Soạn văn 11, ngữ văn 11 Cánh Diều Bài 2: Thơ văn Nguyễn Du

Soạn bài Nguyễn Du – Cuộc đời và sự nghiệp SGK Ngữ văn 11 tập 1 Cánh diều - siêu ngắn


Tìm hiểu thêm thông tin về quê hương, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du… Lựa chọn, ghi chép lại một số thông tin quan trọng có liên quan đến sự nghiệp văn học của tác giả.


Video hướng dẫn giải

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Chuẩn bị

Tìm hiểu thêm thông tin về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa Việt Nam cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX; quê hương, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du… lựa chọn, ghi chép lại một số thông tin quan trọng có liên quan đến sự nghiệp văn học của tác giả.

Phương pháp giải:

Chú ý lựa chọn thông tin phù hợp, phục vụ cho việc đọc hiểu.

Lời giải chi tiết:

* Hoàn cảnh lịch sử văn hóa Việt Nam cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX:

- Đất nước rơi vào loạn lạc, phong kiến mục nát, mâu thuẫn giai cấp và xung đột quyền lực diễn ra khốc liệt

- Cuối TK XVIII, nền văn học dân gian nước ta phát triển rực rỡ, với nhiều hình thức phong phú như: ca dao, tục ngữ, truyện thơ dài,...

- Văn học viết bằng chữ Nôm phát triển, tiêu biểu là tác phẩm Truyện Kiều – Nguyễn Du. Tác phầm này phản ánh những bất công và độc ác trong xã hội phong kiến, đồng thời ca ngợi cuộc đấu tranh chống áp bức của nông dân.

- Ngoài ra, thời kì này còn xuất hiện những tác giả nổi tiếng như: Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu,...

- Nội dung các tác phẩm phản ánh sâu sắc cuộc sống xã hội đương thời, thể hiện tâm tư nguyện vọng của nhân dân.

- Văn nghệ dân gian: phát triển, nghệ thuật sân khấu, chèo, tuồng, hát lí, hát dặm ở miền xuôi, hát lượn, hát xoan ở miền núi.

* Cuộc đời

- Nguyễn Du (1765 –1820) tự là Tố Như (素如), hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ. Ông là một nhà thơ, nhà văn hóa lớn thời Lê Mạc, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Ông được người Việt kính trọng tôn xưng là "Đại thi hào dân tộc" và được UNESCO vinh danh là "Danh nhân văn hóa thế giới". Ông có một cuộc đời vô cùng gian truân và cực khổ.

+ Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm. Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản (khi ấy ông Khản đã hơn Nguyễn Du 31 tuổi).

+ Năm 1780 , khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ mật án Canh Tý”: Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông. Ông Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam. Đến khi Trịnh Tông lên ngôi, ông Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng. Quân lính khác phe (sử gọi là “kiêu binh”) không phục, kéo đến phá nhà, khiến ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với em là Nguyễn Điều rồi về quê ở Hà Tĩnh. Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngã.

+ Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Trước đây, một võ quan họ Hà (không rõ tên) ở Thái Nguyên , không có con nên đã nhận ông làm con nuôi. Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên.

+ Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên). Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội).

+ Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau:

Năm 1803 : đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc.

Năm 1805 : thăng hàm Đông Các điện học sĩ.

Năm 1807 : làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương.

Năm 1809 : làm Cai bạ dinh Quảng Bình.

Năm 1813 : thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc.

Sau khi đi sứ về vào năm 1814 , ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.

+ Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ) ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 18 tháng 9 năm 1820. Lúc đầu (1820), Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh).

- Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – XIX. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật là chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn.

→ Yếu tố thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc tới ngòi bút của Nguyễn Du khi viết về hiện thực đời sống. Cuộc đời từng trải, phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.

* Sự nghiệp văn học

- Nguyễn Du đã để lại một di sản văn chương đồ sộ với những tác phẩm kiệt xuất, ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển. Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo lỗi lạc với tấm lòng sâu sắc, bao dung, đồng thời ông đã dùng ngòi bút phê phán hiện thực mạnh mẽ, sắc bén.

+ Những tác phẩm bằng chữ Hán của Nguyễn Du rất nhiều, nhưng mãi đến năm 1959 mới được ba nhà nho là: Bùi Kỷ, Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh sưu tầm, phiên dịch, chú thích và giới thiệu tập: Thơ chữ Hán Nguyễn Du (NXB Văn hóa, 1959) chỉ gồm có 102 bài. Đến năm 1965 NXB Văn học đã ra Thơ chữ Hán Nguyễn Du tập mới do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp, gồm 249 bài như: Thanh Hiên thi tập còn gọi là Thanh Hiền tiền hậu tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài thơ trong giai đoạn 1786-1804, gồm 10 năm gió bụi, ông sống ở Thái Bình quê vợ, 6 năm trở lại nhà dưới chân núi Hồng, và 2 năm làm chi huyện ở huyện Bắc Hà. Tập thơ là các bài viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, giai đoạn 1805-1812, ông được thăng hàm Đông các đại học sĩ, làm quan ở Kinh Đô 5 năm và làm cai bạ ở Quảng Bình 3 năm. Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, giai đoạn 1813-1814, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.

+ Những tác phẩm bằng chữ Nôm của Nguyễn Du gồm có: Đoạn trường tân thanh còn có tên gọi khác là Kim Vân Kiều truyện gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), còn có tên gọi khác là Văn chiêu hồn, Văn tế chiêu hồn.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc Câu 1

Những điểm đáng lưu ý về gia đình, dòng họ Nguyễn Du là gì?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn thứ hai, tìm các chi tiết về gia đình, dòng họ.

Lời giải chi tiết:

Gia đình, dòng họ Nguyễn Du vừa có truyền thống khoa bảng, đỗ đạt làm quan vừa có truyền thống văn hoá, văn học. Họ Nguyễn ở Tiên Điền là dòng họ có danh vọng lớn đương thời, nhiều người thành đạt trên con đường khoa bảng và công danh. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc Câu 2

Những biến cố lịch sử nào đã tác động tới cuộc đời, con người Nguyễn Du?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn thứ bốn, tìm ra những biến cố lịch sử và ảnh hưởng tới cuộc đời, con người Nguyễn Du.

Lời giải chi tiết:

- Những biến cố lịch sử đã tác động tới cuộc đời, con người Nguyễn Du là:

+ Giai đoạn sụp đổ của triều đình vua Lê - chúa Trịnh.

+ Phong trào nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

+ Nguyễn Huệ lật đổ vua Lê – chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đồng thời phá quân Xiêm xâm lược ở phương Nam, diệt quân Thanh xâm lược ở phương Bắc đã thu giang sơn về một mối và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. 

+ Triều đại Tây Sơn sụp đổ, triều Nguyễn được vua Gia Long (Nguyễn Ánh) thiết lập và tiếp đến là công cuộc hưng thịnh trở lại của vương triều Nguyễn.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc Câu 3

Những điểm nào trong cuộc đời Nguyễn Du có ảnh hưởng tới sáng tác văn chương của ông?


Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn thứ năm, tìm các chi tiết về cuộc đời Nguyễn Du ảnh hưởng đến sáng tác văn chương.

Lời giải chi tiết:

- Nguyễn Du đã sống một cuộc đời đầy thăng trầm: Khi trong cảnh “màn lan trưởng huệ" của cậu công tử gia đình đại quý tộc, lúc là kẻ phiêu bạt trong cảnh “mười năm gió bụi” lánh nạn Tây Sơn; khi là người ẩn cư tại quê nhà, lúc làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, từng được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. 

- Đi nhiều, tiếp xúc nhiều cũng là đặc điểm nổi bật ở cuộc đời đại thi hào. 

+ Bước chân Nguyễn Du đã từng qua nhiều miền quê, từ kinh thành Thăng Long đến kinh đô Huế, từ quê cha Hà Tĩnh, quê mẹ Bắc Ninh đến quê vợ Thái Bình, rồi lánh nạn ở Thái Nguyên, làm quan ở Quảng Bình,... 

+ Những tháng năm đi sứ, Nguyễn Du qua nhiều vùng miền của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Ông tiếp xúc và thấu hiểu nhiều tầng lớp người trong xã hội

→ Sự kết hợp hài hòa giữa đời sống và sách vở đã tạo nên một đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. 

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc Câu 4

Chú ý các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn thứ hai của phần II để tìm ra các tác phẩm tiêu biểu. 

Lời giải chi tiết:

- Các tác phẩm văn học của Nguyễn Du: thơ chữ Hán, Nguyễn Du có 3 tập thơ (Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục). 

- Thơ chữ Nôm, Nguyễn Du có hai kiệt tác “Truyện Kiều” và “Văn tế thập loại chúng sinh”.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc Câu 5

Chú ý hiện thực xã hội được phản ánh trong sáng tác của Nguyễn Du.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ phần 1 và chú ý hiện thực xã hội

Lời giải chi tiết:

Hiện thực xã hội được phản ánh trong sáng tác của Nguyễn Du: tái hiện lên hoàn cảnh sống của những số phận cơ cực, hẩm hiu (ông già mù hát rong, người mẹ dắt con đi ăn xin,…), những con người sắc tài mà bi kịch (người phụ nữ gảy đàn đất Long Thành, nàng Tiểu Thanh;…). 

Đó là những bất công của xã hội, những cảnh đời trái ngược.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc Câu 6

Tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du thể hiện như thế nào qua thơ chữ Hán?

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn thứ ba của phần II để tìm ra tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du.

Lời giải chi tiết:

+ Nguyễn Du hướng về những số phận đau khổ, bất hạnh với niềm cảm thương sâu sắc. Đó là những người phụ nữ sắc tài mà mệnh bạc, đó là những người nghèo khổ mà tác giả bắt gặp trên đường đi sứ. 

+ Viết về những con người có tài năng, có khi tiết thanh cao, Nguyễn Du vừa thể hiện niềm cảm thương, vừa trân trọng, ngưỡng mộ. Nguyễn Du cảm nhận mình là người cùng hội cùng thuyền với những số phận tài năng mà bị kịch. 

+ Do vậy, từ lòng thương người, Nguyễn Du trở về với niềm tự thương. Tự thương cũng là tự ý thức về cá nhân. Niềm tự thương là một nét mới trong tỉnh thần nhân đạo của Nguyễn Du.

Trong khi đọc Câu 7

Chú ý những nội dung làm nên giá trị nhân đạo của kiệt tác Truyện Kiều.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn thứ năm, sáu của phần II để tìm ra nội dung của Truyện Kiều thể hiện rõ giá trị nhân đạo.


Lời giải chi tiết:

- Những nội dung: 

+ Tiếng nói đồng cảm trước bi kịch của con người trong Truyện Kiều thể hiện tập trung qua hình tượng nhân vật Thúy Kiều. Nhân vật phải chịu một cuộc đời hội tụ đầy đủ những bi kịch của con người nói chung và phụ nữ nói riêng: tình yêu, gia đình, nhân phẩm,…

+ Tiếng nói đồng tình với khát vọng chân chính của con người thể hiện tập trung qua tình yêu của Kim Trọng với Thúy Kiều, tình yêu Kim – Kiều tan vỡ nhưng khát vọng tình yêu không mất. Trải qua biết bao đau khổ nhưng Thúy Kiều vẫn vươn lên với khát vọng mạnh mẽ. Sau đó khi gặp Từ Hải, đây là nhân vật hiện thân của khát vọng tự do, công lí. 

→ Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du thể hiện tiếng nói đồng cảm với bi kịch, đồng tình với những khát vọng chân chính của con người. Đó cũng là giá trị nhân đạo của kiệt tác văn chương này.

Xem thêm cách soạn khác


Trong khi đọc Câu 8

Điểm nổi bật ở thơ chữ Hán Nguyễn Du là gì?


Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn thứ chín của phần II để tìm ra điểm nổi bật ở thơ chữ Hán.

Lời giải chi tiết:

Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương tuyệt tác, phần lớn được viết theo thể thơ Đường luật với đủ các tiểu loại: nếu xét về số câu trong bài thì có tứ tuyệt (tuyệt cú), bát cú, trường thiên; nếu xét về số chữ trong câu thì có ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn. Bút pháp nghệ thuật phong phú, đa dạng: trữ tình, tự sự hiện thực, trào phúng. Tính chất hàm súc, cô đọng, “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời), nghệ thuật đối,... vốn là đặc điểm, thế mạnh của thơ Đường luật được nhà thơ phát huy ở mức cao nhất. Chất trữ tình quyện hoà chất triết lí đem đến sự thâm trầm, sâu sắc của thơ chữ Hán Nguyễn Du.

Xem thêm cách soạn khác

Trong khi đọc Câu 9

Chú ý những thành công nghệ thuật lớn của kiệt tác Truyện Kiều.


Phương pháp giải:

Đọc kĩ đoạn văn mười một của phần II để tìm ra những nghệ thuật đặc sắc trong Truyện Kiều.

Lời giải chi tiết:

- Nghệ thuật: 

+ Chuyển thể loại từ tiểu thuyết chương hồi sang truyện thơ Nôm do vậy đã kết hợp được thế mạnh của cả tự sự (yếu tố truyện) và trữ tình (yếu tố thơ). 

+ Điểm nhìn trần thuật từ người đứng ngoài câu chuyện thành người trong cuộc. 

+ Cốt truyện sáng tạo, kết thúc về hình thức là có hậu nhưng bản chất là bi kịch.

+ Xây dựng nhân vật: Phân loại tốt – xấu như truyện cổ tích nhưng cũng có nhân vật không thể phân theo loại tốt – xấu đan xen. 

+ Xây dựng nội tâm nhân vật bằng các bút pháp ước lệ và tả thực mang ý nghĩa cách tân. 

+ Các câu thơ lục bát vừa mang nét dân dã bình dị vừa mang nét trau chuốt nghệ thuật, đạt tới giá trị khuôn thước chuẩn mực.

+ Kết hợp ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ văn học dân gian với ngôn ngữ bác học kết tinh từ sách vở.

Xem thêm cách soạn khác


Sau khi đọc Câu 1

Văn bản Nguyễn Du - Cuộc đời và sự nghiệp gồm mấy phần? Hãy xác định nội dung chính của từng phần.

Phương pháp giải:

Đọc kĩ toàn bài, dựa vào nội dung các phần để xác định bố cục.

Lời giải chi tiết:

- Văn bản Nguyễn Du - Cuộc đời và sự nghiệp gồm 2 phần:

+ Phần 1: Cuộc đời từng trải với vốn sống phong phú của Nguyễn Du.

+ Phần 2: Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc Câu 2

Dựa vào văn bản trên, em hãy nêu lên những điểm nổi bật về thời đại, gia đình, cuộc đời Nguyễn Du có ảnh hưởng tới sáng tác của ông.

Phương pháp giải:

Đọc lại toàn bài, chú ý những chi tiết thời đại, gia đình, cuộc đời có ảnh hưởng đến sáng tác.

Lời giải chi tiết:

- Gia đình: Nguyễn Du sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học. Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng. Chính điều này là cái nôi nuôi dưỡng tài năng văn học của Nguyễn Du.

- Thời đại: Cuộc đời Nguyễn Du gắn bó sâu sắc với những biến cố lịch sử của giai đoạn cuối thế kỉ XVIII – XIX. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động với hai đặc điểm nổi bật là chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng và phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. Yếu tố thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc tới ngòi bút của Nguyễn Du khi viết về hiện thực đời sống.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc Câu 3

Vì sao bài viết khẳng định thơ chữ Hán Nguyễn Du “là bức chân dung tự hoạ về một con người có tấm lòng nhân đạo bao la, sâu sắc"?

Phương pháp giải:

Tìm lại phần nội dung về thơ chữ Hán và đưa ra những bình luận phân tích trong bài viết đưa ra về ý kiến.

Lời giải chi tiết:

Bài viết khẳng định thơ chữ Hán Nguyễn Du “là bức chân dung tự hoạ về một con người có tấm lòng nhân đạo bao la, sâu sắc" vì nét nổi bật chính trong các sáng tác của Nguyễn Du là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình”. Điều  quan trọng hàng đầu, là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc Câu 4

Giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực trong tác phẩm của Nguyễn Du thể hiện ở những điểm nào? 

Phương pháp giải:

Đọc lại phần có chứa giá trị nhân đạo của Truyện Kiều, chỉ ra thể hiện ở những mặt nào. Tìm ra nội dung nhân đạo của thơ chữ Hán Nguyễn Du và so sánh chỉ ra điểm khác biệt.

Lời giải chi tiết:

- Giá trị nhân đạo của Truyện Kiều thể hiện ở:

+ Cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều là nỗi đau đứt ruột từ “những điều trông thấy”, như chính tên của tác phẩm là Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột). 

+ Cốt truyện của Truyện Kiều giống nhiều truyện Nôm với ba phần Gặp gỡ – Thử thách — Đoàn tụ nhưng đồng thời có những sáng tạo mới khi tác giả đã tạo nên một kết thúc về hình thức là có hậu nhưng bản chất là bi kịch.

+ Truyện Kiều có những nhân vật, phân theo loại tốt – xấu, thiện – ác, giống kiểu nhân vật của truyện cổ tích, nhưng cũng có nhân vật không thể phân theo loại, khi tốt – xấu đan xen. Các nhân vật trong Truyện Kiều là những nhân vật tính cách, hơn nữa tính cách có sự thay đổi bởi tác động của hoàn cảnh như nhân vật Thuý Kiều. Tính cách nhân vật được khắc họa bằng cả bút pháp ước lệ và bút pháp tả thực, bằng cả con người với biểu hiện bên ngoài và con người với đời sống nội tâm.

+ Miêu tả nội tâm nhân vật là một thành công nghệ thuật lớn, mang ý nghĩa cách tân của kiệt tác Truyện Kiều. Thiên nhiên trong Truyện Kiều vừa là đối tượng thẩm mĩ, vừa là phương thức thể hiện tâm trạng của nhân vật với nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình".

- Giá trị hiện thực: 

+ Phản ánh xã hội phong kiến bất công, thối nát: Đồng tiền trở thành công cụ mua chuộc quan lại, bẻ cong cán cân công lý, khiến người ngay bị hại, kẻ ác nhởn nhơ.

+ Phơi bày bộ mặt giả dối, đạo đức giả của xã hội: Những nhân vật như Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà là hình mẫu cho những kẻ lừa lọc, đội lốt đạo đức; trọng nam khinh nữ, phụ nữ không được quyết định số phận của mình

+ Tái hiện số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ: Thúy Kiều là hiện thân của một người tài sắc vẹn toàn nhưng lại chịu cảnh nghiệt ngã vì xã hội bất công

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc Câu 5

Truyện Kiều có những thành công gì về nghệ thuật?

Phương pháp giải:

Tìm ra những nghệ thuật đặc sắc của Truyện Kiều được chỉ ra trong bài.

Lời giải chi tiết:

- Nghệ thuật:

+ Chuyển thể loại từ tiểu thuyết chương hồi sang truyện thơ Nôm do vậy đã kết hợp được thế mạnh của cả tự sự (yếu tố truyện) và trữ tình (yếu tố thơ). 

+ Điểm nhìn trần thuật từ người đứng ngoài câu chuyện thành người trong cuộc. 

+ Cốt truyện sáng tạo, kết thúc về hình thức là có hậu nhưng bản chất là bi kịch.

+ Xây dựng nhân vật: Phân loại tốt – xấu như truyện cổ tích nhưng cũng có nhân vật không thể phân theo loại tốt – xấu đan xen. 

+ Xây dựng nội tâm nhân vật bằng các bút pháp ước lệ và tả thực mang ý nghĩa cách tân. 

+ Các câu thơ lục bát vừa mang nét dân dã bình dị vừa mang nét trau chuốt nghệ thuật, đạt tới giá trị khuôn thước chuẩn mực.

+ Kết hợp ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ văn học dân gian với ngôn ngữ bác học kết tinh từ sách vở.

Xem thêm cách soạn khác

Sau khi đọc Câu 6

Nhà thơ Tố Hữu nhận định Nguyễn Du là “người xưa của ta nay”. Em có suy nghĩ gì về nhận định đó?

Phương pháp giải:

Trình bày suy nghĩ bằng cách giải thích nhận định, phân tích, bình luận để làm rõ.

Lời giải chi tiết:

-“Người xưa” là nhắc đến Nguyễn Du với những mong ước, khát khao lớn lao, còn “ta nay” chính là muốn chỉ Tố Hữu cũng có những suy nghĩ và mong muốn như Nguyễn Du.

- Trong các sáng tác của ông đề cao giá trị nhân văn con người. Các tác phẩm đó đều thể hiện sự cảm thông sâu sắc của Nguyễn Du đối với cuộc sống của con người, nhất là những người nhỏ bé, bất hạnh, ... đó là kết quả của quá trình quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về con người của tác giả.

- Qua tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, ông đã đề ca ngợi hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp, tài hoa nhưng bạc mệnh. Ông sẵn sàng lên án, tố cáo những thế lực đen tối chà đạp con người. Ông đề cao quyền bình đẳng, giá trị của mỗi người. Tư tưởng của Nguyễn Du đã vượt qua thời đại để tồn tại đến nay. 

Xem thêm cách soạn khác

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Nguyễn Du – cuộc đời và sự nghiệp
+

Nguyễn Du – cuộc đời và sự nghiệp

I. Cuộc đời từng trải với vốn sống phong phú

Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh ra ở Thăng Long. Gia đình, dòng họ Nguyễn Du vừa có truyền thống khoa bảng, đỗ đạt làm quan vừa có truyền thống văn hoá, văn học. Họ Nguyễn ở Tiên Điển là dòng họ có danh vọng lớn đương thời, nhiều người thành đạt trên con đường khoa bảng và công danh. Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), đỗ Tiến sĩ, làm quan to trong triều, từng giữ chức Tham tụng (tên gọi chức Tể tưởng thời Lê Trung hưng), từng giữ chức quan Tế tửu đứng đầu Quốc Tử Giám, là nhà sử học, nhà thơ. Mẹ ông tên Trần Thị Tần, là vợ thứ, người Bắc Ninh, có tài hát xưởng. Anh cùng cha khác mẹ của ông là Nguyễn Khán, đỗ Tiến sĩ, từng giữ chức Bồi tụng (tương đương Tể tưởng nhưng làm việc bên phủ chúa), giỏi văn chương Nôm, say mê sáng tác âm nhạc, được nhiều người truyền tụng. Có thể thấy, truyền thống gia đình là môi trường hết sức thuận lợi để phát triển nhân cách và tài năng của Nguyễn Du.

Hoàn cảnh lịch sử, xã hội với những biến đổi “kinh thiên động địa” đã tác động mạnh mẽ tới cuộc đời, con người, sự nghiệp Nguyễn Du. Thời đại Nguyễn Du là thời đại có những biến cố lịch sử to lớn “một phen thay đổi sơn hà”. Đây là giai đoạn cuối của nhà Lê, giai đoạn sụp đổ của triều đinh vua Lê – chúa Trịnh. Đây là thời kì bão táp của phong trào nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Chiến công của người anh hùng “áo vải cờ đào” Nguyễn Huệ lật đổ vua Lê — chúa Trịnh ở Đàng Ngoài”, chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đồng thời phá quân Xiêm xâm lược ở phương Nam, diệt quân Thanh xâm lược ở phương Bắc đã thu giang sơn về một mối và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Tuy nhiên, triều đại Tây Sơn quá ngắn ngủi, triều Nguyễn được vua Gia Long (Nguyễn Ánh) thiết lập và tiếp đến là công cuộc hưng thịnh trở lại của vương triều Nguyễn. 

Nguyễn Du không chỉ là nhân chứng của thời đại mà còn sống gắn bó sâu sắc với những biến cố lớn lao của thời đại. Điều này đã góp phần đem đến một cuộc đời. từng trải và vốn sống phong phú của đại thi hảo dân tộc.

Nguyễn Du đã sống một cuộc đời đầy thăng trầm: khi trong cảnh "màn lan trưởng huệ" của cậu công tử gia đình đại quý tộc, lúc là kẻ phiêu bạt trong cảnh “mười năm gió bụi” lánh nạn Tây Sơn; khi là người ẩn cư tại quê nhà, lúc làm quan cho triều đinh nhà Nguyễn, từng được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Đi nhiều, tiếp xúc nhiều cũng là đặc điểm nổi bật ở cuộc đời đại thi hào.

Bước chân Nguyễn Du đã từng qua nhiều miền quê, từ kinh thành Thăng Long đến kinh đô Huế, từ quê cha Hà Tĩnh, quê mẹ Bắc Ninh đến quê vợ Thái Bình, rồi lánh nạn ở Thái Nguyên, làm quan ở Quảng Bình,... Những tháng năm đi sử, Nguyễn Du qua nhiều vùng miền của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Ông tiếp xúc và thấu hiểu nhiều tầng lớp người trong xã hội, từ người hát rong, người ăn xin, người nông dân đến những trí thức, quan lại trong triều đình.... Nguyễn Du đã thâu thái được tỉnh hoa của những vùng văn hoá lớn của đất nước (Kinh Bắc, Thăng Long, Nghệ – Tĩnh, Huế) và tỉnh hoa văn hoá nước ngoài như Trung Quốc. Bên cạnh vốn sống từ cuộc đời từng trải, vốn tri thức về văn hoá, văn học dân tộc cũng như văn hoá, văn học Trung Quốc có được qua sách vở đã góp phần bồi đắp cho Nguyễn Du một trí tuệ thông thái, một tâm hồn nghệ sĩ phong phú. Sự kết hợp, bổ sung hải hoà giữa đời sống và sách vở có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành thiên tài Nguyễn Du.

II. Đại thi hào dân tộc

Nguyễn Du là tác giả giữ vị trí hàng đầu trong lịch sử văn học Việt Nam. Sáng tác của Nguyễn Du bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm. Về tác phẩm chữ Hán, Nguyễn Du có ba tập thơ với tổng số 250 bài: Thanh Hiên thì tập (Tập thơ của Thanh Hiên) Nam Trung tạp ngâm (Ngâm vịnh tản mạn trên đường từ Nam đến Trung). Bắc hành tạp lục (Ghi chép tán mạn chuyến đi phương Bắc). Về tác phẩm chữ Nôm, ngoài kiệt tác Truyện Kiều Nguyễn Du còn có Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu hồi)... Các sáng tác của Nguyễn Du vừa mang giá trị hiện thực, vừa mang giá trị nhân đạo sâu sắc.

1. Nguyễn Du – nhà nhân đạo chủ nghĩa

Thơ chữ Hán Nguyễn Du như nhật ki cuộc đời tác giả, là bức chân dung tự hoạ về một con người có tấm lỏng nhân đạo bao la, sâu sắc. Trái tim nhân đạo của đại thi hào thể hiện ở lòng thương người và niềm tự thương. Nguyễn Du hướng về những số phận đau khổ, bất hạnh với niềm cảm thương sâu sắc. Đó là những người phụ nữ sắc tài mà mệnh bạc như người ca nữ đất La Thành, người gãy dàn đất Long Thành, nàng Tiểu Thanh đất Tây Hồ (Trung Quốc). Đó là những người nghèo khổ mà tác gia bắt gặp trên đường di sứ: ông già mù hát rong, bốn mẹ con người ăn xin có thể “chết lăn nơi ngòi rãnh" bất cứ lúc nào... Viết về những con người có tài năng, có khi tiết thanh cao, Nguyễn Du vừa thể hiện niềm cảm thương, vừa trân trọng, ngưỡng mộ. Ông viết về Khuất Nguyên: “Ba năm cố quốc doa đầy / Sở tà muôn thuở bậc thầy văn chương”, về Đỗ Phủ: “Nghìn thuở văn chương đáng bậc thầy”, "Hay thơ há bởi cực nhường này ... Nguyễn Du cảm nhận mình là người cùng hội cùng thuyền với những số phận tài năng mà bị kịch.

Do vậy, từ lòng thương người, Nguyễn Du trở về với niềm tự thương. Ông tự thương minh khi “Dựng nghiệp, mưu sinh luống lỡ làng”, khi cô đơn, không trị âm trí kì giữa cuộc đời, giữa thời gian vô định: “Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa/ Người đời ai khóc Tố Như chăng?". Tự thương cũng là tự ý thức về cá nhân. Niềm tự thương là một nét mới trong tỉnh thần nhân đạo của Nguyễn Du.

Nguyễn Du sáng tác từ “những điều trông thấy". Truyện Kiểu là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo với tầng lớp quan lại gian ác, những kẻ lưu manh, vô lại bất nhân, sự khuynh đảo của thế lực đồng tiền... Trong xã hội ấy, những người lương thiện, những thân phận nhỏ bé bị chà đạp, dập vùi.

Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du thể hiện tiếng nói đồng cảm với bị kịch, đồng tỉnh với những khát vọng chân chính của con người. Đó cũng là giá trị nhân đạo của kiệt tác văn chương này. Tiếng nói đồng cảm trước bi kịch của con người trong Truyện Kiều thể hiện tập trung qua hình tượng nhân vật Thuý Kiều. Đời Kiều là một "tấm gương oan khổ" (Hoài Thanh), là sự hội tụ, điển hình cho những bi kịch của con người nói chung, người phụ nữ nói riêng: bị kịch tình yêu, gia đình, nhân phẩm, “tài mệnh tương đỗ", “hồng nhan bạc mệnh”.... Ở Thuý Kiểu có hai bị kịch hết sức đau đớn: bị kịch tình yêu (bi kịch nhìn từ góc độ tuổi trẻ) và bị kịch nhân phẩm (bi kịch nhìn từ góc độ người phụ nữ). Về bỉ kịch tình yêu: mối tình Kim Trọng – Thuý Kiều là một tình yêu lí tưởng, tình yêu đang đẹp thì tan vỡ và tan vỡ không hàn gắn nổi. Bởi sau mười lăm năm lưu lạc, Kiều gặp lại người yêu nhưng không bao giờ gặp lại tình yêu nữa. Về bỉ kịch nhân phẩm: Thuý Kiều là người rất trọng nhân phẩm, biết giữ gìn nhân phẩm nhưng rồi phải thất thân với kẻ nhơ bẩn, phải “thanh lâu hai lượt", "Đón người cửa trước, nước người cửa sau". Tiếng nói đồng tình với khát vọng chân chính của con người thể hiện tập trung qua tình yêu Kim Trọng – Thuý Kiều và qua các hình tượng nhân vật Thuý Kiểu, Từ Hải. Truyện Kiểu là tiếng nói ca ngợi tình yêu tự do, chung thuỷ, tiếng nói khẳng định khát vọng tình yêu: tình yêu Kim – Kiểu tan vỡ nhưng khát vọng tỉnh yêu không mất. Thúy Kiều là hiện thân của khát vọng sống. Trải qua biết bao “gió dập sóng dồi", một thân phận “con ong cái kiến" nhưng Kiều vẫn vươn lên với khát vọng sống không gì dập tắt nổi. Đoạn Thuý Kiều trả ân, báo oán thể hiện sức mạnh vùng lên của những con người bị áp bức, đau khổ. Nhân vật Từ Hải là hiện thân của khát vọng tự do, công li. Khát vọng tự do của Từ Hải bộc lộ qua lí tưởng, chỉ khi, hành động phi thường “đội trời, đạp đất”, “bể Sở sông Ngô tung hoành". Công lí của Từ Hải là lẽ phải, lẽ công bằng, thể hiện qua tuyên ngôn: "Anh hùng tiếng đã gọi rằng / Giữa đường dẫn thấy bất bằng mà tha”. Công li ấy hướng đến những số phận nhỏ bé, những con người bị áp bức đau khổ.

Nội dung nhân đạo trong Văn tế thập loại chúng sinh thống nhất với nội dung nhân đạo trong Truyện Kiều. Ở bài văn tế này, Nguyễn Du khóc thương cho những loại người trong xã hội. Những giọt nước mắt xót xa nhất là dành cho người phụ nữ ("Đau đớn thay phận đàn bà"), dành cho trẻ em (“Kia những đứa tiểu nhi tắm bé"), người lao động ("Đòn gánh tre chín rạn hai vai"). Chính vì vậy mà nhận định của Mộng Liên Đường chủ nhân về Truyện Kiểu cũng dùng với Văn tế thập loại chủng sinh: “Lời văn tả ra hình như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thẩm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột.” (Bài Tựa về Truyện Kiều).

2. Nguyễn Du — thiên tài nghệ thuật

Đại thi hào Nguyễn Du có những đóng góp nghệ thuật hết sức to lớn đối với sự phát triển của văn học dân tộc. Từ Hải giúp Thuý Kiều đòi lại công li, thực thi lẽ công bằng: người tốt được đền bù, kẻ ác bị trừng trị. Công li trong Truyện Kiểu mang quan điểm của nhân dân từng được thể hiện ở các truyện cổ tích như Thạch Sanh, Tấm Cám,...

Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương tuyệt tác, phần lớn được viết theo thể Đường luật với đủ các tiểu loại: nếu xét về số câu trong bài thì có tứ tuyệt (tuyệt cú), bát cú, trường thiên; nếu xét về số chữ trong câu thì có ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn. Bút pháp nghệ thuật phong phú, đa dạng: trữ tỉnh, tự sự, hiện thực, trào phúng. Tính chất hảm súc, cô đọng, "ý tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài lời), nghệ thuật đối,.. vốn là đặc điểm, thể mạnh của thơ Đường luật được nhà thơ phát huy ở mức cao nhất. Chất trữ tỉnh quyện hoả chất triết lí đem đến sự thâm trầm, sâu sắc của thơ chữ Hán Nguyễn Du.

Truyện Kiều có nguồn gốc tiếp thu từ cuốn tiểu thuyết chương hồi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân (Trung Quốc). Tuy nhiên, để làm nên kiệt tác số một trong văn học Việt Nam, phần sáng tạo của Nguyễn Du là rất lớn, rất quan trọng.

Cảm hứng chủ đạo của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiểu là nỗi đau đứt ruột từ "những điều trông thấy”, như chinh tên của tác phẩm là Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột). Nguyễn Du đã chuyển thể loại từ tiểu thuyết chương hồi sang truyện thơ Nôm, do vậy đã kết hợp được thế mạnh của cả tự sự (yếu tố truyện) và trữ tình (yếu tố thơ). Điểm nhìn trần thuật của tác giả cũng có sự thay đổi, từ người đứng ngoài câu chuyện thành người trong cuộc. Trong các hình thức ngôn ngữ kể chuyện (ngôn ngữ gián tiếp, ngôn ngữ trực tiếp). Nguyễn Du đặc biệt thành công với ngôn ngữ nửa trực tiếp. Cốt truyện của Truyện Kiều giống nhiều truyện Nôm với ba phần Gặp gỡ – Thử thách – Đoàn tự nhưng đồng thời có những sáng tạo mới khi tác giả đã tạo nên một kết thúc về hình thức là có hậu nhưng bản chất là bị kịch. Nghệ thuật xây dựng nhân vật là một thành tựu lớn của kiệt tác Truyện Kiều. Có những nhân vật, phân theo loại tốt – xấu, thiện – ác, giống kiểu nhân vật của truyện cổ tích, nhưng cũng có nhân vật không thể phân theo loại, khi tốt – xấu đan xen. Các nhân vật trong Truyện Kiều là những nhân vật tính cách, hơn nữa tính cách có sự thay đổi bởi tác động của hoàn cảnh như nhân vật Thuý Kiều. Tính cách nhân vật được khắc hoạ bằng cả bút pháp ước lệ và bút pháp tả thực, bằng cả con người với biểu hiện bên ngoài và con người với đời sống nội tâm. Miêu tả nội tâm nhân vật là một thành công nghệ thuật lớn, mang ý nghĩa cách tân của kiệt tác Truyện Kiều. Thiên nhiên trong Truyện Kiều vừa là đối tượng thẩm mĩ, vừa là phương thức thể hiện tâm trạng của nhân vật với nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình”.

Câu thơ lục bát trong Truyện Kiểu vừa dân dã, bình dị như ca dao, dân ca, vừa trau chuốt nghệ thuật, đạt tới giá trị cổ điển – giá trị khuôn thước, mẫu mực. Tiếng Việt trong Truyện Kiều rất giàu, rất đẹp, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ văn học dân gian với ngôn ngữ bác học kết tinh từ sách vở. Kiệt tác Truyện Kiều thuộc số không nhiều tác phẩm của quả khứ mà ngôn ngữ vẫn được sử dụng trong đời sống hiện đại, ở mọi hoàn cảnh giao tiếp, ở mọi tầng lớp khác nhau. Những đóng góp của Nguyễn Du không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với văn hoá, văn học Việt Nam mà còn mang tầm vóc quốc tế. Năm 1965, Hội đồng Hoà bình Thế giới tổ chức kỉ niệm 200 năm ngày sinh Danh nhân văn hoá – nhà thơ Nguyễn Du. Năm 2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) chọn Nguyễn Du là nhân vật văn hoá do thế giới vinh danh và năm 2015, toàn thếgiới kỉ niệm 250 năm ngày sinh của đại thi hào.


- Thu gọn

Bình chọn:
4.9 trên 7 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Văn 11 - Cánh diều - Xem ngay

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...
Gửi bài tập - Có ngay lời giải