Soạn bài Vẻ đẹp của bài thơ "Cảnh khuya" SGK Ngữ văn 8 tập 2 Cánh diều - chi tiết>
Vấn đề chính mà văn bản đưa ra để bàn bạc, trao đổi là gì (xác định luận đề)?
Video hướng dẫn giải
Nội dung chính
| Văn bản bàn luận, phân tích những nét đặc sắc của bài thơ Cảnh khuya, giúp người đọc tiếp nhận được nhiều góc nhìn của bài thơ. |
Chuẩn bị 1
Câu 1 (trang 83, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Vấn đề chính mà văn bản đưa ra để bàn bạc, trao đổi là gì (xác định luận đề)?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Vấn đề chính văn bản đưa ra: bàn về vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya.
Bàn về vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya.
Chuẩn bị 2
Câu 2 (trang 83, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Có những luận điểm nào được sử dụng trong văn bản?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Các luận điểm được sử dụng trong văn bản:
- Yếu tố nghệ thuật trong câu thơ đầu tiên
- Vẻ đẹp của thiên nhiên trong câu thơ thứ hai
- Mối quan hệ giữa người và cảnh trong văn bản.
- Yếu tố nghệ thuật trong câu thơ đầu tiên
- Vẻ đẹp của thiên nhiên trong câu thơ thứ hai
- Mối quan hệ giữa người và cảnh trong văn bản.
Chuẩn bị 3
Câu 3 (trang 83, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng góp phần làm sáng rõ cho luận đề như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng được đưa ra để làm sáng rõ vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya.
Làm sáng rõ vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya.
Chuẩn bị 4
Câu 4 (trang 83, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Quan điểm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Tác giả thể hiện quan điểm, thái độ trân trọng, yêu quý với những vần thơ hay của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trân trọng, yêu quý.
Tác giả thể hiện quan điểm, thái độ trân trọng, yêu quý với những vần thơ hay của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chuẩn bị 5
Câu 5 (trang 83, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Đọc trước văn bản Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya”; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Lê Trí Viễn.
Phương pháp giải:
Đọc trước văn bản, tìm hiểu thêm thông tin về tác giả
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Lê Trí Viễn (10 tháng 3 năm 1919 – 3 tháng 2 năm 2012) là giáo sư, nhà giáo nhân dân, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu đi tiên phong trong việc vận dụng quan điểm Mác-xít trong nghiên cứu và đã đóng góp cho lĩnh vực văn học Việt Nam hơn 40 công trình khoa học giá trị. Ông là hiệu trưởng sáng lập Trường Trung học cơ sở – Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến, một ngôi trường nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ đậu Đại học cao và lượng thủ khoa, á khoa các trường Đại học nhiều nhất nước. Ông đã được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012.
- (10/3/1919 – 3/2/2012) là giáo sư, nhà giáo nhân dân, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu đi tiên phong trong việc vận dụng quan điểm Mác-xít trong nghiên cứu.
- Là hiệu trưởng sáng lập Trường Trung học cơ sở – Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến, một ngôi trường nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ đậu Đại học cao và lượng thủ khoa, á khoa các trường Đại học nhiều nhất nước
- Được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012.
- Tác giả Lê Trí Viễn:
+ Sinh ngày:10 tháng 3 năm 1919, mất ngày 3 tháng 2 năm 2012
+ Là giáo sư, nhà giáo nhân dân, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu đi tiên phong trong việc vận dụng quan điểm Mác-xít trong nghiên cứu và đã đóng góp cho lĩnh vực văn học Việt Nam hơn 40 công trình khoa học giá trị.
+ Ông là hiệu trưởng sáng lập Trường Trung học cơ sở – Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến, một ngôi trường nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ đậu Đại học cao và lượng thủ khoa, á khoa các trường Đại học nhiều nhất nước. Ông đã được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012.
Đọc hiểu 1
Câu 1 (trang 83, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Tác giả đã giới thiệu bài thơ bằng cách nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần (1)
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Tác giả đã giới thiệu bài thơ bằng cách giới thiệu xuất xứ - chùm thơ có chứa bài Cảnh khuya của Bác.
Giới thiệu xuất xứ - chùm thơ có chứa bài Cảnh khuya của Bác.
Tác giả đã giới thiệu bài thơ bằng cách giới thiệu xuất xứ của bài thơ Cảnh khuya.
Đọc hiểu 2
Câu 2 (trang 83, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Yếu tố nghệ thuật nào trong câu thơ đầu được tác giả đặc biệt quan tâm khi phân tích?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần (2)
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Yếu tố nghệ thuật: sự so sánh tiếng suối với tiếng hát trong câu thơ đầu được tác giả đặc biệt quan tâm khi phân tích.
So sánh tiếng suối với tiếng hát
Yếu tố nghệ thuật so sánh: tiếng suối với tiếng hát.
Đọc hiểu 3
Câu 3 (trang 84, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Tác giả cảm nhận vẻ đẹp của câu thơ chủ yếu bằng cách nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Tác giả cảm nhận vẻ đẹp của câu thơ chủ yếu bằng cách tưởng tượng khung cảnh thiên nhiên có ánh trăng và cổ thụ, khóm hoa. Từ đó, cảm nhận vẻ đẹp khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, đẹp như một bức tranh thủy mặc.
Tưởng tượng khung cảnh thiên nhiên có ánh trăng và cổ thụ, khóm hoa.
- Tác giả cảm nhận vẻ đẹp của câu thơ chủ yếu bằng cách: tưởng tượng khung cảnh thiên nhiên có ánh trăng và cổ thụ, khóm hoa.
= > Cảm nhận vẻ đẹp khung cảnh thiên nhiên đẹp như một bức tranh thủy mặc.
Đọc hiểu 4
Câu 4 (trang 85, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Tác giả đã nhấn mạnh điều gì ở phần (5)?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần (5)
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Ở phần 5, tác giả đã nhấn mạnh sự nhịp nhàng, hài hòa, một thế cân bằng tuyệt đỉnh trong bài thơ Cảnh khuya của Bác.
Nhấn mạnh sự nhịp nhàng, hài hòa, một thế cân bằng tuyệt đỉnh trong bài thơ.
Tác giả đã nhấn mạnh sự nhịp nhàng, hài hòa, một thế cân bằng tuyệt đỉnh trong bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
CH cuối bài 1
Câu 1 (trang 86, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Văn bản Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya” bàn về vấn đề gì? Em dựa vào đâu để nhận ra nhanh nhất điều này?
Phương pháp giải:
Chú ý nhan đề của văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Văn bản Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya” bàn về vẻ đẹp nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ Cảnh khuya.
Ta dựa vào nhan đề và phần 1 của văn bản để nhận ra nhanh nhất điều này.
- Bàn về vẻ đẹp nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ Cảnh khuya.
- Dựa vào nhan đề và phần 1
CH cuối bài 2
Câu 2 (trang 86, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Bài thơ Cảnh khuya được tác giả Lê Trí Viễn phân tích theo trình tự nào? Nêu tác dụng của việc phân tích theo trình tự đó.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Tác giả phân tích bài thơ Cảnh khuya theo trình tự các câu thơ của tác phẩm (câu đầu - câu thứ hai - hai câu cuối).
Việc phân tích theo trình tự các câu thơ trong bài thơ giúp bài phân tích có chiều sâu và phân tích được mạch cảm xúc mà tác giả bài thơ muốn thể hiện.
- Trình tự: câu đầu - câu thứ hai - hai câu cuối.
- Tác dụng: giúp bài phân tích có chiều sâu và phân tích được mạch cảm xúc mà tác giả muốn thể hiện.
- Tác giả phân tích bài thơ Cảnh khuya theo trình tự các câu thơ: câu đầu - câu thứ hai - hai câu cuối.
- Giúp bài phân tích có chiều sâu và phân tích được mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ mà tác giả muốn bày tỏ.
CH cuối bài 3
Câu 3 (trang 86, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Đọc kĩ các phần của văn bản và thực hiện những yêu cầu sau:
a. Xác định nội dung chính của mỗi phần. Tính lô gích giữa các phần được thể hiện như thế nào?
b. Chỉ ra một ví dụ thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung chính của một phần với lí lẽ, bằng chứng được sử dụng trong đó
c. Nêu một điểm chung về thái độ, quan điểm của tác giả thể hiện ở các phần trong văn bản
Phương pháp giải:
Đọc kĩ các phần văn bản
Lời giải chi tiết:
Cách 1
a. Nội dung chính của mỗi phần:
Phần 1: Giới thiệu bài thơ Cảnh khuya.
Phần 2: Phân tích câu thơ thứ nhất trong bài thơ Cảnh khuya.
Phần 3: Phân tích câu thơ thứ hai trong bài thơ Cảnh khuya.
Phần 4: Phân tích hai câu thơ cuối trong bài thơ Cảnh khuya.
Phần 5: Sự cân bằng trong bài thơ Cảnh khuya.
b. Tính logic giữa các phần được thể hiện ở:
- Các luận điểm có sự gắn bó mật thiết với luận đề và được sắp xếp theo hệ thống hợp lí (phân tích bài thơ theo trình tự các câu thơ) giúp người đọc dễ theo dõi, cảm nhận. Luận đề của văn bản được làm sáng tỏ, thuyết phục.
- Các lí lẽ giải thích, làm rõ luận điểm, tăng sức thuyết phục, cho bài viết.
Ví dụ: Phần 2 có nội dung chính là phân tích câu thơ thứ nhất trong bài thơ Cảnh khuya. Trong phần này, tác giả tập trung phân tích vẻ đẹp của cảnh vật, thiên nhiên trong câu thơ thứ nhất của bài Cảnh khuya.
- Lí lẽ:
+ Câu thơ vang lên hai thứ tiếng: tiếng suối và tiếng hát.
+ Tiếng suối rất trong ấy văng vẳng mơ hồ như một tiếng hát từ xa vọng lại.
+ Dù sao đó vẫn là một hồi âm, một tưởng tượng mĩ lễ xứng đáng với một tâm hồn đẹp và một cảnh khuya tao nhã.
+ Dẫn chứng:
- Tác giả so sánh tiếng suối trong bài thơ Cảnh khuya với tiếng suối trong các bài thơ khác như tiếng suối trong bài Côn Sơn của Nguyễn Trãi, tiếng suối trong thơ của Bạch Cư Dị.
c. Điểm chung về thái độ, quan điểm của tác giả thể hiện ở các phần trong văn bản là: Tác giả trân trọng, khâm phục trước nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ Cảnh khuya của Bác.
a.
|
Nội dung chính |
- Phần 1: Giới thiệu bài thơ Cảnh khuya. - Phần 2: Phân tích câu thơ thứ nhất trong bài thơ Cảnh khuya. - Phần 3: Phân tích câu thơ thứ hai trong bài thơ Cảnh khuya. - Phần 4: Phân tích hai câu thơ cuối trong bài thơ Cảnh khuya. - Phần 5: Sự cân bằng trong bài thơ Cảnh khuya. |
|
Tính lô-gic |
- Các luận điểm có sự gắn bó mật thiết với luận đề và được sắp xếp theo hệ thống hợp lí. - Các lí lẽ giải thích, làm rõ luận điểm, tăng sức thuyết phục, cho bài viết |
b. Ví dụ: Phần 2 có nội dung chính là phân tích câu thơ thứ nhất trong bài thơ Cảnh khuya. Trong phần này, tác giả tập trung phân tích vẻ đẹp của cảnh vật, thiên nhiên trong câu thơ thứ nhất của bài Cảnh khuya.
c. Điểm chung: trân trọng, khâm phục trước nghệ thuật tả cảnh trong bài thơ Cảnh khuya của Bác.
CH cuối bài 4
Câu 4 (trang 86, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Hãy dẫn ra một đoạn văn cho thấy tác giả đã phân tích các yếu tố nghệ thuật để làm nổi bật nội dung của bài thơ.
Phương pháp giải:
Trả lời theo ý hiểu
Lời giải chi tiết:
Cách 1
“Câu thơ vang lên những hai thứ tiếng: tiếng suối và tiếng hát…..tĩnh mịch, sâu lắng của cảnh khuya”.
=> Phân tích cách so sánh tiếng suối và tiếng hát để làm nổi bật không gian của văn bản.
Đoạn văn: “Câu thơ vang lên những hai thứ tiếng: tiếng suối và tiếng hát…..tĩnh mịch, sâu lắng của cảnh khuya”.
CH cuối bài 5
Câu 5 (trang 86, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Một trong những cách bình luận thơ là so sánh sự thể hiện của tác giả này với tác giả khác về cùng một vấn đề. Em hãy nêu nhận xét về tác dụng của cách bình luận đó trong phần (2) văn bản Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya”.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần (2)
Lời giải chi tiết:
Cách 1
So sánh tiếng suối trong bài thơ Cảnh khuya của Bác với tiếng suối trong bài thơ của Bạch Cư Dị, Thế Lữ và tiếng suối trong thơ của Nguyễn Trãi, tác giả đã làm nổi bật lên cái hay, cái đẹp của tiếng suối trong thơ của Bác. Nếu tiếng suối trong thơ của Bạch Cư Dị và Nguyễn Trãi nghe nhưng tiếng đàn, tiếng suối trong thơ Thế Lữ trong như nước ngọc tuyền thì tiếng suối trong thơ Bác lại là một tiếng hát, một tiếng hát trong trẻo, một tiếng hát như một hồi âm vọng về gợi lại trong kí ức.
=> Tiếng suối của Bác thể hiện một tâm hồn đẹp của người thi sĩ.
Tác dụng: làm nổi bật lên cái hay, cái đẹp của tiếng suối trong thơ của Bác.
=> Tiếng suối của Bác thể hiện một tâm hồn đẹp của người thi sĩ.
CH cuối bài 6
Câu 6 (trang 86, SGK Ngữ văn 8, tập 2)
Trước và sau khi học văn bản nghị luận này, cảm nhận của em về bài thơ Cảnh khuya có gì khác nhau? Chỉ ra nguyên nhân tạo nên sự khác biệt ấy.
Phương pháp giải:
Trả lời theo ý hiểu
Lời giải chi tiết:
Cách 1
Trước khi đọc văn bản em chưa có cảm nhận sau sắc về bài thơ Cảnh khuya bởi lẽ bài thơ này đã được sáng tác từ rất lâu trước đây, nhưng sau khi học văn bản này em thấy mình hiểu sâu hơn về tác phẩm. Em biết được đặc sắc trong nghệ thuật của bài thơ, hiểu sâu hơn về nội dung tác phẩm đồng thời cũng cảm nhận được rõ nét tâm hồn, tâm trạng của chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài thơ.Bài phân tích của tác giả Lê Trí Viễn xoáy sâu và nội dung vào từng từ ngữ, kết hợp với sự tưởng tượng của mình, ông đã tái hiện được hết vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên cảnh khuya, những cái hay ẩn sâu trong bài thơ Cảnh khuya.
|
|
Cảm nhận của em |
|
Trước khi đọc |
Chưa có cảm nhận sau sắc về bài thơ Cảnh khuya bởi lẽ bài thơ này đã được sáng tác từ rất lâu trước đây |
|
Sau khi đọc |
Biết được đặc sắc trong nghệ thuật, hiểu sâu hơn về nội dung tác phẩm đồng thời cũng cảm nhận được rõ nét tâm hồn, tâm trạng của chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài thơ |
|
Nguyên nhân tạo nên sự khác biệt |
- Xoáy sâu và nội dung vào từng từ ngữ - Kết hợp với sự tưởng tượng đã tái hiện được hết vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên cảnh khuya. |
VẺ ĐẸP CỦA BÀI THƠ CẢNH KHUYA
(Lê Trí Viễn)
Bài thơ Cảnh khuya nằm trong chùm thơ năm 1947 của Bác.
Đêm đã khuya, núi rừng, chim muông từ lâu đã im lặng. Bản làng ở xa, cơ quan ở gần, từ lâu cũng đã ngủ yên. Đêm có trăng, sáng và mát. Gió cũng ngừng. Cây cối im lìm không động. Cảnh vật như lắng suy.
Trên nền im lặng bao la ấy nổi bật lên một âm thanh văng vẳng mơ hồ nhưng êm dịu như một tiếng hát xa – tiếng suối:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
[…] Câu thơ vang lên những hai thứ tiếng: tiếng suối và tiếng hát. Tưởng chừng cái im lặng của cảnh khuya bị phá vỡ. Hóa ra lại không. Cũng như tiếng gõ cửa ban đêm trong thơ Giả Đảo, tiếng ngỗng đêm thu trong thơ Nguyễn Khuyến, tiếng suối trong đêm càng tăng thêm cái tĩnh mĩnh, sâu lắng của cảnh khuya.
Tiếng suối rất trong ấy văng vẳng mơ hồ như một tiếng hát từ xa vọng lại. Tiếng hát nghe xa đồng vọng, có quãng cách gạn lọc, không hay cũng hóa dịu êm. Đã nghe suối chảy thành lời hát, tiếng suối thành giọng người thì tiếng hát tất nhiên là đẹp, là hay. […]
Nguyễn Du, Bạch Cư Dị so tiếng đàn với tiếng suối. Thế Lữ lại so tiếng hát trong với nước ngọc tuyền. Những tác giả này không miêu tả trực tiếp tiếng suối.
Chỉ có Nguyễn Trãi ví tiếng suối là tiếng đàn cầm. Có lẽ đó là hình ảnh gần nhất với hình ảnh trong câu thơ này. Có thể chẳng phải là ngẫu nhiên: Nguyễn Trãi so sánh âm nhạc, Bác Hồ cũng không lạ chi lĩnh vực này. Có thể chẳng phải là ngẫu nhiên: Nguyễn Trãi so sánh âm nhạc, Bác Hồ cũng không lạ chi lĩnh vực này. Và tiếng hát đó như một hồi âm vọng về, liên tưởng tới một giọng hát từng lưu lại trong kí ức hay là sản phẩm của trí tưởng tượng trong khoảnh khắc trời khuya. Dù sao đó vẫn là một hồi âm, một tưởng tượng mĩ lệ xứng đáng với một tâm hồn đẹp và một cảnh khuya tao nhã.
Trong không khí lắng sâu ấy của đất trời, một hình ảnh hiện lên:
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Ánh trăng bao phủ trùm lên cổ thụ. Ánh trăng lồng vào tán lá. Cành lá cắt ánh trăng thành những mảng trắng đen lẫn lộn, những bóng trăng và bóng cây. Hai lớp bóng ấy lại trùm lên, lồng vào khóm hoa và bóng hoa, bóng trăng, bóng cây lại in lên mặt đất. Chỉ có tối và sáng, trắng và đen loang loáng ánh bạc. Sắc màu bề ngoài mát lạnh. Mọi vật im phăng phắc. Ấy thế mà bên trong, thiên nhiên lại vận động ấm áp vô chừng. […]
Nếu hai chữ tiếng ở câu trên chỉ làm tăng vẻ tĩnh mịch thì ở câu này, hai chữ lồng cũng không hề tạo ra một cử động nào cả. Không có gió, cây lá không hề rung rinh, ánh trăng trên trời trong không hề ẩn hiện. Mọi vật đứng yên không động. Các mảng tối của lá cành in hình lên nền trăng sáng, đường viền rõ mồn một như cắt.
Thế là hòa nhịp với âm thanh của suối cũng có hình dáng; ánh trăng, cổ thụ, khóm hoa như một bức thủy mặc: Cảnh khuya như vẽ. Đẹp mà có hồn. Tĩnh mà sâu:
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
[…] Câu thơ cắt ngang ở giữa, cái thế chạm nhau cảnh khuya như vẽ và người chưa ngủ đã bày ra nhưng không phải để đối lập người với cảnh vốn chan hòa sâu sắc như vừa thấy mà cốt cho nổi bật lên vị trí con người: dù bất kì ở đâu cũng vẫn một mực “Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung”. Cho nên đây là chưa ngủ chứ không phải không ngủ, càng không phải là không ngủ được. Con người ở thế chủ động và hoàn toàn thoải mái.
Chưa ngủ vì mải mê với cảnh, cũng là một lí do đẹp, đó là cái chưa ngủ của nghệ sĩ. Ví thử bài thơ đến đó chấm dứt thì người đọc có quyền nghĩ rằng đó là lí do duy nhất. Nhưng không. Chưa ngủ trước có thể nguyên nhân là vậy còn chưa ngủ sau lại là cái chính, đúng hơn, như bổ sung: chưa ngủ vì một lí do khác, lí do chiến sĩ. Con người còn thức vì những tình cảm cao sâu: vì lo nỗi nước nhà.
Không thể nào lầm được, con người đó phải là Bác Hồ. Đâu phải ai cũng dễ nói về những đêm không ngủ của mình là do nỗi nước nhà. Nguyễn Trãi, thời gian đang còn tìm đường, nung nấu bao nỗi nước nhà thật sự mà chỉ nói: “Khách lí giang san chỉ thử tình” và nhàu nát một chiếc gối từ khuya cho chí sáng. Còn Tú Xương, lúc lắng mình buồn não cho nước nhà thì chỉ ném vào cảnh đời một cái bực mình lẩn trốn: “Ngủ quách sự đời thây kẻ thức”.
Cho nên hạ một câu: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” đâu phải mọi người đều nói được. Trong khi Bác nói một cách rất tự nhiên. Cái nhẹ nhàng, hồn nhiên và giản dị ấy ai ngờ lại hiện ngay trong cách ghép của tổ hợp từ này. Ta thường nghe nói nỗi nhớ, nỗi nhà, nỗi mình, còn nỗi nước nhà thì chưa thấy đâu nói. Bởi nó tiêu biểu, nó tập hợp ở đỉnh cao nhất mọi tình cảm và mọi nghĩ suy và điều đó chỉ có Bác Hồ nói là thích hợp nhất; nhẹ nhàng, hồn nhiên nhất. Kể cả cái lo không giấu giếm gì ấy cũng chẳng làm vẩn bợm được ánh trăng sáng và tiếng suối trong ở trên. Bởi vì nó không làm xáo trộn được tâm hồn con người vĩ đại mặc dù niềm lo cho nước nhà ở năm 1947 là vô cùng to lớn, nặng nề. […]
Trong nỗi lo dằng dặc về nước nhà, Bác tạm ngừng một phút để lo lắng sâu vào cảnh vật và Bác đã bắt gặp cảnh đẹp giữa rừng khuya trong khoảnh khắc dành cho trái tim nghệ sĩ của mình. Ban đầu, con người như hòa tan với thiên nhiên, chỉ có cảnh vật lắng sâu trong im lặng và vẻ đẹp xôn xao ngấm ngầm của nó. Đến cuối, hình ảnh con người cũng lắng sau trong suy tư về nỗi nước niềm nhà mới hiện lên với vẻ đẹp của một tâm hồn cao cả, rạng ngời giữa cảnh đẹp mênh mông của trời đất.
Thiên nhiên và con người, cảnh đẹp và niềm lo, nghệ sĩ và chiến sĩ, truyền thống và hiện đại, lãng mạn và hiện thực, bình thường và siêu việt, giản dị và vĩ đại,… tất cả đều nhịp nhàng trong một sự hài hòa, một thế cân bằng tuyệt đỉnh.
Luyện cho cái thế cân bằng ấy thành tác phong con người kể đã khó. Nhưng trong lúc cuộc kháng chiến còn chồng chất gian nan như năm 1947 mà nhìn ra ngay trong ấy những cái đẹp, cái vui, giữa tiếng bom đạn mà nghe ra tiếng suối, giữa mông lung lo nghĩ mà thấy sáng ánh trăng, nhìn ra những điểm thức trong cảnh ngủ, thấy mầm mống của cái mới đang sinh thành giữa bao la cái cũ… thì đó thật là một vị thuốc trường sinh của con người cách mạng. Ở bài thơ này cũng như ở bao bài thơ khác của Người đã in đậm phong cách thơ Hồ Chí Minh.
- Soạn bài Chiều sâu của truyện "Lão Hạc" SGK Ngữ văn 8 tập 2 Cánh diều - chi tiết
- Soạn bài Thực hành tiếng Việt bài 9 SGK Ngữ văn 8 tập 2 Cánh diều - chi tiết
- Soạn bài Nắng mới, áo đỏ và nét cười đen nhánh (Về bài thơ "Nắng mới" của Lưu Trọng Lư) SGK Ngữ văn 8 tập 2 Cánh diều - chi tiết
- Soạn bài Viết bài nghị luận phân tích một tác phẩm kịch SGK Ngữ văn 8 tập 2 Cánh diều - chi tiết
- Soạn bài Thuyết trình bài giới thiệu về một vấn đề của tác phẩm văn học SGK Ngữ văn 8 tập 2 Cánh diều - chi tiết
>> Xem thêm
Các bài khác cùng chuyên mục
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Người thầy đầu tiên 8 CD
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Đổi tên cho xã
- Tóm tắt, bố cục, nội dung chính văn bản Người mẹ vườn cau
- Văn bản Cuốn sách "Chìa khóa vũ trụ của Gioóc-giơ"
- Văn bản Bộ phim "Người cha và con gái"




Danh sách bình luận