụt còn bảo Tấm đem chú cá bống nhỏ về nuôi dưới giếng. Từ đó, ngày nào Tấm cũng dành cơm cho bống ăn và coi bống như người bạn thân thiết. Thế nhưng dì ghẻ biết chuyện, tìm cách bắt cá bống rồi làm thịt. Tấm đau lòng khóc nức nở, Bụt lại hiện lên chỉ cho cô cách tìm xương cá và cất chúng dưới chân giường.
Đến ngày hội, dì ghẻ trộn thóc với gạo rồi bắt Tấm nhặt xong mới được đi. Tấm ngồi giữa sân, nhìn đống thóc gạo mà nước mắt cứ rơi vì biết mình không thể kịp đến hội. Bụt lại xuất hiện và sai đàn chim sẻ xuống giúp cô nhặt thóc. Nhờ vậy, Tấm có thời gian thay quần áo đẹp rồi đi hội. Trên đường, cô đánh rơi một chiếc giày. Nhà vua nhặt được chiếc giày và sai người tìm cô gái vừa chân chiếc giày ấy. Khi Tấm thử, chiếc giày vừa khít nên cô được đón vào cung và trở thành hoàng hậu. Mẹ con Cám ghen ghét, nhiều lần tìm cách hãm hại Tấm. Sau nhiều lần hóa thân, cuối cùng Tấm trở lại làm người và được nhà vua đón về. Từ đó, Tấm được sống hạnh phúc, còn những kẻ gây đau khổ cho cô phải nhận hậu quả từ việc làm của mình.
Em thương Tấm vì dù phải chịu nhiều bất công, cô vẫn giữ được sự hiền lành và lòng nhân hậu. Chi tiết Tấm được Bụt giúp đỡ trong những lúc tuyệt vọng khiến em nhớ nhất, bởi nó giống như một tia sáng xuất hiện giữa những ngày tháng đầy đau khổ của cô. Qua câu chuyện, em hiểu rằng con người cần biết sống tử tế, chăm chỉ và không nên ghen ghét hay làm tổn thương người khác. Em cũng thêm tin rằng những điều tốt đẹp luôn xứng đáng được bảo vệ và trân trọng.
Khép lại câu chuyện, hình ảnh cô Tấm hiền lành tìm được cuộc sống hạnh phúc vẫn khiến em cảm thấy vui mừng. Câu chuyện không chỉ đem đến một kết thúc có hậu mà còn gửi gắm ước mong về sự công bằng của nhân dân xưa. Em sẽ cố gắng sống nhân hậu, biết yêu thương và không làm điều khiến người khác buồn. Đó là bài học mà em muốn ghi nhớ thật lâu.
Bài tham khảo Mẫu 7
Tiếng đàn trong trẻo vang lên giữa những trang truyện cổ tích luôn khiến em tò mò về người đã tạo nên âm thanh đặc biệt ấy. Khi đọc Thạch Sanh, em nhanh chóng bị cuốn hút bởi hành trình của một chàng trai nghèo nhưng có sức mạnh, lòng dũng cảm và trái tim nhân hậu. Chàng phải trải qua nhiều thử thách, bị kẻ xấu hãm hại nhưng cuối cùng sự thật vẫn được sáng tỏ. Câu chuyện để lại trong em sự khâm phục đối với người sống ngay thẳng và lòng tin rằng cái thiện sẽ chiến thắng.
Ngày xưa, ở một ngôi làng nọ có chàng trai tên là Thạch Sanh. Cha mẹ mất sớm, chàng sống một mình dưới gốc đa và ngày ngày kiếm củi để nuôi thân. Tuy cuộc sống nghèo khó nhưng Thạch Sanh rất khỏe mạnh, thật thà và tốt bụng. Gần nơi chàng ở có một người tên là Lí Thông, vốn gian xảo và tham lam. Thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, Lí Thông tìm cách kết nghĩa anh em để lợi dụng chàng. Bấy giờ, trong vùng có một con chằn tinh hung dữ thường bắt người ăn thịt. Đến lượt Lí Thông phải đi nộp mạng, hắn lừa Thạch Sanh đi thay mình. Thạch Sanh không hề sợ hãi mà một mình đến miếu chiến đấu với chằn tinh. Sau một trận đánh quyết liệt, chàng tiêu diệt được con quái vật và chặt đầu nó mang về. Lí Thông lại tìm cách lừa chàng, nói rằng đó là vật của vua rồi bảo chàng trốn đi. Hắn đem chiến công của Thạch Sanh về nhận thưởng và tiếp tục che giấu sự thật.
Sau đó, công chúa bị một con đại bàng khổng lồ bắt đi. Thạch Sanh lần theo dấu vết và tìm được hang ổ của đại bàng. Chàng dũng cảm chiến đấu, cứu được công chúa nhưng Lí Thông lại tìm cách cướp công và lấp cửa hang để Thạch Sanh không thể trở về. Khi công chúa trở về cung, nàng vì quá sợ hãi nên không nói không cười. Thạch Sanh bị vu oan và phải vào ngục. Trong ngục, chàng lấy đàn ra gảy. Tiếng đàn vang lên, kể lại toàn bộ sự thật và giúp nhà vua hiểu rõ mọi chuyện. Thạch Sanh được minh oan, còn Lí Thông phải chịu sự trừng phạt. Sau đó, Thạch Sanh cưới công chúa. Khi quân các nước kéo đến gây chiến, chàng không muốn gây thêm đổ máu mà dùng tiếng đàn và lòng nhân hậu để cảm hóa họ. Cuối cùng, các nước đều rút quân và đất nước trở lại bình yên.
Em khâm phục nhất ở Thạch Sanh là dù nhiều lần bị lừa dối và hãm hại, chàng vẫn không trở nên độc ác hay ích kỉ. Tiếng đàn giúp chàng nói lên sự thật là chi tiết khiến em nhớ mãi vì âm thanh ấy giống như tiếng nói của công lí. Qua câu chuyện, em hiểu rằng sự thật có thể bị che giấu trong một thời gian nhưng cuối cùng vẫn sẽ được mọi người nhận ra. Em cũng tự nhắc mình phải sống thật thà, dũng cảm và biết tha thứ khi có thể.
Thạch Sanh đã trở thành một hình ảnh đẹp trong thế giới cổ tích của em. Câu chuyện giúp em thêm tin vào sức mạnh của lòng tốt và sự ngay thẳng. Em mong mình có thể học được ở Thạch Sanh sự mạnh mẽ khi gặp khó khăn và sự nhân hậu khi đối xử với mọi người. Đó chính là điều khiến câu chuyện vẫn luôn có sức hấp dẫn đối với em.
Bài tham khảo Mẫu 8
Mỗi dịp cưới hỏi, hình ảnh trầu cau được đặt trang trọng trên bàn lễ lại gợi cho em nhớ đến một câu chuyện dân gian đầy xúc động. Sự tích trầu cau kể về tình cảm sâu nặng giữa hai anh em và tình nghĩa vợ chồng. Câu chuyện không có những phép màu rực rỡ nhưng lại khiến em xúc động bởi kết thúc vừa buồn vừa đẹp. Qua đó, em hiểu thêm vì sao trầu cau trở thành một nét đẹp trong phong tục của người Việt.
Ngày xưa, có hai anh em rất thương yêu nhau và giống nhau như hai giọt nước. Họ cùng lớn lên, luôn chia sẻ với nhau mọi điều trong cuộc sống. Khi trưởng thành, người anh lấy vợ. Người vợ có lần vì không nhận ra hai anh em giống nhau nên vô tình dành sự quan tâm cho người em. Người em cảm thấy khó xử và sợ tình cảm của mình có thể làm tổn thương anh nên quyết định rời khỏi nhà. Chàng đi mãi, đến một khu rừng vắng rồi kiệt sức bên một con suối. Vì quá buồn bã, chàng hóa thành một tảng đá trắng bên dòng nước. Người anh ở nhà không thấy em trở về thì vô cùng lo lắng. Anh đi tìm em khắp nơi, vượt qua nhiều con đường và cuối cùng tìm thấy tảng đá bên con suối. Nhìn tảng đá, anh đau đớn nhận ra em trai mình và ôm lấy nó mà khóc. Tình thương và nỗi đau quá lớn khiến anh không thể rời khỏi nơi ấy.
Sau đó, người anh cũng hóa thành một cây cau đứng bên tảng đá. Người vợ đi tìm chồng, đến nơi nhìn thấy cây cau và tảng đá thì vô cùng đau khổ. Nàng hiểu rằng hai người mình yêu thương đã mãi mãi rời xa. Nàng ngồi bên cây cau, ôm lấy tảng đá và khóc thương. Cuối cùng, nàng hóa thành một dây trầu xanh quấn quanh thân cau. Về sau, người dân phát hiện lá trầu, quả cau và đá vôi khi ăn cùng nhau tạo thành màu đỏ thắm. Ba thứ ấy hòa quyện với nhau, không thể tách rời. Từ đó, trầu cau trở thành biểu tượng của tình nghĩa và thường xuất hiện trong những dịp quan trọng, đặc biệt là lễ cưới hỏi. Câu chuyện về ba người vì thế được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Em cảm thấy rất xúc động trước tình cảm sâu sắc của ba nhân vật trong câu chuyện. Hình ảnh dây trầu quấn quanh thân cau là chi tiết khiến em nhớ nhất vì nó thể hiện sự gắn bó bền chặt và tình nghĩa không thể chia lìa. Câu chuyện giúp em hiểu rằng tình thân là điều vô cùng quý giá mà mỗi người cần biết gìn giữ. Em cũng tự nhắc mình phải biết yêu thương, nhường nhịn và trân trọng những người luôn ở bên cạnh mình.
Từ một câu chuyện buồn, người xưa đã tạo nên một phong tục đẹp vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay. Mỗi khi nhìn thấy trầu cau trong những dịp lễ quan trọng, em lại nhớ đến tình cảm của hai anh em và người vợ trong câu chuyện. Em càng thêm yêu những giá trị truyền thống của dân tộc. Câu chuyện sẽ luôn nhắc em biết giữ gìn tình thân và sống chân thành với những người mình yêu quý.
Bài tham khảo Mẫu 9
Giữa núi rừng xanh ngát, một mặt hồ rộng lớn nằm yên dưới ánh nắng luôn gợi cho em cảm giác vừa thơ mộng vừa bí ẩn. Khi đọc Sự tích Hồ Ba Bể, em mới biết đằng sau cảnh đẹp ấy còn có một câu chuyện dân gian đầy ý nghĩa về lòng nhân hậu. Câu chuyện đưa em từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, đồng thời khiến em suy nghĩ nhiều về cách con người đối xử với nhau. Em đặc biệt yêu thích hình ảnh người phụ nữ nghèo đã sẵn lòng giúp đỡ một người xa lạ.
Ngày xưa, trong một ngôi làng nọ có một bà lão nghèo thường đi khắp nơi xin ăn. Một hôm, bà đến dự hội của dân làng nhưng mọi người đều xa lánh vì thấy bà có vẻ ngoài bẩn thỉu và đáng sợ. Chỉ có một người mẹ nghèo cùng con trai không xua đuổi mà còn mời bà vào nhà, cho ăn uống và nghỉ ngơi. Đêm hôm ấy, họ mới biết bà lão không phải người bình thường mà là một vị thần xuống trần để thử lòng người. Vị thần báo cho mẹ con rằng sắp có một trận lụt lớn xảy ra, có thể nhấn chìm cả vùng. Người mẹ nghe vậy vô cùng lo lắng và hỏi cách cứu dân làng. Vị thần đưa cho bà hai mảnh vỏ trấu, dặn giữ lấy để làm phương tiện cứu người. Sáng hôm sau, người mẹ kể lại chuyện cho mọi người nhưng chẳng mấy ai tin. Dù vậy, bà vẫn chuẩn bị theo lời dặn và luôn sẵn sàng giúp đỡ những người xung quanh.
Đêm xuống, mây đen ùn ùn kéo đến, gió thổi mạnh và mưa trút xuống như thác. Nước từ các con suối, dòng sông nhanh chóng dâng cao, tràn vào làng khiến mọi người hoảng hốt. Những ngôi nhà thấp bé lần lượt bị nước bao vây, người dân chạy tìm nơi cao để tránh lũ. Mẹ con người phụ nữ nghèo lập tức dùng những mảnh vỏ trấu kì diệu để cứu những người gặp nạn. Nhờ sự giúp đỡ của họ, nhiều người trong làng đã thoát khỏi dòng nước dữ. Khi trận lũ qua đi, vùng đất cũ biến thành một hồ nước rộng lớn, xung quanh là những dãy núi xanh trùng điệp. Hồ có ba phần nối liền nhau nên được gọi là Hồ Ba Bể. Người dân nhớ mãi lòng tốt của mẹ con người phụ nữ nghèo và truyền câu chuyện ấy cho các thế hệ sau.
Em cảm động nhất trước việc mẹ con người phụ nữ nghèo không hề coi thường bà lão mà còn sẵn lòng chia sẻ những gì mình có. Chi tiết ấy khiến em hiểu rằng lòng tốt không phụ thuộc vào việc một người giàu hay nghèo mà nằm ở cách họ đối xử với người khác. Câu chuyện cũng nhắc em không nên đánh giá bất cứ ai chỉ qua vẻ bề ngoài. Em mong mình luôn biết quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ những người gặp khó khăn bằng những việc làm phù hợp.
Mỗi lần nhìn hình ảnh Hồ Ba Bể xanh trong giữa núi rừng, em lại nhớ đến câu chuyện đã giải thích nguồn gốc của nơi này. Vẻ đẹp của hồ vì thế càng trở nên ý nghĩa hơn trong suy nghĩ của em. Câu chuyện dạy em rằng một hành động tử tế có thể mang đến những điều tốt đẹp vượt xa những gì ta tưởng tượng. Em sẽ luôn ghi nhớ bài học ấy và cố gắng sống nhân hậu hơn mỗi ngày.
Bài tham khảo Mẫu 10
Hương nếp thơm lan tỏa trong căn bếp mỗi khi Tết về luôn làm em nhớ đến những chiếc bánh chưng xanh vuông vắn và bánh giầy trắng mềm mà gia đình thường chuẩn bị. Đằng sau những món bánh quen thuộc ấy là một câu chuyện truyền thuyết rất thú vị về Lang Liêu, người con hiếu thảo của vua Hùng. Câu chuyện không chỉ kể về nguồn gốc của hai loại bánh mà còn thể hiện sự trân trọng đối với hạt gạo và người lao động. Vì thế, em luôn thích nghe và kể lại câu chuyện này.
Ngày xưa, vua Hùng thứ sáu có nhiều người con trai đều tài giỏi. Khi tuổi đã cao, nhà vua muốn tìm một người xứng đáng để truyền ngôi nên quyết định thử tài các hoàng tử. Vua gọi các con đến và nói rằng vào ngày lễ Tiên Vương, ai tìm được lễ vật quý giá và ý nghĩa nhất để dâng lên sẽ được truyền ngôi. Các hoàng tử nghe vậy liền tỏa đi khắp nơi tìm kiếm những món ngon vật lạ. Người tìm của ngon trên rừng, người tìm sản vật dưới biển, ai cũng muốn mang về thứ quý giá nhất. Riêng Lang Liêu là người nghèo nhất trong các hoàng tử, quanh năm chỉ làm ruộng nên không biết tìm lễ vật ở đâu. Chàng rất lo lắng vì muốn thể hiện lòng hiếu thảo với vua cha nhưng trong nhà chẳng có gì quý giá. Một đêm, Lang Liêu nằm suy nghĩ rồi ngủ thiếp đi. Trong giấc mơ, một vị thần xuất hiện và nói rằng không gì quý bằng hạt gạo, bởi đó là thứ nuôi sống con người. Tỉnh dậy, Lang Liêu suy nghĩ rất lâu về lời chỉ dẫn và quyết định dùng chính những sản vật quen thuộc của quê hương để làm lễ vật.
Lang Liêu chọn những hạt gạo nếp trắng tròn, vo sạch rồi ngâm cho mềm. Chàng lấy đậu xanh làm nhân, dùng thịt lợn đặt ở giữa rồi dùng lá dong gói thành những chiếc bánh vuông vắn. Sau đó, chàng đem bánh nấu thật lâu trên bếp cho đến khi chín dẻo và tỏa mùi thơm. Chàng gọi đó là bánh chưng, tượng trưng cho đất. Chàng còn giã nhuyễn gạo nếp đã đồ chín rồi nặn thành những chiếc bánh tròn trắng tinh, gọi là bánh giầy để tượng trưng cho trời. Đến ngày lễ, các hoàng tử lần lượt mang lễ vật về dâng vua. Khi nếm hai thứ bánh của Lang Liêu và nghe chàng giải thích ý nghĩa, vua Hùng vô cùng hài lòng. Nhà vua nhận ra Lang Liêu tuy không có nhiều của cải nhưng lại biết quý trọng hạt gạo và hiểu được công sức của người lao động. Cuối cùng, vua quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu. Từ đó, bánh chưng và bánh giầy trở thành hai món bánh không thể thiếu trong nhiều dịp Tết của người Việt.
Em đặc biệt yêu mến Lang Liêu bởi chàng không chạy theo những thứ quý hiếm mà biết trân trọng những gì gần gũi với cuộc sống. Chi tiết chàng dùng hạt gạo để làm lễ vật khiến em nhớ nhất vì nó thể hiện lòng hiếu thảo và sự biết ơn đối với người lao động. Câu chuyện giúp em hiểu rằng giá trị của một món quà không nằm ở sự đắt tiền mà nằm ở tình cảm và ý nghĩa mà nó chứa đựng. Em cũng thêm yêu những phong tục truyền thống và biết trân trọng từng hạt gạo trong bữa cơm hằng ngày.
Mỗi độ xuân về, bánh chưng xanh lại xuất hiện trên mâm cỗ gia đình và nhắc em nhớ đến câu chuyện về Lang Liêu. Qua bao thế hệ, câu chuyện vẫn giữ nguyên vẻ đẹp bởi nó gắn với lòng hiếu thảo, tình yêu quê hương và sự trân trọng lao động. Em mong những phong tục tốt đẹp ấy sẽ luôn được gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau. Với em, Bánh chưng, bánh giầy không chỉ là một câu chuyện cổ mà còn là một phần đáng tự hào trong văn hóa dân tộc.
Bài tham khảo Mẫu 11
Tiếng gió lay nhẹ ngoài hiên cùng những câu chuyện bà thường kể đã đưa em bước vào thế giới cổ tích đầy màu sắc. Trong những câu chuyện ấy, Sọ Dừa để lại cho em nhiều ấn tượng bởi nhân vật chính có vẻ ngoài khác thường nhưng lại sở hữu những phẩm chất đáng quý. Từ một chàng trai bị mọi người coi thường, Sọ Dừa đã chứng minh rằng vẻ đẹp và giá trị của một con người nằm ở tài năng, lòng nhân hậu và nghị lực. Câu chuyện vì thế luôn khiến em vừa tò mò vừa cảm phục mỗi khi nhớ lại.
Ngày xưa, có một người phụ nữ nghèo làm thuê cho một phú ông. Một hôm, bà vào rừng lấy củi giữa trời nắng nóng rồi khát nước nhưng chẳng tìm thấy giếng nào. Bỗng bà nhìn thấy một chiếc sọ dừa chứa đầy nước mưa nên uống cạn. Sau đó, bà mang thai và sinh ra một đứa bé có hình dáng tròn lẳn như một chiếc sọ dừa. Người mẹ buồn bã nhưng đứa bé lại nói rằng mình vẫn có thể làm việc để giúp mẹ. Từ đó, Sọ Dừa ở nhà chăn bò cho phú ông. Dù có hình dáng khác lạ, chàng chăn bò rất giỏi, đàn bò ngày nào cũng được chăm sóc cẩn thận và béo tốt. Ba cô con gái của phú ông thường thay nhau mang cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị luôn tỏ vẻ khinh thường, chỉ có cô út đối xử với chàng bằng lòng thương cảm và sự chân thành. Cô út nhận ra Sọ Dừa tuy có vẻ ngoài khác thường nhưng rất hiền lành và chăm chỉ. Thấy con gái út ngày càng quý mến Sọ Dừa, phú ông không muốn gả con cho một người nghèo như chàng.
Sọ Dừa nhờ mẹ đến hỏi cưới cô út. Phú ông đưa ra rất nhiều sính lễ khó khăn với mong muốn làm chàng bỏ cuộc. Thế nhưng Sọ Dừa đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ khiến phú ông không thể từ chối. Ngày cưới, mọi người vô cùng bất ngờ khi Sọ Dừa hiện ra là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Sau khi kết hôn, Sọ Dừa chăm chỉ học hành và thi đỗ trạng nguyên. Trước khi đi sứ, chàng đưa cho vợ một số vật phòng thân và dặn nàng cẩn thận. Hai cô chị vì ghen ghét nên tìm cách hãm hại em gái. Cô út bị đẩy xuống biển nhưng nhờ mang theo những vật Sọ Dừa dặn nên nàng vượt qua được nguy hiểm. Cuối cùng, nàng gặp lại chồng và vợ chồng đoàn tụ. Khi trở về, Sọ Dừa giúp vợ được minh oan, còn hai người chị phải xấu hổ vì việc làm của mình.
Em rất khâm phục cô út vì nàng không nhìn người khác bằng vẻ bề ngoài mà biết trân trọng phẩm chất bên trong. Em cũng ấn tượng với Sọ Dừa bởi chàng luôn chăm chỉ, thông minh và không để những lời coi thường làm mình bỏ cuộc. Câu chuyện giúp em hiểu rằng mỗi người đều có những điểm đáng quý riêng, vì thế không nên đánh giá người khác chỉ dựa vào ngoại hình. Em tự nhắc mình phải biết tôn trọng mọi người và luôn cố gắng bằng khả năng của bản thân.
Sọ Dừa đã khép lại bằng một kết thúc vui vẻ, khi người tốt được sống hạnh phúc còn những kẻ ích kỉ phải nhận ra lỗi lầm. Câu chuyện khiến em thêm tin rằng sự chân thành và nghị lực có thể giúp con người vượt qua những rào cản tưởng như rất lớn. Em sẽ luôn ghi nhớ bài học về cách nhìn nhận con người bằng tấm lòng thay vì vẻ ngoài. Đó là điều đẹp đẽ mà câu chuyện cổ tích này đã để lại trong em.
Bài tham khảo Mẫu 12
Hình ảnh một cây khế sai trĩu quả bên góc vườn nhỏ từng khiến em nhớ đến câu chuyện mà em đã đọc trong những trang truyện cổ tích. Cây khế không có những lâu đài nguy nga hay những vị vua quyền lực, nhưng lại hấp dẫn em bởi câu chuyện về hai anh em với tính cách hoàn toàn trái ngược. Một người hiền lành, chăm chỉ, một người tham lam và ích kỉ. Qua những biến cố xảy ra, em càng hiểu rằng cách sống của mỗi người sẽ quyết định điều họ nhận được trong cuộc đời.
Ngày xưa, có hai anh em mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Khi trưởng thành, người anh lấy vợ rồi trở nên tham lam, chỉ muốn giữ hết tài sản cho mình. Người em hiền lành nên không tranh giành mà chỉ nhận một túp lều nhỏ cùng một cây khế trước nhà. Vợ chồng người em ngày ngày chăm chỉ làm ăn, sống bằng những quả khế trong vườn. Đến mùa, cây khế ra rất nhiều quả vàng óng, nhưng một hôm có một con chim lớn bay đến ăn khế. Người em buồn bã than rằng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình. Con chim liền nói rằng ăn một quả sẽ trả một cục vàng và dặn người em chuẩn bị một chiếc túi ba gang để mang theo. Người em nghe lời, may một chiếc túi vừa đủ rồi cưỡi lên lưng chim. Chim đưa chàng bay qua những vùng trời rộng lớn đến một hòn đảo đầy vàng bạc. Người em chỉ lấy vừa đủ số vàng trong chiếc túi rồi trở về. Nhờ số vàng ấy, cuộc sống của gia đình trở nên đầy đủ hơn nhưng người em vẫn sống giản dị và chăm chỉ.
Người anh biết chuyện thì vô cùng tò mò và tham lam. Hắn tìm đến hỏi em về mọi việc rồi đề nghị đổi toàn bộ tài sản lấy cây khế. Người em đồng ý vì không muốn tranh giành. Sau khi có cây khế, người anh ngày ngày chờ con chim đến. Khi chim xuất hiện, hắn cũng than thở giống em mình và được chim hứa trả vàng. Thế nhưng thay vì chuẩn bị chiếc túi vừa phải, người anh may một chiếc túi thật lớn với mong muốn lấy được thật nhiều vàng. Chim đưa hắn đến đảo vàng. Người anh thấy vàng bạc trước mắt thì tham lam lấy đầy túi, không muốn bỏ lại thứ gì. Trên đường trở về, vì chiếc túi quá nặng, người anh gặp nguy hiểm rồi đánh rơi hết số vàng. Cuối cùng, hắn trở về trong sự ân hận. Từ đó, người anh hiểu rằng lòng tham chỉ đem lại đau khổ, còn người em vẫn sống cuộc đời bình yên bằng chính sức lao động của mình.
Em thích nhất nhân vật người em vì anh hiền lành nhưng không hề yếu đuối, luôn biết bằng lòng với những gì mình có và chăm chỉ làm việc. Ngược lại, người anh khiến em không đồng tình vì lòng tham đã khiến anh đánh mất cả những gì đáng quý. Câu chuyện giúp em hiểu rằng con người cần biết trân trọng thành quả lao động và không nên quá tham lam trước những lợi ích vật chất. Em cũng tự nhắc mình phải biết hài lòng, chia sẻ và sống chân thành với những người xung quanh.
Mỗi lần nhìn những chùm khế vàng trong vườn, em lại nhớ đến câu chuyện về hai anh em. Cây khế trong truyện không chỉ đem đến một câu chuyện kì thú mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về lòng tham và sự lương thiện. Em mong mình luôn biết sống vừa đủ, không chạy theo những điều vượt quá khả năng của bản thân. Bởi một cuộc sống bình yên được xây dựng từ sự chăm chỉ và lòng tốt luôn đáng quý hơn những thứ có được nhờ tham lam.
Bài tham khảo Mẫu 13
Dòng nước cuồn cuộn mỗi khi mùa mưa về khiến em liên tưởng đến những câu chuyện xưa giải thích về sức mạnh của thiên nhiên. Sơn Tinh, Thủy Tinh là truyền thuyết em đặc biệt yêu thích bởi câu chuyện vừa kì ảo vừa gắn với cuộc sống của người dân Việt Nam từ bao đời. Hình ảnh Sơn Tinh chống lại những trận nước dữ đã để lại trong em sự khâm phục. Qua câu chuyện, em còn hiểu thêm về ước mong chế ngự thiên tai của cha ông ta.
Ngày xưa, vua Hùng thứ mười tám có một người con gái xinh đẹp tên là Mị Nương. Nàng dịu dàng, nết na nên nhà vua rất yêu thương. Khi Mị Nương đến tuổi lấy chồng, có hai chàng trai tài giỏi cùng đến cầu hôn. Một người là Sơn Tinh, chúa vùng non cao, có tài dời núi, dựng đồi. Người kia là Thủy Tinh, chúa vùng sông nước, có khả năng hô mưa gọi gió. Cả hai đều tài giỏi khiến vua Hùng khó lựa chọn. Cuối cùng, nhà vua đưa ra điều kiện rằng ai mang sính lễ đến trước vào sáng hôm sau sẽ được cưới Mị Nương. Sính lễ gồm voi chín ngà, gà chín cựa và ngựa chín hồng mao. Ngay từ sáng sớm, Sơn Tinh đã chuẩn bị đầy đủ lễ vật và đến trước. Vua Hùng giữ đúng lời hứa, gả Mị Nương cho Sơn Tinh. Sơn Tinh đưa nàng về núi trong niềm vui của mọi người.
Thủy Tinh đến sau, biết Mị Nương đã được gả cho Sơn Tinh thì vô cùng tức giận. Chàng lập tức dâng nước lên cao, gọi mưa lớn và làm cho sông suối cuồn cuộn. Nước mỗi lúc một dâng cao, tràn vào ruộng đồng và đe dọa cuộc sống của người dân. Sơn Tinh không hề sợ hãi mà dùng phép thuật nâng núi, dựng đồi để ngăn dòng nước. Nước dâng đến đâu, núi lại cao đến đó. Cuộc chiến kéo dài nhiều ngày nhưng cuối cùng Thủy Tinh đành rút quân. Tuy nhiên, vì vẫn mang lòng tức giận, hằng năm Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Sơn Tinh vẫn kiên cường chống lại, bảo vệ cuộc sống của người dân. Người xưa cho rằng đó chính là nguồn gốc của những trận lũ lụt xảy ra hằng năm.
Em rất khâm phục Sơn Tinh vì chàng có sức mạnh phi thường và luôn bảo vệ người dân trước thiên tai. Hình ảnh núi non liên tục được nâng cao để ngăn nước lũ khiến em vừa hồi hộp vừa thích thú. Qua câu chuyện, em hiểu rằng từ xa xưa, con người đã luôn mong muốn vượt qua thiên tai để bảo vệ cuộc sống. Em cũng nhận ra rằng trước những khó khăn, chúng ta cần có ý chí, sự đoàn kết và tinh thần không bỏ cuộc.
Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh đã giúp em hiểu thêm về cách người xưa nhìn nhận những hiện tượng thiên nhiên quanh mình. Dù câu chuyện mang màu sắc thần kì, em vẫn cảm nhận được ước mơ rất đẹp của con người về một cuộc sống bình yên. Em sẽ ghi nhớ hình ảnh Sơn Tinh kiên cường trước dòng nước dữ như một biểu tượng của nghị lực. Mỗi khi mùa mưa đến, câu chuyện ấy lại khiến em càng thêm yêu những truyền thuyết giàu ý nghĩa của dân tộc.
Bài tham khảo Mẫu 14
Mặt hồ xanh biếc giữa lòng Hà Nội luôn mang một vẻ đẹp rất riêng, nhất là vào những buổi sáng khi hàng cây ven hồ soi bóng xuống làn nước trong veo. Từ nhỏ, em đã tò mò về tên gọi Hồ Gươm và câu chuyện lịch sử gắn liền với nơi ấy. Khi đọc Sự tích Hồ Gươm, em càng thích thú trước hình ảnh thanh gươm thần và người anh hùng Lê Lợi. Câu chuyện giúp em hiểu thêm về tinh thần yêu nước và khát vọng giành lại độc lập của cha ông.
Ngày xưa, đất nước ta bị giặc Minh đô hộ, cuộc sống của nhân dân vô cùng khổ cực. Lê Lợi đứng lên tập hợp nghĩa quân chống lại quân xâm lược. Trong một lần đánh cá, một người lính tên là Lê Thận kéo lưới lên thì thấy một thanh sắt có hình dáng giống lưỡi gươm. Anh đem về nhà nhưng chưa biết đó là vật gì. Sau này, khi đến tham gia nghĩa quân Lam Sơn, Lê Thận nhận ra thanh sắt ấy chính là lưỡi gươm thần. Trong một lần khác, Lê Lợi tìm thấy chuôi gươm có khắc chữ Thuận Thiên. Khi ghép chuôi với lưỡi, thanh gươm trở nên hoàn chỉnh và phát sáng. Lê Lợi hiểu rằng đây là thanh gươm do trời ban để giúp nghĩa quân đánh giặc. Từ đó, ông cùng nghĩa quân càng thêm quyết tâm chiến đấu. Thanh gươm thần trở thành nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao giúp nghĩa quân vượt qua nhiều trận chiến.
Nhờ có sự đoàn kết và quyết tâm, nghĩa quân Lam Sơn ngày càng lớn mạnh. Lê Lợi cùng các tướng sĩ chiến đấu kiên cường, từng bước đánh đuổi quân Minh ra khỏi đất nước. Cuối cùng, quân Minh thất bại và phải rút về nước. Đất nước trở lại thanh bình, nhân dân được sống trong những ngày yên ổn. Một hôm, Lê Lợi đi thuyền trên hồ, bỗng một con rùa vàng nổi lên mặt nước. Rùa tiến đến gần thuyền và nói rằng Long Quân sai đến xin lại thanh gươm thần. Lê Lợi hiểu rằng sứ mệnh của thanh gươm đã hoàn thành nên trao gươm cho rùa vàng. Rùa ngậm thanh gươm rồi lặn xuống mặt hồ. Từ đó, hồ được gọi là Hồ Hoàn Kiếm, nghĩa là hồ trả lại gươm, sau này thường được gọi là Hồ Gươm.
Em rất thích chi tiết rùa vàng xuất hiện để nhận lại thanh gươm, bởi nó khiến câu chuyện trở nên kì bí và giàu ý nghĩa. Qua câu chuyện, em cảm nhận được sức mạnh của lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của nhân dân ta. Thanh gươm thần tuy mang màu sắc huyền thoại nhưng cũng thể hiện niềm tin của người xưa vào chính nghĩa. Em càng thêm tự hào về truyền thống đấu tranh bảo vệ đất nước của cha ông.
Ngày nay, Hồ Gươm vẫn nằm giữa lòng Hà Nội như một dấu ấn đẹp của lịch sử và truyền thuyết dân tộc. Mỗi khi nhìn hình ảnh mặt hồ yên ả, em lại nhớ đến câu chuyện về thanh gươm thần năm xưa. Câu chuyện giúp em biết trân trọng cuộc sống hòa bình và những gì thế hệ trước đã nỗ lực bảo vệ. Em mong mình luôn biết yêu quê hương, tự hào về truyền thống dân tộc và cố gắng học tập thật tốt.
Bài tham khảo Mẫu 15
Bên lũy tre xanh rì rào trong gió, em thường hình dung ra những câu chuyện dân gian đã được ông bà kể từ bao đời. Trong kho tàng cổ tích Việt Nam, Cây tre trăm đốt là câu chuyện khiến em thích thú bởi những tình tiết bất ngờ và phép màu kì diệu. Nhân vật anh nông dân tuy nghèo khó nhưng chăm chỉ, thật thà, còn phú ông lại tham lam và gian xảo. Qua câu chuyện, em càng hiểu rằng người sống ngay thẳng, chịu khó sẽ được bảo vệ, còn kẻ chuyên lừa lọc cuối cùng sẽ phải nhận hậu quả.
Ngày xưa, có một anh nông dân nghèo làm thuê cho một phú ông giàu có. Anh rất chăm chỉ, ngày ngày làm việc từ sáng sớm đến tối khuya mà không một lời than vãn. Thấy anh khỏe mạnh, thật thà và chịu khó, phú ông hứa rằng nếu anh làm việc chăm chỉ trong ba năm, ông sẽ gả con gái cho anh. Tin vào lời hứa ấy, anh nông dân càng cố gắng làm việc. Suốt ba năm, anh làm đủ mọi việc nặng nhọc trong nhà và ngoài đồng. Đến ngày hết hạn, anh vui mừng nghĩ rằng mình sắp được phú ông giữ lời hứa. Thế nhưng phú ông vốn tham lam nên không muốn gả con gái cho người nghèo. Ông ta tìm cách lừa anh nông dân và bảo anh vào rừng tìm một cây tre có đủ một trăm đốt để làm đám cưới. Anh nông dân thật thà tin lời, lập tức lên đường. Đến khu rừng, anh tìm mãi mà không thấy cây tre nào có đủ một trăm đốt. Cuối cùng, anh ngồi xuống dưới gốc cây, vừa buồn vừa thất vọng vì nghĩ rằng mình đã bị lừa.
Bỗng một ông Bụt hiện lên và hỏi chuyện. Biết anh nông dân bị phú ông lừa, Bụt chỉ cho anh cách ghép một trăm đốt tre thành một cây tre hoàn chỉnh. Anh làm theo lời Bụt rồi vui mừng gánh cây tre trở về. Khi nhìn thấy cây tre dài có đủ một trăm đốt, phú ông vô cùng kinh ngạc nhưng vẫn cố chối bỏ lời hứa. Đúng lúc ấy, anh nông dân nhớ đến câu thần chú Bụt dặn và nói lên hai tiếng khiến các đốt tre dính chặt vào nhau. Phú ông hoảng sợ khi thấy mình bị dính vào cây tre. Ông van xin anh nông dân tha lỗi và hứa sẽ thực hiện đúng lời đã nói. Anh nông dân đồng ý giúp phú ông thoát ra với điều kiện ông phải giữ lời hứa. Cuối cùng, phú ông tổ chức đám cưới và gả con gái cho anh. Mọi người trong làng đều vui mừng vì anh nông dân hiền lành cuối cùng cũng có được hạnh phúc xứng đáng.
Em rất thích chi tiết cây tre trăm đốt xuất hiện nhờ phép màu của Bụt, bởi nó tạo nên bước ngoặt bất ngờ cho câu chuyện. Em cũng cảm phục anh nông dân vì dù nghèo khó, anh vẫn chăm chỉ, thật thà và luôn tin vào lời hứa. Qua câu chuyện, em hiểu rằng không nên dùng sự gian dối để đối xử với người khác, bởi những việc làm không tốt sớm muộn cũng phải nhận hậu quả. Em tự nhắc mình phải sống ngay thẳng, biết giữ lời hứa và không lợi dụng lòng tin của người khác.
Câu chuyện Cây tre trăm đốt khép lại bằng niềm vui của anh nông dân và bài học dành cho phú ông. Hình ảnh cây tre vừa kì diệu vừa gần gũi khiến câu chuyện trở nên đáng nhớ trong lòng em. Em càng hiểu rằng sự chăm chỉ, thật thà và kiên trì luôn là những phẩm chất đáng quý. Em sẽ cố gắng sống chân thành, giữ lời hứa và không bao giờ vì lợi ích của mình mà làm điều khiến người khác tổn thương.
- Top 105 Bài văn kể lại một truyện dân gian mà em yêu thích nhất bằng lời văn của mình hay nhất
- Top 105 Bài văn kể lại câu chuyện "Người bán quạt may mắn" hay nhất
- Top 105 Bài văn kể lại câu chuyện một phát minh nho nhỏ hay nhất
- Top 105 Bài văn kể lại một câu chuyện cảm động về tình người để thấy rằng cuộc sống này thật ý nghĩa hay nhất
- Top 105 Bài văn kể lại một câu chuyện cổ tích mà em yêu thích hay nhất
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Top 105 Bài văn kể lại câu chuyện Cô bé bán diêm của An Đéc Xen khi em là người chứng kiến cảnh cô bé bán diêm trong đêm giao thừa hay nhất
- Top 105 Bài văn kể về tâm tình của cây lúa hay nhất
- Top 105 Bài văn tưởng tượng em về thăm trường cũ sau mười năm xa cách hay nhất
- Top 105 Bài văn tưởng tượng và xây dựng một câu chuyện về thế giới các loài vật (có sử dụng yếu tố miêu tả) hay nhất
- Top 105 Bài văn kể lại một câu chuyện có ba nhân vật: bà mẹ bị ốm, người con và một bà tiên hay nhất




Danh sách bình luận