Soạn văn 11, ngữ văn 11 Cánh Diều Bài 4: Văn bản thông tin

Soạn bài Thực hành đọc hiểu Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ SGK Ngữ văn 11 tập 1 Cánh diều - siêu ngắn


Đọc trước văn bản Tiếng việt lớp trẻ bây giờ tìm hiểu thêm các bài viết về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Hãy chuẩn bị một số dẫn chứng về hiện tượng nói và viết tiếng Việt thiếu trong sáng mà em biết.


Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Chuẩn bị 1

Câu 1 (trang 112, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Đọc trước văn bản Tiếng việt lớp trẻ bây giờ tìm hiểu thêm các bài viết về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. 

Phương pháp giải:

Tìm kiếm các bài viết trên internet liên quan đến giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. 

Lời giải chi tiết:

- Văn bản Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong SGK Ngữ văn 12. 

- Hội thảo khoa học Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Xem thêm cách soạn khác


Chuẩn bị 2

Câu 2 (trang 112, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Hãy chuẩn bị một số dẫn chứng về hiện tượng nói và viết tiếng Việt thiếu trong sáng mà em biết.

Phương pháp giải:

Tìm kiếm các bài viết trên internet thiếu trong sáng của tiếng Việt hoặc trong đời sống thực tế em thường gặp. 

Lời giải chi tiết:

- Trong chương trình truyền hình "Bài hát Việt", một nữ ca sĩ là giám khảo khen thí sinh: "Chị rất chúc mừng em đêm nay!". Trong trường hợp này, động từ "chúc mừng" không kết hợp được với từ chỉ mức độ "rất".

"Tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, chỉ trong 3 tháng đầu năm 2013 đã bắt giữ 187.280 chai, lon bia các loại tại Nghệ An, 21.109 chai lọn tại Hà Tĩnh, 98.445 chai lon tại Quảng Trị và 10.600 chai lon tại Kon Tum." (Bia lậu rầm rập tuồn về Việt Nam, VNN ngày 21-5). Cách diễn đạt khiến người đọc không thể xác định được 187.280 chai lon bia kia thu được ở miền Trung và Tây Nguyên hay ở Nghệ An?.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 1

Câu 1 (trang 112, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Chú ý nội dung sa pô.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần in đậm của đoạn đầu, chỉ ra nội dung.

Lời giải chi tiết:

Nội dung: Thái độ bất bình, khó chịu với lối nói, lối viết của giới trẻ hiện nay.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 2

Câu 2 (trang 113, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Tìm hiểu các kí tự 8X, 9X, Y2K.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ nội dung phần đầu sau phần sa pô để hiểu kí tự.

Lời giải chi tiết:

+ 8X; 9X: Sinh ra vào thập niên thứ 8 và thứ 9 của thế kỷ XX.

+ Y2K: Sinh ra vào thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, bắt đầu từ năm 2000. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 3

Câu 3 (trang 113, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Chú ý các tiểu mục trong văn bản.

Phương pháp giải:

Đọc toàn văn bản, chỉ ra các tiểu mục (câu văn ngăn cách các đoạn văn).

Lời giải chi tiết:

- Các tiểu mục: 

Từ việc phá vỡ các chuẩn mực chính tả…

…đến thay đổi và lệch chuẩn ngôn từ.

→ Là một câu văn nhưng được tách ra làm hai vế để ngăn cách hai đoạn mang hai nội dung tương ứng. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 4

Câu 4 (trang 113, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Việc trích dẫn bài viết của Giâu có tác dụng gì?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn đầu của tiểu mục thứ nhất, chú ý trích dẫn về bài viết của Giâu.

Lời giải chi tiết:

Để chứng minh cho vấn đề tác giả đang đề cập đến, đó là một bộ  phận giới trẻ đang phá vỡ các chuẩn mực chính tả.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 5

Câu 5 (trang 113, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Tranh minh họa liên quan đến nội dung gì?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn sau đó và quan sát kĩ bức tranh để tìm ra nội dung.

Lời giải chi tiết:

- Tranh minh họa liên quan đến nội dung của bài viết: Giới trẻ đang phá vỡ chuẩn mực chính tả. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 6

Câu 6 (trang 114, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Chú ý các loại sáng tạo “lệch chuẩn” ngôn từ.

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn đầu sau tiểu mục thứ hai, để tìm ra các loại sáng tạo “lệch chuẩn”.

Lời giải chi tiết:

- Sáng tạo “lệch chuẩn”: 

+ Sáng tạo ra nhiều kiểu nói, dựa trên hiện tượng đồng âm nối từ: a-kay với chim cú -) cay cú…

+ Sử dụng “tiếng lóng”.

+ Sử dụng “teencode” làm cho hỗn loạn, khó kiểm soát.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 7

Câu 7 (trang 114, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Vì sao đây lại là điều đáng nói?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn cuối của tiểu mục thứ hai để xác định điều đáng nói ở đây là gì và vì sao lại nói thế.

Lời giải chi tiết:

Đây là điều đáng nói vì cách nói này là do tự sáng tạo theo ý thích của nhiều nhóm học đường tạo nên teencode khác nhau. Mỗi nhóm một kiểu không giống với ngôn ngữ toàn dân. Nó gây ra nhiều sự hỗn loạn khó kiểm soát. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 8

Câu 8 (trang 115, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Chú ý quan niệm của người viết về việc sáng tạo ngôn ngữ. 

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn đầu của tiểu mục thứ ba để tìm ra quan điểm của người viết.

Lời giải chi tiết:

- Quan niệm của người viết: Chuyện giới trẻ tạo ra một số từ ngữ, một số cách nói riêng cũng là bình thường. Thế giới cũng thế chứ đâu chỉ ta.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 9

Câu 9 (trang 115, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Phân biệt sự "đa dạng" và "hỗn tạp".

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn gần cuối của tiểu mục thứ ba và kết hợp với kiến thức thực tế để phân biệt.

Lời giải chi tiết:

- Phân biệt:

+ Đa dạng là sự phong phú của nhiều cá thể khác nhau trong một tập thể. 

+ Hỗn tạp là không thuần nhất, gồm có nhiều thứ rất khác nhau lẫn lộn vào với nhau. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc 10

Câu 10 (trang 115, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Tác giả nêu lên vấn đề gì ở phần kết?

Phương pháp giải:

Đọc đoạn văn cuối của tiểu mục thứ ba, tìm ra được vấn đề. 

Lời giải chi tiết:

Ở phần kết, tác giả nêu lên vấn đề: Giới trẻ vì mải mê "sáng tạo" lạ kỳ mà quên mất việc học tập và trau dồi tiếng mẹ đẻ.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 1

Câu 1 (trang 116, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Văn bản Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ viết về vấn đề gì và liên quan tới đối tượng nào?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài chú ý các tiểu mục và nội dung chính để tìm ra vấn đề và đối tượng.

Lời giải chi tiết:

- Văn bản Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ viết về vấn đề: Hiện trạng sử dụng tiếng Việt của giới trẻ hiện nay.

- Đối tượng liên quan là giới trẻ.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 2

Câu 2 (trang 116, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Bài viết được triển khai qua mấy phần, mỗi phần được thể hiện bằng hình thức gì? Em có nhận xét như thế nào về các ví dụ tác giả dẫn ra trong bài?

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài chú ý các tiểu mục và xác định bố cục. Tìm ra các ví dụ và nhận xét cách dẫn ra ví dụ.

Lời giải chi tiết:

- Bài viết được triển khai qua 4 phần:

+ Phần 1 là đoạn sa pô, đặt vấn đề và tóm tắt nội dung chính.

+ Phần 2 là "Từ việc phá vỡ các chuẩn mực chính tả", nêu lên biểu hiện của việc viết tắt, viết phá cách, sai chính tả trong giới trẻ.

+ Phần 3 là "...đến thay đổi và lệch chuẩn ngôn từ", phần này viết về giới trẻ sáng tạo ra những ngôn ngữ lệch chuẩn

+ Phần 4 là "Nên nhận thế nào từ góc độ ngôn ngữ học?", phần này nêu lên quan niệm của người viết về sáng tạo ngôn ngữ.

- Các ví dụ tác giả dẫn ra trong bài đều là những câu chuyện, thông tin lấy từ thực tế cuộc sống, những việc đã và đang xảy ra. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 3

Câu 3 (trang 116, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Phân tích ý nghĩa của vấn đề mà văn bản nêu lên.

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, xác định được vấn đề và phân tích ý nghĩa. 

Lời giải chi tiết:

- Vấn đề được đặt ra trong văn bản Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay. 

+ Khi mạng xã hội ngày một phát triển, nhiều hình thức, ngôn ngữ, khái niệm... du nhập vào Việt Nam, một bộ phận giới trẻ đã và đang không ngừng tự mình "sáng tạo" ra những ngôn ngữ mới, tạo nên sự hỗn loạn trong giao tiếp. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 4

Câu 4 (trang 116, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Thái độ của người viết thể hiện trong văn bản như thế nào? Hãy phân tích thái độ ấy qua một số câu văn cụ thể.

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, chú phần cuối liên quan đến thái độ của người viết. Phân tích cụ thể. 

Lời giải chi tiết:

+ "...anh chàng Giâu đã "thâu tóm"....." → Từ "thâu tóm" thể hiện thái độ mỉa mai.

+ "nhiều từ mà các "cậu ấm cô chiêu"...." → Tác giả đang nói kháy những bạn trẻ tự cho mình là giỏi sáng tạo ra những từ ngữ lệch chuẩn.

+ "Tiếng Việt của giới trẻ đang là  một tiếng Việt rất đa dạng, nếu không nói là hỗn tạp". → Tác giả cho rằng ngôn ngữ của giới trẻ đang tạo ra sự hỗn tạp, người sử dụng phải cân nhắc lựa chọn kỹ.

+ "Cũng bởi bản chất....một trò chơi nhất thời,..." → Ngôn ngữ của giới trẻ chỉ là trò chơi, nổi một thời gian rồi lại chìm nghỉm không giá trị nào ngoài giải trí nhất thời.

+ "Thái quá bất cập....nhiều bạn trẻ bây giờ chỉ mải mê với những "sáng tạo" kì lạ đó mà quên mất việc học tập và trau dồi tiếng mẹ đẻ." → Tác giả không hài lòng với việc mai mê sáng tạo lạ kỳ của bạn trẻ mà bỏ bê tiếng mẹ đẻ.

→ Tác giả cảm thấy việc "sáng tạo" ra ngôn ngữ mới của giới trẻ đang gây ảnh hưởng xấu tới xã hội. 

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 5

Câu 5 (trang 116, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Văn bản Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ mang lại cho em những thông tin và những nhận thức bổ ích gì? Hãy nêu ra một số ví dụ cụ thể về việc sử dụng tiếng Việt không trong sáng mà em đã chứng kiến hoặc biết được qua các phương tiện thông tin đại chúng.

Phương pháp giải:

Đọc toàn bài, đưa ra thông tin và những nhận thức bổ ích em rút ra sau khi đọc văn bản.

Lấy ví dụ trong cuộc sống về việc sử dụng tiếng Việt. 

Lời giải chi tiết:

- Văn bản Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ cung cấp cho em những thông tin về thực trạng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong giới trẻ. 

- Giới trẻ ngày nay sáng tạo ra rất nhiều ngôn ngữ "độc, lạ", nhiều người không nắm rõ nguồn gốc, cách sử dụng sẽ gây ra những hiểu lầm không đáng có. Ví dụ từ "báo" là danh từ chỉ động vật hoặc một bài báo, động từ là dấu hiệu cho biết trước điều gì đó sắp xảy ra. Thế nhưng một số bạn trẻ sử dụng từ này như sau "báo cha, báo mẹ, báo đời...." Từ báo ở đây mang nghĩa tiêu cực nhưng với nhiều người không nắm rõ sẽ không hiểu nó là gì.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc 6

Câu 6 (trang 116, SGK Ngữ Văn 11, tập một):

Hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 - 12 dòng) lí giải vì sao phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Phương pháp giải:

Dựa vào những kiến thức đã tiếp thu được để triển khai thành đoạn văn.

Lời giải chi tiết:

Tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, là một thứ tiếng vô cùng trong sáng và giàu đẹp của dân tộc Việt Nam. Hơn hết, nó chính là một trong những "của quý" của dân ta. Bởi lẽ đó, mà thanh niên nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung phải có trách nhiệm gìn giữ sự trong sáng của thứ tiếng cao quý ấy. Ngày nay, khi đất nước ta đã và đang hội nhập quốc tế sâu rộng, rất nhiều thứ tiếng lan tràn vào cuộc sống, xã hội, trong tiềm thức của mỗi người dân. Bởi lẽ đó, có nhiều bạn, nhiều người đã tiếp thu những thứ tiếng ấy. Trong quá trình ấy, nhiều bạn đã vô tình đánh mất đi sự trong sáng, giá trị của tiếng Việt. Hơn thế nữa, nhiều bạn còn "sáng chế" ra những câu nói rất thô tục, làm mất đi vẻ đẹp thuần phong mỹ tục của tiếng mẹ đẻ. Chính vì vậy, mỗi người phải nâng cao nhận thức, tuyên truyền và không ngừng đấu tranh lại "sự biến hóa" của tiếng Việt. Thật vậy, đây chính là một trong những trách nhiệm cao cả mà đất nước đã giao phó cho mỗi con người. Hơn hết, hãy luôn nhớ rằng "Hòa nhập nhưng không hòa tan". 

Xem thêm cách soạn khác

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ
+

Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ

Phạm Văn Tình

PNQ – “Tôi chẳng hiểu thứ tiếng Việt mà bọn trẻ đang nói và chat với nhau là thứ tiếng Việt gì?;“Tiếng Việt lớp trẻ bây giờ đã xuống cấp đến thế sao?”,... Nhiều người đã hỏi tôi những câu đại loại thế. Ta đọc thấy trong đó thái độ bất bình, không chấp nhận lối nói, lối viết của giới trẻ ngày nay.

Giới trẻ ngày nay, thường được cho là thuộc dòng 8X, 9X (sinh ra vào thập niên thứ 8 hoặc thứ 9 của thế kỉ XX) và dòng Y2K (sinh ra vào thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI, bắt đầu từ năm 2000). Tuổi teen, tuổi học trò, tuổi hoa phượng, tuổi mực tím, tuổi ô mai,... đều là những từ chỉ giới trẻ, đang “tuổi ăn tuổi ngủ” và thường bị coi là “ăn chưa no, lo chưa tới". Ngôn ngữ của họ phải chăng cũng thể hiện điều này? Những biểu hiện ngôn từ, cách nói, cách viết của họ đúng là khác hẳn với tiếng Việt toàn dân. Đó chính là thứ “tiếng Việt đời mới”.

Từ việc phá vỡ các chuẩn mực chính tả...

Chẳng cần phải mang Từ điển chính tả tiếng Việt ra đối chiếu, ta cũng thấy rất nhiều cách viết "sáng tạo" của giới trẻ bây giờ. Chẳng hạn, đây là một đoạn trong bài Tiếng Việt thời ở của tác giả Giô-sép Ru-ê-lê (Joseph Ruelle), người Ca-na-da (Canada) (từng học và công tác tại Việt Nam, được bạn đọc Việt Nam biết đến với biệt danh “Giàu" (Joe) quen thuộc). Bài của anh khá dài, tôi chỉ trích một số đoạn tiêu biểu:

 “Sáng nay, mình ngủ dậy và quyết định học kiểu chat trên Intemet của thanh niên Việt Nam. Thứ nhất, mình quyết định thay chữ "ô" bằng chữ "u" — nhưng chỉ trong mụt số trường hợp đặc biệt thui! Trong một số trường hợp khác, minh sẽ bỏ chữ “6" hẳn ra,... Tức là phải sửa lun – minh không mún làm người khác bùn đâu! Không phải riêng nguyên âm thui đâu mà cũng có nhiều phụ âm nên bỏ ra. Chữ “n" là một trong những “nghi phạm" nổi bật nhất. Vâng, chữ ấy đôi khi rất phi – nhưg cũng có nhiều chữ phi khác nữa, chưa xong đâu! Chữ “h" ở cuối mụt số từ nhìn rất khó chịu! Không phải mỗi mìn đâu mà còn rất nhiều bạn của mìn nữa cũng nói vậy – khó chịu mụt cách kin khủg! (Chữ "k" ở đầu mụt số từ khác lại còn khó chịu hơn nữa, mìn hông chịu nổi).

Có ai đồng ý với mìn rằng 2 chữ “q” và "u" xấu lắm hôg? Chữ “w" đẹp hơn nhiều chứ! Nếu chat Yahoo và có người viết hai chữ ấy thì mìn sẽ nói lun: “Trùi ui, cái gì mà wẽ thế!" — để họ sẽ wen với wan điểm wẫn chúg của giới trẻ."

Có thể nói, anh chàng Giàu đã “thâu tóm" được rất nhiều biến thể chính tả mà các chàng, nàng tuổi teen đang dùng. Chuyện chào nhau bằng “2!”, chào và chúc ngủ ngon bằng “G9!" giờ đây đã quá quen thuộc (và lan sang “lớp già”). Ngoài ra, còn những kiểu viết tắt thông dụng hơn (xưa nay vẫn dùng) được các sĩ tử (không rõ vô tỉnh hay hữu ý) đưa vào các bài kiểm tra và bài thi (viết như thế là phạm quy): ”, n…, nh = những, o, ko, kg = không, Ả=người; of = của; no vđ = không phải vấn đề; & -va;...

... đến thay đổi và lệch chuẩn ngôn từ

Học trò bây giờ sáng tạo ra nhiều kiểu nói, dựa trên hiện tượng đồng âm nối từ (của các từ đã có kết hợp với một từ khác). Chẳng hạn: akay —chim cú — cay cú; cá kiếm - kiếm tìm, ca mơ run — run (sợ), lo lắng, cam pu chia — cùng góp tiền vào một sự kiện chung nào đó, Thủ Lệ đẹp; Hồng Lâu Mộng =mộng mơ; Lỗ Tấn — thua lỗ, thiệt, Phan Đinh Tu = uống thẳng, không rót ra cốc; Yết Kiêu =kiêu kì, kiêu ngạo, cá chẽ= chê bai dè bỉu; Nghĩa Lộ=làm lộ bí mật, Lý Thường Kiệt = vô lí,...

Hay cách nói “mở rộng" tổ hợp theo vần điệu đã có. Ví dụ: ghét như con bọ chét (ghét), ngất ngây con gà tây (thích thú), tỉnh vi sở tỉ con gà ri (tỉnh tướng, ta đây),.... Nếu chỉ thế thôi thì có thể chấp nhận. Vì dù sao cũng tạo nên lỗi nổi tếu táo, cho vui, được biện minh là giúp “xả stress, giảm căng thẳng”. Nhưng người ta lại nói rằng, có một thứ “tiếng lỏng" đang hình thành trong giới học đường. Tiếng lỏng là một biệt ngữ, cách nói những từ ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm người nào đó, chỉ trong nội bộ hiểu với nhau mà thôi.

Xét theo phương diện đó, nhiều từ mà các "cậu ấm cô chiêu" dùng có thể coi là dạng lỏng. Chẳng hạn, họ gọi trường học là khám Chỉ Hoả, gọi bị đứng kiểm điểm cuối lớp là chào cờ, gọi bố mẹ là tiền bối lắm lời, gọi xe máy là con nghèo, gọi bạn gái là gà bông, gấu, gọi bạn trai là xe trâu, gọi tiền là máu khô, gọi đô la là tờ âm phủ....

Điều đáng nói là cách nói này (và cả tiếng lỏng này) do tự sáng tạo theo ý thích của nhiều nhóm học đường nên tạo ra nhiều "teencode" (mã ngôn ngữ tuổi teen) khác nhau. Mỗi nhóm một kiểu, muôn hình muôn vẻ. Nó hoàn toàn không giống với ngôn ngữ toàn dân – một"code" (mã) chung cho cả cộng đồng. Chính vì nảy sinh theo kiểu “trăm hoa đua nở" nên các “teencode" này tạo nên sự hỗn loạn, khó kiểm soát.

Nên nhìn nhận thế nào từ góc độ ngôn ngữ học?

“Ngôn ngữ không tự nhiên sinh ra.". Mọi sự nảy sinh ngôn từ trong xã hội đều có cái li của nó. Chuyện giới trẻ (hay một giới nào đó) tạo ra một số từ ngữ, một số cách nói riêng cũng là bình thường. Thế giới cũng thế chứ đâu chỉ ta. Trong thời đại công nghệ số, giới trẻ (đang chiếm ưu thế) đã tự tìm cho mình một cách ứng xử, trước hết được coi như một “trò chơi ngôn ngữ" nhằm giải trí và tạo ra một không khí mới lạ, vui vẻ trong giao tiếp. Nó hoàn toàn không vô bổ, mà có giá trị kích thích sự hưng phấn, giúp giới trẻ có cảm hứng để làm việc và học tập hăng say, hiệu quả hơn.

Giáo sư Nguyễn Đức Dân (bảo Sài Gòn Tiếp thị, số 38, 11-4-2011) nhận xét: "Có những từ ngữ chat nghiêm chỉnh không chỉ tồn tại trong thế giới online mà đang thâm nhập cả vào đời sống hằng ngày, được nhiều người chấp nhận.". Từ điển từ mới tiếng Việt (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) đã bổ sung nhiều từ mới lạ chính từ nguồn ngôn ngữ lớp trẻ đó. Nhưng vì ngôn từ này đang "kí sinh" vào ngôn ngữ toàn dân, nên nó cũng có những “tác dụng phụ”, tức ảnh hưởng trở lại ngôn ngữ toàn dân. “Teencode" không chỉ giới trẻ dùng, mà còn nhiều tầng lớp xã hội khác cũng dùng. Họ thấy vui nhộn thì họ dùng thôi.

Tiếng Việt của giới trẻ đang là một tiếng Việt rất đa dạng, nếu không nói là hỗn tạp. Vì hỗn tạp nên người nói phải có sự chọn lọc. Sẽ có không ít những ngôn từ giới trẻ “phát minh” được cộng đồng chấp nhận và nhập vào ngôn ngữ toàn dân. Nhưng cũng không ít từ ngữ "teencode" kia chẳng bao lâu sẽ “chết yểu”, không có cơ hội tồn tại. Cũng bởi bản chất của nó chỉ là một trò chơi nhất thời, không hơn không kém.

Ở đời, cái gì cũng có ngưỡng của nó. Thái quả bắt cập. Điều đáng tiếc là nhiều bạn trẻ bây giờ chỉ mải mê với những “sáng tạo" lạ kì đó mà quên mất việc học tập và trau dồi tiếng mẹ đẻ. Mà ai cũng biết, việc thụ đắc và rèn luyện những kĩ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) luôn là một quá trình dài, liên tục. Học ngôn ngữ cũng như học bất cứ môn gì, càng trẻ càng tốt. Trẻ có ưu thế là đang hăng hải, đang mới mẽ (như tờ giấy trắng), có tiềm năng và sức bật tốt. Không chịu học nghiêm chỉnh khi còn trẻ thì sẽ không còn cơ hội nữa.

(Theo phunuonline.com.vn)

- Thu gọn

Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 11 - Cánh diều - Xem ngay

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
Gửi bài tập - Có ngay lời giải