Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
BẠN ĐÃ BIẾT GÌ VỀ SÓNG THẦN?
Khái niệm và đặc điểm
Sóng thần, trong tiếng Nhật gọi là tờ-su-na-mi(tsunami), là chuỗi sóng biển chu kì dài (từ vài phút tới hàng giờ), lan truyền với vận tốc lớn. Tuỳ theo độ sâu của đáy biển, vận tốc lan truyền sóng thần có thể đạt từ 720 km/giờ trở lên. Khi vào bờ, sóng thần có sức tàn phá rất ghê gớm.
Không như nhiều người tưởng, sóng thần không phải là những ngọn sóng ầm ầm, cuồn cuộn tiến vào đất liền mà người ta có thê mục kích* 2 và nghe được âm thanh của nó từ ngoài khơi xa. Ngay cả khi ngồi trên thuyền ngoài khơi, bạn cũng không thể biết nó từ ngoài khơi xa. Ngay cả khi ngồi trên thuyền ngoài khơi, bạn cũng không thể biết khi nào sóng thần bắt đầu xuất hiện. [...]. Do đó, bạn khó có thể nhận thấy dấu hiệu báo trước của một đợt sóng thần. Có thể vì thế mà trong phút chốc, cơn sóng thần do trận động đất mạnh ở Ấn Độ Dương gây ra ngày 26/12/2004 đã lấy đi mạng sống của hàng trăm nghìn người ở hơn chục quốc gia.
Khi sóng thần được tạo ra ở ngoài khơi xa, sóng còn rất nhỏ và yếu vì nước quá sâu nhưng đó là một chuỗi sóng có tốc độ rất cao, lên đến 800 km/giờ... Khi sóng thần dịch chuyển trên đại dương, chiều dài từ chóp sóng trước đến chóp sóng sau có thể cách xa hàng trăm ki-lô-mét hoặc hơn và độ cao chóp sóng chỉ khoảng vài mét. Do vậy, người ta không thể thấy dấu hiệu rõ ràng của sóng thần. Nói cách khác, sóng thần không phải là sự di chuyển của bề mặt sóng mà là toàn bộ khối nước. Sóng thần chỉ thật sự hiện nguyên hình với sức mạnh huỷ diệt kinh hoàng khi nó đến gần bờ. Ở vùng nước nông, một con sóng thần khổng lồ có thể cao đến 30 m hoặc hơn (ngọn sóng thần tấn công vịnh Li-tu-y-a(Lituya)* 2, A-lát-xca (Alaska)3 vào năm 1958 cao đến 525 m).
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra sóng thần chủ yếu do động đất, ngoài ra còn do núi lửa phun trào, lở đất và các vụ nổ dưới đáy biển (kể cả các vụ thử hạt nhân dưới nước)... Thảm họa sóng thần chấn động ngày 26/12/2004 là hệ quả của một trận động đất xảy ra do va chạm giữa mảng Ấn Độ và mảng Bơ-ma (Burma), sau khi mảng Bơ-ma bất ngờ trôi lên, cao hơn mảng Ấn Độ. Đó là trận động đất cực mạnh với 9 độ rích-te (richter)1, lớn nhất trong bốn thập niên kể từ trận động đất Gút Phrai-đây (Good Friday)* 2 9,2 độ rích-te tấn công A-lát-xca vào năm 1964 và là trận lớn thứ tư kể từ năm 1900. Trận động đất lớn đến mức lan sang tận Xô-ma-li-a (Somalia)3, cách tâm chấn 4100 km. Tâm chấn động đất ở độ sâu 10 km, cách tây Su-ma-tra (Sumatra)4 khoảng 160 km, nằm trong khu vực “vòng đai lửa châu Á - Thái Bình Dương”.
Dấu hiệu sắp có sóng thần
Những người trên bờ biển khó biết sóng thần sắp tiến về phía mình. Dấu hiệu đầu tiên là nước biển chậm chạp cuộn lên với những con sóng khổng lồ, chứ không như sóng mạnh của một cơn bão sắp tới. Bỗng nhiên, mặt biển dao động nhiều hơn bình thường, sau đó nhiều bọt biển nổi lên, nước rút xuống nhanh và bất ngờ trong khoảng thời gian không phải thuỷ triều. Hoặc bạn có thể cảm thấy nước trong từng đợt sóng nóng bất thường và nghe thấy những âm thanh lạ... Do vậy, khi đứng trên bãi biển và nhìn thấy nước biển đột ngột rút nhanh xuống, bạn hãy thông báo cho mọi người xung quanh biết là sắp có sóng thần và di chuyển nhanh khỏi bãi biển, đến vùng cao hơn để trú ẩn trước khi sóng thần đến.
Các thảm họa sóng thần trong lịch sử
Sóng thần đã được nhắc đến từ thời thượng cổ. Năm 365, sóng thần tại A-lếch-xan-dri-a (Alexandria)5 làm hàng nghìn người thiệt mạng. Sóng thần tai hại nhất trong lịch sử loài người xảy ra vào ngày 27/8/1883, sau khi núi lửa Kra-ca-tô-a (Krakatoa)6 tại In-đô-nê-xi-a phun trào khiến 36 000 người thiệt mạng trên bờ biển Gia-va (Java)7 và Su-ma-tra. Ngày 15/6/1896, sóng thần cao 23 m làm hơn 26 000 người thiệt mạng trong một lễ hội tôn giáo ở Nhật Bản. Ngày 22/5/1960, sóng thần cao 11 m làm hơn 1 000 người thiệt mạng tại Chi-lê (Chile)8. Ngày 16/8/1976, hơn 5 000 người chết tại vịnh Mo-ro (Moro), Phi-líp-pin (Philippines) vì sóng thần. Ngày 17/7/1998, sóng thần làm hơn 2 100 người chết tại Pa-pua Niu Ghi-nê (Papua New Guinea)
(Theo Một số kiến thức về sóng thần, https://nhandan.vn, ngày 16/3/2022)
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
BẠN ĐÃ BIẾT GÌ VỀ SÓNG THẦN?
Khái niệm và đặc điểm
Sóng thần, trong tiếng Nhật gọi là tờ-su-na-mi(tsunami), là chuỗi sóng biển chu kì dài (từ vài phút tới hàng giờ), lan truyền với vận tốc lớn. Tuỳ theo độ sâu của đáy biển, vận tốc lan truyền sóng thần có thể đạt từ 720 km/giờ trở lên. Khi vào bờ, sóng thần có sức tàn phá rất ghê gớm.
Không như nhiều người tưởng, sóng thần không phải là những ngọn sóng ầm ầm, cuồn cuộn tiến vào đất liền mà người ta có thê mục kích* 2 và nghe được âm thanh của nó từ ngoài khơi xa. Ngay cả khi ngồi trên thuyền ngoài khơi, bạn cũng không thể biết nó từ ngoài khơi xa. Ngay cả khi ngồi trên thuyền ngoài khơi, bạn cũng không thể biết khi nào sóng thần bắt đầu xuất hiện. [...]. Do đó, bạn khó có thể nhận thấy dấu hiệu báo trước của một đợt sóng thần. Có thể vì thế mà trong phút chốc, cơn sóng thần do trận động đất mạnh ở Ấn Độ Dương gây ra ngày 26/12/2004 đã lấy đi mạng sống của hàng trăm nghìn người ở hơn chục quốc gia.
Khi sóng thần được tạo ra ở ngoài khơi xa, sóng còn rất nhỏ và yếu vì nước quá sâu nhưng đó là một chuỗi sóng có tốc độ rất cao, lên đến 800 km/giờ... Khi sóng thần dịch chuyển trên đại dương, chiều dài từ chóp sóng trước đến chóp sóng sau có thể cách xa hàng trăm ki-lô-mét hoặc hơn và độ cao chóp sóng chỉ khoảng vài mét. Do vậy, người ta không thể thấy dấu hiệu rõ ràng của sóng thần. Nói cách khác, sóng thần không phải là sự di chuyển của bề mặt sóng mà là toàn bộ khối nước. Sóng thần chỉ thật sự hiện nguyên hình với sức mạnh huỷ diệt kinh hoàng khi nó đến gần bờ. Ở vùng nước nông, một con sóng thần khổng lồ có thể cao đến 30 m hoặc hơn (ngọn sóng thần tấn công vịnh Li-tu-y-a(Lituya)* 2, A-lát-xca (Alaska)3 vào năm 1958 cao đến 525 m).
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra sóng thần chủ yếu do động đất, ngoài ra còn do núi lửa phun trào, lở đất và các vụ nổ dưới đáy biển (kể cả các vụ thử hạt nhân dưới nước)... Thảm họa sóng thần chấn động ngày 26/12/2004 là hệ quả của một trận động đất xảy ra do va chạm giữa mảng Ấn Độ và mảng Bơ-ma (Burma), sau khi mảng Bơ-ma bất ngờ trôi lên, cao hơn mảng Ấn Độ. Đó là trận động đất cực mạnh với 9 độ rích-te (richter)1, lớn nhất trong bốn thập niên kể từ trận động đất Gút Phrai-đây (Good Friday)* 2 9,2 độ rích-te tấn công A-lát-xca vào năm 1964 và là trận lớn thứ tư kể từ năm 1900. Trận động đất lớn đến mức lan sang tận Xô-ma-li-a (Somalia)3, cách tâm chấn 4100 km. Tâm chấn động đất ở độ sâu 10 km, cách tây Su-ma-tra (Sumatra)4 khoảng 160 km, nằm trong khu vực “vòng đai lửa châu Á - Thái Bình Dương”.
Dấu hiệu sắp có sóng thần
Những người trên bờ biển khó biết sóng thần sắp tiến về phía mình. Dấu hiệu đầu tiên là nước biển chậm chạp cuộn lên với những con sóng khổng lồ, chứ không như sóng mạnh của một cơn bão sắp tới. Bỗng nhiên, mặt biển dao động nhiều hơn bình thường, sau đó nhiều bọt biển nổi lên, nước rút xuống nhanh và bất ngờ trong khoảng thời gian không phải thuỷ triều. Hoặc bạn có thể cảm thấy nước trong từng đợt sóng nóng bất thường và nghe thấy những âm thanh lạ... Do vậy, khi đứng trên bãi biển và nhìn thấy nước biển đột ngột rút nhanh xuống, bạn hãy thông báo cho mọi người xung quanh biết là sắp có sóng thần và di chuyển nhanh khỏi bãi biển, đến vùng cao hơn để trú ẩn trước khi sóng thần đến.
Các thảm họa sóng thần trong lịch sử
Sóng thần đã được nhắc đến từ thời thượng cổ. Năm 365, sóng thần tại A-lếch-xan-dri-a (Alexandria)5 làm hàng nghìn người thiệt mạng. Sóng thần tai hại nhất trong lịch sử loài người xảy ra vào ngày 27/8/1883, sau khi núi lửa Kra-ca-tô-a (Krakatoa)6 tại In-đô-nê-xi-a phun trào khiến 36 000 người thiệt mạng trên bờ biển Gia-va (Java)7 và Su-ma-tra. Ngày 15/6/1896, sóng thần cao 23 m làm hơn 26 000 người thiệt mạng trong một lễ hội tôn giáo ở Nhật Bản. Ngày 22/5/1960, sóng thần cao 11 m làm hơn 1 000 người thiệt mạng tại Chi-lê (Chile)8. Ngày 16/8/1976, hơn 5 000 người chết tại vịnh Mo-ro (Moro), Phi-líp-pin (Philippines) vì sóng thần. Ngày 17/7/1998, sóng thần làm hơn 2 100 người chết tại Pa-pua Niu Ghi-nê (Papua New Guinea)
(Theo Một số kiến thức về sóng thần, https://nhandan.vn, ngày 16/3/2022)
Xác định thể loại của văn bản “Bạn đã biết gì về sóng thần”?
Xác định thể loại của văn bản “Bạn đã biết gì về sóng thần”?
- Dựa vào đặc điểm văn bản: cung cấp thông tin, có số liệu, giải thích hiện tượng.
- Xác định mục đích chính là thông tin chứ không phải kể chuyện hay biểu cảm
Thể loại: văn bản thông tin
Giải thích:
Văn bản trình bày khái niệm, nguyên nhân, dấu hiệu… của sóng thần nên thuộc văn bản thông tin. Loại văn bản này nhằm cung cấp tri thức khoa học cho người đọc.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin

Mục đích chính của văn bản trên là gì?
Mục đích chính của văn bản trên là gì?
- Đọc toàn văn, xác định nội dung chính được lặp lại.
- Từ đó rút ra mục đích chung của văn bản.
Mục đích: cung cấp kiến thức khoa học và cảnh báo về mực độ nguy hiểm của sóng thần, giúp người đọc nâng cao nhận thức và ý thức phòng tránh
Giải thích:
Văn bản nhằm cung cấp kiến thức về sóng thần và cảnh báo mức độ nguy hiểm. Qua đó giúp người đọc nâng cao nhận thức và ý thức phòng tránh thiên tai.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Tìm thành phần biệt lập trong câu văn sau và xác định đó là loại thành phần biệt lập nào: “Có thể vì thế mà trong phút chốc, cơn sóng thần do trận động đất mạnh ở Ấn Độ Dương gây ra ngày 26/12/2004 đã lấy đi mạng sống của hàng trăm nghìn người ở hơn chục quốc gia.”
Tìm thành phần biệt lập trong câu văn sau và xác định đó là loại thành phần biệt lập nào: “Có thể vì thế mà trong phút chốc, cơn sóng thần do trận động đất mạnh ở Ấn Độ Dương gây ra ngày 26/12/2004 đã lấy đi mạng sống của hàng trăm nghìn người ở hơn chục quốc gia.”
- Tìm các từ thể hiện thái độ, mức độ chắc chắn của người nói.
- Xác định loại thành phần biệt lập tương ứng.
Thành phần tình thái: "Có thể".
Dùng để thể hiện thái độ không chắc chắn của người nói về sự việ được nêu.
Giải thích:
Từ “có thể” là thành phần tình thái, thể hiện sự phỏng đoán, chưa chắc chắn. Nó cho thấy người viết không khẳng định tuyệt đối nguyên nhân sự việc.
- Thành phần biệt lập là thành phần phụ có tính độc lập với nòng cốt câu, không tham gia diễn đạt nghĩa sự việc của câu.
- Thành phần biệt lập gồm:
+ Thành phần phụ chú: bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu, thường được tách biệt bằng dấu gạch ngang, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn hoặc dấu hai chấm.
+ Thành phần gọi - đáp: gọi đáp, tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp.
+ Thành phần cảm thán: diễn tả cảm xúc của người nói.
+ Thành phần tình thái: diễn tả thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu
Link tham khảo: Thành phần biệt lập là gì? Phân loại thành phần biệt lập
Theo tác giả, những dấu hiệu nào báo sắp có sóng thần?
Theo tác giả, những dấu hiệu nào báo sắp có sóng thần?
- Tìm thông tin trong phần “Dấu hiệu sắp có sóng thần”.
- Liệt kê các dấu hiệu được nêu trong văn bản.
Những dấu hiệu báo sắp có sóng thần theo tác giả:
- Nước biển chậm chạp cuộn lên với những con sóng không đổ.
- Mặt biển dao động mạnh hơn bình thường.
- Nhiều bọt biển nổi lên.
- Nước rút xuống nhanh và bất ngờ trong khoảng thời gian không phải thuỷ triều.
- Nước trong từng đợt sóng nóng bất thường và nghe thấy những âm thanh lạ
Giải thích:
Các dấu hiệu như nước biển rút nhanh, mặt biển dao động mạnh, xuất hiện bọt biển, nước nóng bất thường… giúp cảnh báo nguy cơ sóng thần. Đây là những biểu hiện bất thường của biển trước khi sóng thần xảy ra.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Giả sử, em đang ở vùng có nguy cơ xảy ra hiện tượng sóng thần. Em hãy đề xuất những giải pháp để giúp người dân trong khu vực này phòng tránh tác hại của sóng thần
Giả sử, em đang ở vùng có nguy cơ xảy ra hiện tượng sóng thần. Em hãy đề xuất những giải pháp để giúp người dân trong khu vực này phòng tránh tác hại của sóng thần
Liên hệ thực tế, nêu suy nghĩ của bản thân
Đề xuất giải pháp cụ thể, thiết thực.
Giải pháp giúp người dân phòng tránh tác hại của sóng thần:
- Nâng cao nhận thức cho người dân về dấu hiệu và mức độ nguy hiểm của sóng thần.
- Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và hướng dẫn sơ tán kịp thời.
- Khi thấy nước biển rút nhanh bất thường, cần nhanh chóng rời khỏi bãi biển, di chuyển lên vùng cao an toàn.
- Tổ chức diễn tập phòng chống thiên tai định kì cho người dân.
- Quy hoạch khu dân cư hợp lí, hạn chế xây dựng ở những vùng ven biển có nguy cơ cao.
Giải thích:
Cần nâng cao nhận thức, xây dựng hệ thống cảnh báo, nhanh chóng di chuyển lên vùng cao khi có dấu hiệu nguy hiểm.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?
Xác định từ tượng thanh và từ tượng hình trong câu văn sau: “Không như nhiều người tưởng, sóng thần không phải là những ngọn sóng ầm ầm, cuồn cuộn tiến vào đất liền mà người ta có thể mục kích và nghe được âm thanh của nó từ ngoài khơi xa”
Xác định từ tượng thanh và từ tượng hình trong câu văn sau: “Không như nhiều người tưởng, sóng thần không phải là những ngọn sóng ầm ầm, cuồn cuộn tiến vào đất liền mà người ta có thể mục kích và nghe được âm thanh của nó từ ngoài khơi xa”
- Nhận diện từ tượng thanh (mô phỏng âm thanh) và tượng hình (gợi hình ảnh).
- Dựa vào đặc điểm âm thanh và hình ảnh gợi tả.
- Từ tượng thanh: “ầm ầm”.
- Từ tượng hình: “cuồn cuộn”
Giải thích:
“Ầm ầm” là từ tượng thanh gợi âm thanh mạnh của sóng.
“Cuồn cuộn” là từ tượng hình gợi hình ảnh sóng chuyển động dữ dội.
- Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ của sự vật, chẳng hạn: gập ghềnh, khẳng khiu, lom khom,…
- Từ tượng hình có tác dụng:
+ Làm tăng tính biểu cảm, biểu đạt của ngôn ngữ và làm miêu tả trở nên cụ thể và sinh động hơn. Vì đa số từ tượng hình đều là từ láy.
+ Giúp khả năng miêu tả, diễn tả cảnh vật, con người, thiên nhiên chi tiết, thực tế và đa dạng.
- Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh trong thực tế, chẳng hạn: khúc khích, róc rách, tích tắc…
- Tác dụng của từ tượng thanh: Mang giá trị biểu cảm cao; có tác dụng gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, âm thanh một cách sinh động cụ thể; thường được sử dụng trong các sáng tác văn chương và lời ăn tiếng nói hằng ngày.
Link tham khảo:
Theo tác giả, khi đứng trên bãi biển và nhìn thấy nước biển đột ngột rút nhanh xuống, chúng ta nên làm gì?
Theo tác giả, khi đứng trên bãi biển và nhìn thấy nước biển đột ngột rút nhanh xuống, chúng ta nên làm gì?
- Xác định thông tin ở đoạn hướng dẫn ứng phó.
- Trình bày lại hành động cần làm.
Theo tác giả, khi đứng trên bãi biển và nhìn thấy nước biển đột ngột rút nhanh xuống, chúng ta nên làm: thông báo cho mọi người xung quanh, di chuyển nhanh khỏi bãi biển, đến vùng cao hơn để trú ẩn
Giải thích:
Khi thấy nước biển rút nhanh, cần báo cho mọi người và di chuyển lên vùng cao. Đây là cách tránh nguy hiểm kịp thời trước khi sóng thần ập đến.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Xác định thành phần phụ chú trong câu văn sau: “Sóng thần, trong tiếng Nhật gọi là tsunami, là chuỗi sóng biển chu kì dài (từ vài phút tới hàng giờ), lan truyền với vận tốc lớn”
Xác định thành phần phụ chú trong câu văn sau: “Sóng thần, trong tiếng Nhật gọi là tsunami, là chuỗi sóng biển chu kì dài (từ vài phút tới hàng giờ), lan truyền với vận tốc lớn”
- Xác định phần chú thích bổ sung nằm trong câu.
- Chú ý đoạn đặt trong ngoặc đơn hoặc dấu phẩy giải thích.
Thành phần phụ chú trong câu văn sau: là phần từ ngữ nằm trong ngoặc đơn:(từ vài phút tới hàng giờ), làm rõ nghĩa cho phần câu là chuỗi sóng biển chu kì dài
Giải thích:
Cụm “(từ vài phút tới hàng giờ)” là thành phần phụ chú. Nó bổ sung thông tin làm rõ chu kì của sóng thần.
- Thành phần biệt lập là thành phần phụ có tính độc lập với nòng cốt câu, không tham gia diễn đạt nghĩa sự việc của câu.
- Thành phần biệt lập gồm:
+ Thành phần phụ chú: bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu, thường được tách biệt bằng dấu gạch ngang, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn hoặc dấu hai chấm.
+ Thành phần gọi - đáp: gọi đáp, tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp.
+ Thành phần cảm thán: diễn tả cảm xúc của người nói.
+ Thành phần tình thái: diễn tả thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu
Link tham khảo: Thành phần biệt lập là gì? Phân loại thành phần biệt lập
Phân tích tác dụng việc sử dụng số liệu trong câu văn: “Ở vùng nước nông, một con sóng thần khổng lồ có thể cao đến 30m hoặc hơn (ngọn sóng thần tấn công vịnh Lytuya, Alaska vào năm 1958 cao đến 525m)”
Phân tích tác dụng việc sử dụng số liệu trong câu văn: “Ở vùng nước nông, một con sóng thần khổng lồ có thể cao đến 30m hoặc hơn (ngọn sóng thần tấn công vịnh Lytuya, Alaska vào năm 1958 cao đến 525m)”
- Xác định các số liệu cụ thể trong câu.
- Nêu tác dụng về tính chính xác và thuyết phục.
- Số liệu: 30m, năm 1958 cao đến 525m
-Tác dụng:
+ Làm cho thông tin về độ cao của sóng thần cụ thể, dễ hiểu, rõ ràng, làm tăng sức thuyết phục, hấp dẫn, gợi sự tò mò của người đọc.
+Góp phần khẳng định cơ chế hoạt động bất thường và sự nguy hiểm của sóng thần. Từ đó giúp người đọc có những thông tin hữu ích cho bản thân.
Giải thích:
Các số liệu “30m”, “525m” giúp thông tin cụ thể, rõ ràng và đáng tin cậy. Đồng thời nhấn mạnh mức độ nguy hiểm, sức tàn phá khủng khiếp của sóng thần.
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Nêu nội dung bao quát của văn bản trên
Nêu nội dung bao quát của văn bản trên
Cung cấp thông tin cơ bản về sóng thần: định nghĩa, cơ chế, nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết
Giải thích:
Văn bản cung cấp kiến thức về sóng thần: khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết và hậu quả
- Văn bản thông tin được viết nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho người đọc.
- Để truyền tải thông tin sinh động, hiệu quả, văn bản thông tin có thể sử dụng kết hợp nhiều nguồn thông tin, nhiều cách trình bày (dạng chữ, dạng hình ảnh/ sơ đồ/ bảng biểu,…), nhiều phương thức biểu đạt (thuyết minh, miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,…)
- Các yếu tố hình thức: nhan đề - sapo - đề mục – chữ in nghiêng, in đậm – phương tiện phi ngôn ngữ
- Một số mô hình tổ chức thông tin chính:
+ Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian
+ Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả
+ Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề
+ Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản
Link tham khảo: Văn bản thông tin là gì? Một số yếu tố của văn bản thông tin
Anh/Chị rút ra bài học gì sau khi đọc văn bản?
Anh/Chị rút ra bài học gì sau khi đọc văn bản?
- Rút ra bài học từ nội dung văn bản.
- Lí giải ngắn gọn ý nghĩa thực tế.
- Chúng ta cần tích cực tìm hiểu, lí giải các hiện tượng tự nhiên để phòng tránh.
- Lí giải:
+ Thiên nhiên còn rất nhiều bí ẩn mà con người chưa tìm hiểu cũng như chế ngự được.
+ Tìm hiểu sẽ giúp chúng ta chủ động, bình tĩnh, kịp thời tìm ra phương án tối ưu để giúp mình, giúp mọi người xung quanh
+…
Giải thích:
Cần chủ động tìm hiểu kiến thức về thiên tai để bảo vệ bản thân và cộng đồng. Hiểu biết sẽ giúp con người bình tĩnh, ứng phó kịp thời và giảm thiểu thiệt hại.
Thông điệp (của văn bản) là ý tưởng quan trọng nhất, là bài học, cách ứng xử mà tác giả muốn gửi đến người đọc.
Link tham khảo: Thông điệp là gì?

Các bài tập cùng chuyên đề
Thơ sáu chữ, bảy chữ là thể thơ như thế nào?
Hãy nêu điểm giống và khác nhau giữa thơ sáu chữ và thơ bảy chữ.
Nối khái niệm ở cột A với đặc điểm tương ứng ở cột B:

Vần liền, vần cách nằm trong nhóm vần chân hay vần lưng?
Hãy xác định bố cục của bài thơ Mây và sóng (Ta-go). Từ đó, xác định cảm hứng chủ đạo của bài thơ này.
Trong khổ thơ sau, nhà thơ đã sử dụng loại vần nào?
“Đầu những hồn thân tự thuở xưa
Những hồn quen dài gió dầm mưa
Những hỗn chất phác hiện như đất
Khoai sẵn tinh quê rất thiệt thà.”
(Tố Hữu, Nhớ đồng)
Đọc VB sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
CHÍN CON RỒNG NHỎ BAY LÊN
Trần Quốc Toàn
Ghe ngon vừa nghe trống lện
Vẫy gió một trăm khăn hồng
Một trăm mái chèo khuấy nước
Bay lên chín con sông rồng.
Bay lên sông mẹ nghìn giọt
Đi tìm Sóc Trăng đồng chua
Đi tìm Trà Vinh đất khát
Chúng em thay trời làm mưa.
Giọt giọt mồ hôi mặn chát.
Đã ngọt trong cơn mưa vui
Mái dầm thiếu nhi thọc lét
Sông cười sóng reo thành lời.
Sáng nay ghe ngo vào hội
Mặt sông Cửu Long sáng ngời
Nhịp xuân tay đua gắng gỏi
Ghe ngo nối đất với trời...
(In trong Bữa tiệc của loài vật, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
VỚI CON
Vũ Quần Phương
1. Bồng bồng!
Bố bồng con trên tay
Buổi chiều nay, buổi chiều nay
Khói hàng xóm bay là trên bếp
Sau trận mưa trời mát hơi may.
2. Bố bế con ra ngoài mái hiên
Sông xa, trời rộng, mắt con nhìn
Cánh buồm trôi đấy, mây bay đấy!
Cây giữa vườn cây, cỏ trước thềm.
3. Bố bế con ra với phố phường
Xe chạy người đi như nước tuôn
Cây xanh, ngói đỏ, con đừng lạ
Muối mặn, gừng cay, hoa trái thơm.
4. Bố bế con ra với cuộc đời
Con ơi yêu lấy mặt con người
Tươi như quả chín, hồng như thắp
Sau nét âu lo, vẫn nét cười.
5. Bố nhấc con lên, bố nhấc lên
Dâng qua vai bố để con nhìn
Mai sau thành bạn đi cùng bố
Đường rộng trời ta xa mãi thêm.
(In trong Tác phẩm văn học được giải thưởng nhà nước, Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vết thời gian, NXB Hội Nhà văn, 2014)
Vẽ sơ đồ tóm tắt luật, niêm, vần, nhịp, đối của thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt luật Đường.
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi bên dưới:
MỜI TRẦU
Hồ Xuân Hương
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi
(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 14, NXB Khoa học xã hội, 2000)
a. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
b. Bài thơ được làm theo luật bằng hay luật trắc?
c. Chỉ ra bài thơ đã tuân thủ luật, niêm, vần, đối của thể thơ như thế nào (kẻ và hoàn thành bảng sau vào vở):
|
Luật |
|
|
Niêm |
|
|
Vần |
|
|
Đối |
|
d. Nhận xét về cách ngắt nhịp của bài thơ.
đ. Xác định bố cục của bài thơ.
e. Những từ ngữ, hình ảnh nào trong bài thơ thể hiện được tình cảm, cảm xúc của người viết?
g. Cho biết cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
THU VỊNH
Nguyễn Khuyến
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
(In trong Nguyễn Khuyến – Tác phẩm chọn lọc, Lại Văn Hùng (giới thiệu và tuyển chọn), NXB Giáo dục, 2009)
a.Xác định bố cục của bài thơ.
b. Bài thơ được làm theo luật bằng hay luật trắc? Làm rõ bài thơ đã tuân thủ quy định về luật, niêm, vần, đối của thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường bằng cách điền vào bảng sau (làm vào vở):
|
Luật |
|
|
Niêm |
|
|
Vần |
|
|
Đối |
|
c. Cảnh mùa thu được thể hiện ra sao qua sáu câu thơ đầu? Khung cảnh ấy góp phần thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của tác giả?
d. Trong các cặp câu 3 - 4, 5 – 6, tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ nào? Nêu tác dụng của chúng.
e. Bài thơ được ngắt nhịp như thế nào? Nhận xét về cách ngắt nhịp đó.
Em hiểu gì về hai câu thơ cuối? Theo em, cảm xúc của tác giả ở hai câu thơ này có sự thay đổi ra sao so với các câu thơ trên?
f. Cho biết cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
Tư tưởng của tác phẩm văn học được biểu hiện qua những yếu tố nào?
a. Nhân vật chính, người kể chuyện, đề tài, chủ đề,…
b. Đề tài, chủ đề, nhân vật,….
c. Hình tượng nghệ thuật, đề tài, chủ đề, cảm hứng nhân đạo,….
d. Hình tượng nghệ thuật, nhân vật, cảm hứng chủ đạo,….
Đọc đoạn trích sau và liệt kê những chi tiết miêu tả lời nói, thái độ, hành động của nhân vật Xa-vu-skin, chọn phân tích một chi tiết mà em thích nhất:
- Cô An-na Va-xi-li-ép-na, cô nhìn xem này!
Nó gắng sức vần một tảng tuyết bên dưới bết những đất cùng với đám cỏ mục nát vẫn còn sót lại. Ở đây, trong một cái hố, có một cục tròn bọc trong những tấm lá đã mủn nát mỏng dính như mạng nhện. Qua lớp lá thòi ra những đầu kim nhọn hoắt.
An-na Va-xi-li-ép-na đoán ra đấy là con nhím.
- Nó tự ủ ấm mới khéo chứ! – Xa-vu-skin ân cần đắp cho con nhím tấm chăn mộc mạc của nó. Rồi thằng bé bới tuyết cạnh một khúc rễ khác. Trước mắt là một cái hang nhỏ xíu, trên vòm có những trụ băng rủ xuống như tua viền. Trong hang, một con nhái màu nâu nom như bằng bìa cứng ngồi chồm hổm, làn da căng dính xương bóng như đánh véc-ni, Xa-vu-skin sờ vào con nhái, nó không động đậy.
- Vờ vĩnh! – Xa-vu-skin bật cười – Làm như đã chết rồi. Thế mà nắng ấm lên là nó nhảy ngay đi cho mà xem, ôi chao, cứ là như choi choi ấy! Thằng bé tiếp tục đưa An-na Va-xi-li-ép-na đi thăm cái thế giới bé nhỏ của mình.
Dưới gốc sồi còn nhiều khách trọ khác: bọ dừa, thằn lằn, rệp cây. Một sống ẩn kín dưới các nhánh rễ, số khác rúc vào những kẽ vỏ cây. Con nào cũng gầy nhom, dường như bên trong rỗng tuếch, chúng ngủ vùi cho qua mùa đông. Cái cây cường tráng, tràn trề nhựa sống tích tụ quanh nó nhiều sinh lực ấm áp đến nỗi loài thú đáng thương không thể tìm đâu ra căn nhà tốt hơn.
(Iu-ri Na-ghi-bin, Cây sồi mùa đông)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
TÍ BỤI
Quế Hương
Hồi mới đến ở, nhà tôi cứ tì tì mất dép. Đôi săng đan con mới xó chân ngày mồng một Tết, mồng hai phải đi dép cũ. Anh bạn đến chơi lịch sự cởi giày ở tầm chùi chân trước hiên, ra về chỉ còn đối vớ! Học trò đến thăm có đứa đi chân không về. Tôi than phiền với người hàng xóm, chị ấy bảo: “Thằng Tí bụi chứ ai vô đây. Sư tổ ăn cắp vặt. Cô vô nhà hắn mà chửi." Tôi không biết chửi. Vả lại không bắt quả tang làm sao mà chửi hắn. Thế là tôi bắt đầu cảnh giác. Khi có khách, tôi nhìn chăm chăm ra cổng.
Rồi nhà tôi bỗng xuất hiện một vị khách không mời. Đó là một con chó đen tuyền, gầy gò ngồi chực trước cửa. Ngó bộ dạng chẳng mấy khi được no của hắn tôi thấy thương ném cho mấy mẩu xương. Hôm sau, hắn lại xuất hiện, mắt dán vào tôi. Không cầm lòng được, tôi lại cho ăn. Cứ thế ngày lại ngày, giữa hắn và tôi bỗng hình thành một mối dây buộc chặt. Có xương tôi để dành cho hắn. Đi ăn giỗ ở nhà mẹ tôi cũng nghĩ đến hắn và nhặt cả túi xương về cho hắn. Tôi mở cửa cho hắn vào nhận quà. Hắn nhìn đống xương ứa nước dãi nhưng chưa ăn ngay.
Hắn nằm xoài trước hiện, gối đầu lên hai chân trước thở hắt ra sung sướng như một kẻ được nằm nghỉ trên chiếc giường thân thuộc của mình, mắt vẫn ngủ tôi đợi chờ thực với vuốt ve. Bao giờ ăn hắn cũng chừa lại một mẩu to nhất tha về. Thế rồi một lần hắn đang ăn bỗng có tiếng huýt gió. Lập tức hắn bỏ bữa rồi len lén tha một chiếc dép chạy ra cổng. Thì ra thủ phạm trộm đẹp nhà tôi chính là hắn. Nói đúng hơn là tên huýt gió. Thấy tôi cảnh giác, nó huấn huyện con chó thành tòng phạm.
Hắn vẫn ngồi trước cổng nhà tôi dẫu cổng và cả lòng tôi đã khép. Thấy tôi, hắn vẫy đuôi. Tôi bỏ đi, hắn tru lên thảm thiết. Giận dữ tôi ném chiếc dép còn lại mà hắn đã tha mất một chiếc qua rào nhưng hắn không thèm nhặt. Ném một mẩu xương hắn cũng không buồn ăn. Hắn nhìn tôi và cái cổng đóng chặt như muốn hỏi tại sao không mở cho hắn.
Tôi gặp hắn đi cùng một thằng nhóc ra chợ. Tôi lơ hắn còn hắn chạy đến vẫy đuôi tíu tít mừng tới, "Win, lại đây!" Thằng nhóc gọi. Thì ra hắn tên Win. Còn thằng kia chắc là Tí bụi vì trông hắn rất "bụi" Loắt choắt, bẩn thỉu, ranh ma. Mua xong, ra đến cửa chợ tôi bỗng nghe tiếng chân sầm sập và tiếng la í ới "Trộm... trộm... bắt lấy!". Một con chó đen miệng ngậm tảng thịt lao ra khỏi chợ, ngang qua tôi bỗng dừng lại. Chỉ cần tích tắc khựng lại ấy, người dân theo đằng sau đã kịp quật một gậy. Đau quá hắn khuỵu xuống. Chiếc gậy lại nhằm đầu hắn vụt tới. Tôi kịp thấy đôi mắt hắn nhìn tôi da diết. Không nghĩ, tôi đưa chiếc giỏ thức ăn để đòn cho hắn. Còn cho thoát hiểm gượng dậy lảo đảo chạy tiếp còn tôi ngồi giữa đồng đồ ăn tung tóe với bao câu rủa ráy: Tự nhiên hứng! Chắc là chủ. Ngó thế mà là chủ của con chó ăn cắp! Đền đây! Hơn kí thịt đấy!...
Trưa hôm ấy, một đôi dép phiêu bạt bỗng trở về lại mái nhà xưa!
Từ đó cổng nhà tôi hay mở và con Win vào năm xoài trước tái hiện đầy nắng. Nó ăn, lơ mơ ngủ rồi sực nhớ đến chủ lại tất tả ra về. Thỉnh thoảng tôi gói cái gì đó trong bao ni lông. Con chó thật khôn, thấy đưa bao ni lông là biết ngay quà của chủ, lập tức ngậm ở miệng chạy về. Trong bao ni lông đôi khi còn là mấy chiếc áo cũ. Soạn đồ của con, tôi chính nghĩ đến chiếc áo bẩn ngắn cũn cỡn không cài khuy của Tí bụi…
Con Win ngày càng nặng nề. Thì ra hắn sắp làm mẹ. Một lần có giỗ, đợi hắn không ra, tôi cần bịch thức ăn hỏi như Tí bụi. Hắn ở tuốt xóm trong, bên hồ rau muống của bà Tư. Không ai thấy cha hắn. Hai mẹ con sống lăn lóc ở họ phố bụi bờ. Bà Tư cho che tạm túp lều bên hồ rau muống để vừa canh rau cho bả vừa có chỗ chui ra chui vào. “Nhà” Tí bụi mùa hè mát nhung mùa đông lạnh lùng. Túp lều đầy rác, nhỏ nhoi như tai nấm, không biết tựa vào đầu để trốn gió. Những tấm ni lông che chắn tạm bợ cứ lật lòng khoe túp lều nát rác đuổi nhau loăng quăng. Bà mẹ tâm thần của Tí bụi ngày nào cũng đi kiểm rác rồi tẩn mẩn đếm như người ta đếm tiền, thỉnh thoảng phì cười một mình.
Con Win có nhiệm vụ không cho người lạ vặt rau muống của bà Tư, không cho bà điên ra khỏi nhà ban đêm và theo Ti bụi kiếm ăn. Thấy tôi, hắn nhổm dậy mừng rồi lại nằm xuống hãnh diện liếm mấy chú cún bé xíu trên chiếc bao tời rách như muốn khoe rằng con hắn đấy! Còn Tí bụi đang luộc rau muống bằng rác, chùi tay vào quần giương mắt ngó tôi.
Trong túp lều rách nát ấy, những sinh vật khốn cùng lại rất thương nhau. Thấy cách Tí bụi săn sóc bà mẹ điên và bầy chó, tôi nhận ra sau lớp bụi đời và cáu bẩn, tâm hồn hắn vẫn lóng lánh những sắc màu đáng quý. Bầy chó con dễ thương lên từng ngày. Ti bụi bảo con đẹp nhất sẽ tặng tôi. Nhiều đêm tôi thức giấc, túp lều ngập rác và ngập cả tình yêu ấy bỗng hiện ra. Cả những dự tính. Chẳng hạn chuyện Ti bụi học chữ, đi bán vé số thay vì moi rác và ăn cắp...
Sáng ấy, tôi có tiết thao giảng. Vừa dắt xe ra đã thấy Ti bụi đợi ở cổng, nghẹn ngào! “Cô ơi! Con Win...”
Bà mẹ điên của Tí bụi lang thang tìm con Win, gặp ai cũng hỏi: “Thấy hắn mô không? Đêm qua tui trốn hắn đi chơi... Chứ hắn trốn tui đi chơi….”.
Dấu máu con Win vẫn còn trên lối xóm. Hắn bị bọn bắt chó quật gây sắt vào đầu khi chạy theo bà điên...
Trời trở lạnh Túp lều bên hồ rau muống đầy gió và im lặng. Những mảnh ni lông rách te tua vẫn cuồng loạn trong vũ khúc gió. Rác loãng quãng chơi trò đuổi nhau. Không thấy Tí bụi. Lù lù trong túp lều trống hoác là ổ chó chưa mở mắt. Chúng đang đói lạnh vì thiếu mẹ. Tôi cầm đĩa sẵn đến đó và thấy lũ chó châu đầu rúc vào một đồng đen đen. Nhìn kĩ là Tí bụi. Nó trùm bao tới, khoanh người ủ ấm cho lũ chó con!
(In trong Đám cưới cô, Quế Hương. NXB Kim Đồng, 2019)
Trình bày khái niệm của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.
Cấu trúc của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên thường gồm mấy phần? Nội dung chính của từng phần là gì?
Nhận định nào sau đây KHÔNG PHẢI là đặc điểm về cách sử dụng ngôn ngữ của văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên.
a. Thường sử dụng từ ngữ thuộc một chuyên ngành khoa học cụ thể.
b. Thường sử dụng động từ miêu tả hoạt động hoặc trạng thái.
c. Thường sử dụng câu khiến để chỉ hành động hoặc yêu cầu thực hiện.
d. Thường sử dụng từ ngữ miêu tả trình tự của một hoạt động.
Trình bày khái niệm và dấu hiệu nhận biết cách trình bày thông tin theo cấu trúc so sánh và đối chiếu trong văn bản thông tin.
Việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên thường mang đến những hiệu quả biểu đạt như thế nào?
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
Vì sao bầu trời lúc bình minh và hoàng hôn thường có màu sắc đẹp?
Bình minh và hoàng hôn thường là hai thời điểm bầu trời có màu sắc đẹp nhất trong ngày. Vì sao lại như vậy? Nói ngắn gọn, vẻ đẹp kì diệu ấy có được là nhờ ánh sáng và ánh sảng lại có màu. Dù bạn tin hay không thì sự thật là ánh sảng xung quanh bạn chính là sự kết hợp của tất cả màu sắc trên thế giới này.
Nếu ánh sáng xung quanh ta có màu thì vì sao chúng ta chỉ nhìn thấy một số màu trên bầu trời vào những thời điểm nhất định chứ không phải tất cả các màu? Và vì sao màu sắc bầu trời lúc bình minh, hoàng hôn lại thường có vẻ đẹp huyền diệu, mê hoặc đến như vậy? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn giải đáp những thắc mắc ấy. Trước tiên, chúng ta cần biết ngày chuyển sang đêm như thế nào.

Trái Đất di chuyển trong không gian
Hành tinh của chúng ta di chuyển trong không gian cùng với bảy hành tinh khác ở gần. Tất cả các hành tinh này vừa tự xoay quanh mình vừa xoay quanh Mặt Trời. Nếu Mặt Trời lặn hay hoàng hôn ở đâu thì nơi đó đang khuất dần khỏi ánh sáng Mặt Trời và quay lưng lại với Mặt Trời. Còn nếu Mặt Trời mọc hay bình minh ở đâu thì nơi đó lại chuyển sang hướng mặt về phía Mặt Trời. Đêm khuya là khi chúng ta hoàn toàn quay lưng lại Mặt Trời. Còn ban ngày là khi chúng ta đối diện trực tiếp với Mặt Trời và các chùm tia Mặt Trời chiếu (cực nhanh) thẳng vào chúng ta.
Mặc dù chúng ta quan sát bằng mắt thường không thể phân biệt được, nhưng các chùm tia sáng từ Mặt Trời đến Trái Đất có kich thước khác nhau. Các nhà khoa học đo kích thước các chùm tia này bằng “bước sóng”. Mỗi bước sóng ánh sáng có một màu sắc riêng của nó.
Trái Đất được bao bọc bởi khí quyển của mình
Như vậy, chúng ta đã biết vì sao bầu trời lại sáng vào ban ngày và tối vào ban đêm, các chùm tia sáng Mặt Trời có kích thước khác nhau hay có bước sóng khác nhau.
Tuy nhiên, làm sao mà chúng ta nhỉn thấy những màu sắc rực rỡ vào lúc bình minh và hoàng hôn? Đó là nhờ một “tầm chăn” không khí rất quan trọng luôn bao bọc lấy Trái Đất, tấm chăn đó chính là khí quyển. Khí quyển của Trái Đất được tạo nên bởi rất nhiều vật thể bé li ti gọi là các phân tử. Trên thực tế, tất cả mọi vật đều có cấu tạo từ các phân tử, kể cả cơ thể chúng ta. Một phân tử nhỏ hơn rất nhiều so với một hạt cát. Phân từ nhỏ đến nỗi chúng ta không thể nhin bằng mắt thường mà phải nhờ đến kính hiển vi mới có thể quan sát dược, còn mắt thường chỉ nhìn thấy những vật được tạo thành từ các phân tử.
Khí quyển “chơi đùa" với ánh sáng
Khi các chùm sáng Mặt Trời đến Trái Đất, chúng gặp các phân tử trong khí quyển của Trái Đắt. Các phân từ này bắt đầu kết hợp với ánh sáng, đấy ánh sáng qua lại giữa các phân tử. Hiện tượng này gọi là “phân tán ánh sáng”.
Ánh sáng có bước sóng càng dài thì nó cảng phân tán được lâu giữa các phân tử trong khí quyển của Trái Đất trước khi nó yếu đi và quay trở lại không gian. Ánh sáng xanh dương có bước sóng ngắn hơn ánh sáng đỏ hoặc ánh sáng hồng. Điều đó có nghĩa là ánh sáng xanh dương chỉ có thể va đập giữa các phân tử trong một khoảng cách ngắn hơn ánh sáng hồng hoặc đỏ. Nơi nào đang đối diện trực tiếp với Mặt Trời (vào ban ngày) thì nơi đó ánh sáng sẽ đi qua lớp khí quyền ít hơn, mông hơn. Vì vậy, ánh sáng xanh dương có thể dễ dàng lọt qua phía bên kia, nhở đó mà chúng ta có được bầu trời màu xanh.
Màu sắc lúc bình minh và hoàng hôn
Chúng ta biết rằng Trái Đất tự xoay quanh mình. Hoàng hôn ở nơi nào thì nơi đó đang quay mặt dần khởi Mặt Trời và không đối diện trực tiếp với Mặt Trời nữa. Điều này có nghĩa là ánh sáng Mặt Trời phải đi qua một lát cắt khi quyển dày hơn để chiếu đến nơi đó. Hiện tượng này cũng xảy ra vào lúc bình minh khi nơi đó hướng dần về phía Mặt Trời.
Để đi qua quãng đường dài hơn đó của khí quyển, ánh sáng xanh dương “mệt mỏi” và không thể trụ vững được nữa, do đó hầu hết ánh sáng xanh này quay trở lại vũ trụ. Tuy nhiên, ánh sáng đỏ, cam và vàng lại có bước sóng dài hơn, nghĩa là chúng có thể phân tán lâu hơn và đi qua lớp khí quyển dày hơn để đến được với mắt người quan sát trên bề mặt Trái Đất. Chính vì thế, chúng ta thường nhìn thấy bầu trời lúc bình minh và hoàng hôn có màu sắc rực rỡ, đẹp mắt.
Đặc biệt, vào những lúc không khí khô, các phân tử khói, bụi trong không khí dày đặc hơn khiến cho ánh sáng bị tán xạ nhiều hơn. Lúc đó, bình minh và hoàng hôn có màu sắc đỏ rất huyền diệu và kì bí.
(Theo Phạm Hường, Bảo Tuấn, https: //dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/vi-sao-bau-troi-luc-binh-minh-va-hoang-hon-thuong-co-mau-sac-dep-20210118154633532.htm; https: //tienphong vn/vi-sao-binh-minh-va-hoang-hon-co-mau-do-post1046434.tpo)
Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi:
a. Vẽ sơ đồ cấu trúc của văn bản trên và tóm tắt nội dung từng phần đã xác định.
b. Xác định (những) thông tin cơ bản của văn bản. Các chi tiết trong văn bản đã góp phần hỗ trợ thể hiện (những) thông tin cơ bản ấy ra sao? Hãy lí giải.
c. Đặc điểm của cách sử dụng ngôn ngữ trong văn bản có cho thấy đây là văn bản thông tin giải thích một hiện tượng tự nhiên không? Vì sao?
d. Xác định cách trình bày thông tin của đoạn trích sau và cho biết tác dụng của cách trình bày ấy: “Hành tinh của chúng ta di chuyển trong không gian cùng với bảy hành tinh khác ở gần ... Còn ban ngày là khi chúng ta đối diện trực tiếp với Mặt Trời và các chùm tia Mặt Trời chiếu (cực nhanh) thẳng vào chúng ta.”
đ. Văn bản đã sử dụng (những) loại phương tiện phi ngôn ngữ nào? Hiệu quả biểu đạt của chúng là gì?
e. Việc hiểu biết về những thông tin trên đem đến cho em cảm nhận gì về thế giới tự nhiên? Từ đó, em có suy nghĩ gì về quan niệm cho rằng con người có thể chế ngự, kiểm soát và khai thác thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình?
Nối nội dung ở cột A với nội dung tương ứng ở cột B:
|
A |
B |
|
1. Luận đề |
a. Những thông tin khách quan, có thể kiểm chứng được trong thực tế |
|
2. Luận điểm |
b.Những nhận định, suy nghĩ, phán đoán theo góc nhìn chủ quan của người viết |
|
3. Bằng chứng khách quan |
c.Vấn đề chính được nêu ra để bàn luận trong văn bản nghị luận |
|
4. Ý kiến, đánh giá chủ quan |
d. Ý kiến thể hiện quan điểm của người viết về luận đề |
Trình bày mối liên hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận.
Trình bày mối liên hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận.
Chỉ ra bằng chứng khách quan và ý kiến, đánh giá chủ quan trong các ngữ liệu dưới đây bằng cách hoàn thành bảng (làm vào vở):
|
STT |
Ngữ liệu |
Bằng chứng khách quan |
Ý kiến, đánh giá chủ quan |
Lí giải |
|
1 |
Ma-la-la Diu-sa-phdai (Malala Yousafzai) đã được trao giải Nô-ben (Nobel) Hoà bình năm 17 tuổi. |
|
|
|
|
2 |
Điện thoại thông minh mang đến những tiện ích giúp việc liên lạc thuận tiện hơn. |
|
|
|
|
3 |
Dự đoán trong mười năm tới, trí tuệ nhân tạo sẽ chiếm lĩnh thị trường lao động. |
|
|
|
|
4 |
Tôi cho rằng, hiện nay các bạn trẻ đang thiếu định hướng trong việc chọn nghề. |
|
|
|
|
5 |
Chiếc lá cuối cùng của Ô. Hen-ri (O' Henry) là một truyện ngắn vô cùng cảm động. |
|
|
|
TIẾNG THU - MỘT TÂM HỒN CÔ ĐƠN (Trần Đình Sử)
Người Việt Nam yêu Thơ mới không ai không ám ảnh bởi Tiếng thu, không ai không yêu Tiếng thu của Lưu Trọng Lư. Người quen yêu thơ Đường với giá trị hội hoạ, nhìn thấy ở đó một bức tranh phương Đông thuần tuý. Người yêu thơ lãng mạn nhận thấy âm nhạc là đặc trưng nổi bật, là nhịp mạnh của Thơ mới liền hiểu Tiếng thu là thơ nhạc của Lưu Trọng Lư. Bên cạnh đó, phần lớn các bài phân tích, bình giảng về tác phẩm Tiếng thu đều đọc thơ qua nhạc, qua hoạ mà ít đọc nó như là một tác phẩm thơ - thể loại không chỉ nói bằng hoạ, nhạc mà còn nói một cách mạnh mẽ, tha thiết bằng chính giọng và lời, lời của con người, của cảnh vật. Với ba câu hỏi dồn dập và hệ thống hình ảnh tương phản, phi đối xứng, tiếng thu của Lưu Trọng Lư, tiếng nói của một tâm hồn cô đơn, đã được cất lên một cách mãnh liệt và tha thiết.
Trước tiên, không thể không nhận thấy cả bài thơ được tổ chức bằng ba câu hỏi. Nhà nghiên cứu Văn Tâm đã khảo sát văn bản và cho biết: 9 dòng thơ viết liền mạch, không chia khổ, chỉ có 3 chữ "Em” đứng đầu dòng viết hoa, và cuối mỗi câu hỏi có một dấu hỏi. Nó chứng tỏ đây là 3 câu hỏi trọn vẹn được ngắt ra, tổ chức thành dòng thơ. Cái đặc biệt của bài thơ này là câu hỏi được đặt bằng từ phủ định: Em không nghe mùa thu/ Em không nghe rạo rực/ Em không nghe rừng thu. Nếu thay từ “có” vào vị trí của từ “không” thì mới đọc qua tưởng không có gì khác biệt nhưng suy ngẫm sẽ thấy khác nhiều. “Em có nghe mùa thu” có một tiền giả định là có sự đồng cảm giữa người hỏi và người được hỏi mà câu hỏi nêu ra để khêu gợi và khẳng định. Còn Em không nghe mùa thu là tiền giả định rằng thiếu một sự đồng cảm ở bên trong, một câu hỏi có vẻ ngạc nhiên, xa lạ. Ba câu hỏi đồn dập, tha thiết nhưng có hỏi mà không có đáp - có người nghe và có người không nghe. Tiếng thu là tiếng buồn, tiếng rạo rực trong lòng người cô phụ đơn chiếc, tiếng thời gian ra đi. Nhưng tiếng thu còn buồn hơn vì nỗi buồn không được chia sẻ. Nó không chỉ buồn mà còn cô đơn. Những gì anh nghe, em không nghe chăng? Cụm từ Em không nghe lặp lại ba lần nhấn mạnh một tiếng lòng lẻ lơi. Em không nghe thổn thức, em không nghe rạo rực, em không nghe lá kêu. Thổn thức, rạo rực là những trạng thái nội tăm thầm kín mà người ta chỉ có thể nghe được bằng chính tâm hồn minh. Hay là em không nghe thấy cả chính tiếng lòng em? Điều đó càng buồn hơn.
Ngoài ra, bài thơ còn được xảy dựng theo nguyên tắc phi đối xứng. Về mặt hình ảnh, đây không phải là bức tranh hài hoà. Rạo rực hình ảnh kẻ chinh phu trong lòng người cô phụ là không hài hòa. Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá thu kêu là không hài hòa. "Lá thu kêu” chính là tiếng mùa thu của Lưu Trọng Lư. Nó không "reo" mà "kêu", một tiếng kêu buồn. Còn con nai vàng thì như không nghe thấy gì, nó ngơ ngác đạp trên là vàng khô. [ ... ] Theo chúng tôi, con nai vàng đạp trên lá vàng khô, trông bề ngoài là bức tranh đồng màu, nhưng không đồng cảm. Nó làm cho sự tương phản trong bài thơ trở nên trọn vẹn. Một bên thì "thổn thức", "rạo rực", "kêu xào xạc", một bên thì "không nghe", "không nghe", "không nghe” và đỉnh cao của sự không nghe ấy là con nai vàng ngơ ngắc - đạp trên là vàng khô. Có cái gì giống như cảnh của Huy Cận: Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lăng lẽ bở xanh tiềp bãi vàng (Tràng giang). Bài thơ không diễn tà sự hài hoà, trái lại nó diễn tả sự tương phản, phi đối xứng để từ đó thức tỉnh tình cảm và khát vọng về sự hài hòa mới - sự đồng cảm của các cá nhân. Nhà thơ lãng mạn Đức Hen-rích Hai-nơ (Henrich Heine) nói: "Toàn thế giới nổ tung ở khoảng giữa, và vết nứt thế giới vĩ đại ấy chạy qua trái tim nhà thơ". Cùng với ý thức về cái TÔI, các nhà thơ lãng mạn đã cảm thấy vết nứt qua trái tim mình - sự cô đơn, thiếu thông cảm.
Tiếng thu có tự ngàn xưa. Nhưng trong thơ cổ, tiếng thu là tiếng gợi niềm hoài niệm, là tiếng chày đập vải gợi nỗi nhớ chồng, là các lễ tiết mùa thu gợi tình huynh đệ, bạn bè, là mùa gợi sự tàn tạ của cỏ cây hoa lá. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư gợi niềm rạo rực yêu đương chưa được thoá mãn, gợi tiếng “kêu” của bao kiếp lá lìa cành, gợi sự thổn thức phổ biến của sự sống giữa thời tiết thay đổi. Tiếng thu xưa là tiếng buồn của cái tôi bị tách rời cái toàn bộ. Tiếng thu nay là tiếng buồn, cô đơn của cái tôi thức tỉnh nhưng không được chia sẻ.
(Trích bài viết Tiếng thu - Một tâm hồn cô đơn, Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục, 1997)
Trình bày khái niệm truyện cười.
Vẽ sơ đồ tóm tắt các đặc điểm của truyện cười dựa vào gợi ý sau (làm vào vở):

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
THÀ CHẾT CÒN HƠN
Xưa có anh keo kiệt, ăn chẳng dám ăn, mặc chẳng dám mặc, cứ khư khư tích của làm giàu.
Một hôm có người bạn rủ ra tỉnh chơi. Trước anh ta còn từ chối, sau người bạn nài mãi, anh ta mới vào phòng lấy ba quan tiền giắt lưng rồi cùng đi.
Khi ra đến tỉnh, trông thấy cái gì anh ta cũng muốn mua nhưng sợ mất tiền lại thôi. Trời nắng quá, muốn vào hàng uống nước lại sợ phải thiết bạn, không dám vào.
Đến chiều trở về, khi qua đò đến giữa sông, anh keo kiệt khát nước quá mới cúi xuống uống nước, chẳng may ngã lộn cổ xuống sông.
Anh bạn trên thuyền kêu:
- Ai cứu xin thưởng năm quan!
Anh keo kiệt ở giữa dòng sông, nghe tiếng cố ngoi lên, nói:
- Năm quan đắt quá!
Anh bạn chữa lại:
- Ba quan vậy!
Anh hà tiện lại ngoi đầu lên lần nữa:
- Ba quan vẫn đắt, thà chết còn hơn!
(In trong Văn học dân gian những tác phẩm chọn lọc, Bùi Mạnh Nhị (Chủ biên), NXB Giáo dục, 2004)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
ĐẤT NỨT CON BỌ HUNG
Từ bé Quỳnh đã nổi tiếng học giỏi và đối đáp nhanh. Trong làng có ông Tú Cát rất hợm hĩnh mình, đi đâu cũng khoe mình hay chữ. Quỳnh rất ghét những loại người như vậy. Một hôm Quỳnh đang đứng xem đàn lợn ăn cám trong chuồng, Tú Cát đi qua trông thấy, liền gọi Quỳnh lại và bảo:
- Ta nghe đồn mày thông minh và có tài đối đáp. Bây giờ ta ra cho mày một câu đối, nếu không đối được, ta sẽ đánh đòn.
Nói rồi, Tú Cát lên giọng, gật gù ngâm nga:
- Lợn cấn ăn cám tốn.
Tú Cát nghĩ rằng câu này rất khó đối, ví “cấn” và “tốn” là hai quẻ trong kinh Dịch nào ngờ. Quỳnh đối lại ngay: “Chó khôn chớ cắn càn.”
Vế này cũng có “khôn” và “càn” là tên hai quẻ trong kinh Dịch, đồng thời lại có ý xỏ Tú Cát là chó. Không ngờ bị chơi đau như vậy, Tú Cát tức lắm, hằm hằm bảo:
- Được! Ta ra thêm vế nữa, phải đối lại ngay – rồi đọc – Trời sinh ông Tú Cát.
Quỳnh đối luôn:
- Đất nứt con bọ hung.
Tú Cát tức đến sặc tiết nhưng không làm gì được, vì Quỳnh đối rất chỉnh, đành lùi thủi bỏ đi.



Danh sách bình luận