Soạn văn 10, ngữ văn 10 chân trời sáng tạo Bài 5: Nghệ thuật truyền thống (chèo/tuồng)

Soạn bài Thị Mầu lên chùa SGK Ngữ Văn 10 tập 1 Chân trời sáng tạo - siêu ngắn


Điền vào bảng dưới đây một số câu đối thoại, độc thoại, bàng thoại của nhân vật Thị Mầu, Thị Kính và tiếng đế trong văn bản trên (làm vào vở):


Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Nội dung chính

Đoạn trích xoay quanh sự việc trêu ghẹo Tiểu Kính của Thị Mầu.

Trước khi đọc Câu 1

Video hướng dẫn giải

Bạn đã bao giờ nghe nói đến thành ngữ “Oan Thị Kính”? Bạn hiểu nghĩa của thành ngữ này như thế nào?


Phương pháp giải:

Chia sẻ quan điểm của bản thân.


Lời giải chi tiết:

- Em đã từng nghe đến thành ngữ “Oan Thị Kính”.

- Theo em, thành ngữ trên ý chỉ những nỗi oan khuất cùng cực mà không có cách nào có thể giãi bày hay được minh oan.


Trước khi đọc Câu 2

Video hướng dẫn giải

Quan sát hình ảnh dưới đây trong vở chèo Quan Âm Thị Kính và dự đoán tính cách, thái độ hai nhân vật.


Phương pháp giải:

- Quan sát hình ảnh (trang 113, SGK Ngữ Văn 10, tập một).

- Đưa ra lời dự đoán của bản thân.


Lời giải chi tiết:

- Thị Mầu: tính cách mưu mô, xảo quyệt; thái độ vui vẻ khi đạt được mục đích của mình.

- Thị Kính: tính cách hiền lành, chấp nhận số phận; thái độ cam chịu.


Trong khi đọc Câu 1

Video hướng dẫn giải

Đọc lướt và cho biết nhân vật nào có nhiều lời thoại nhất trong đoạn trích này?


Phương pháp giải:

- Đọc lướt đoạn trích.

- Chú ý vào tên các nhân vật có lời thoại.


Lời giải chi tiết:

Đoạn trích trên gồm 2 nhân vật có lời thoại (Thị Mầu, Kính Tâm). Trong đó, nhân vật Thị Mầu có nhiều lời thoại nhất.


Trong khi đọc Câu 2

Video hướng dẫn giải

Từ câu trả lời cho câu hỏi 1, bạn hình dung thế nào về sự khác biệt trong thái độ của hai nhân vật?


Phương pháp giải:

Tham khảo số lời thoại của hai nhân vật trong đoạn trích.


Lời giải chi tiết:

Số lời thoại của nhân vật Thị Mầu chiếm số lượng nhiều hơn nhân vật Thị Kính, từ đó cho thấy:

- Kính Tâm: ít nói, kiệm lời, dường như luôn muốn né tránh và không muốn tiếp chuyện Thị Mầu.

- Thị Mầu: nhiều lời, nói không có điểm dừng, thái độ hài lòng với những mục đích mình đạt được.


Trong khi đọc Câu 3

Video hướng dẫn giải

Tìm những từ ngữ miêu tả Kính Tâm trong lời thoại của Thị Mầu. Việc sử dụng những từ ngữ này cho thấy điều gì về tính cách của Thị Mầu?


Phương pháp giải:

- Đọc kĩ văn bản.

- Chú ý những từ ngữ miêu tả Kính Tâm qua lời thoại của Thị Mầu.


Lời giải chi tiết:

- Những từ ngữ miêu tả Kính Tâm trong lời thoại của Thị Mầu.

+ Đẹp như sao băng.

+ Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang.

→ Từ việc sử dụng những từ ngữ này cho thấy Thị Mầu là người hám sắc, lẳng lơ, lời lẽ không thích hợp nơi cửa chùa.


Trong khi đọc Câu 4

Video hướng dẫn giải

Đoạn hát ghẹo tiểu của Thị Mầu cho thấy nhân nhân vật quan niệm như thế nào về tình yêu? Chú ý những từ ngữ, hình ảnh thể hiện quan niệm tình yêu của Thị Mầu.

Phương pháp giải:

- Đọc kĩ đoạn hát ghẹo tiểu của Thị Mầu.

- Chú ý những từ ngữ, hình ảnh.


Lời giải chi tiết:

Đoạn hát ghẹo tiểu của Thị Mầu cho thấy quan niệm về tình yêu của nhân vật Thị Mầu: tình yêu đối với cô như một trò đùa, không biết phân biệt sai trái (ghẹo tiểu nơi chùa Phật). 


Sau khi đọc Câu 1

Video hướng dẫn giải

Điền vào bảng dưới đây một số câu đối thoại, độc thoại, bàng thoại của nhân vật Thị Mầu, Thị Kính và tiếng đế trong văn bản trên (làm vào vở):

Hình ảnh (trang 117, Ngữ Văn 10, tập một)

Từ ngôn ngữ, giọng điệu của những lời thoại trên, bạn nhận xét như thế nào về tính cách của hai nhân vật Thị Mầu và Thị Kính?

Phương pháp giải:

     Đọc toàn bộ đoạn trích, chú ý những câu đối thoại, độc thoại và bàng thoại của các nhân vật.

Lời giải chi tiết:

Nhân vật

Đối thoại

Độc thoại

Bàng thoại

Thị Mầu

- Đây rồi nhé!

- Tên em ấy à?

- Là Thị Mầu, con gái phú ông...Chưa chồng đấy nhá!.

- Đưa chổi đây em quét rồi em nói chuyện này cho mà nghe!

- Phải gió ở đâu! Chạy từ bao giờ rồi!

- Người đâu mà đẹp như sao băng thế nhỉ?

- Lẳng lơ ở đây cũng chẳng mòn.

- Đẹp thì người ta khen chứ sao!

- Nhà tao còn ối trâu!

 

Thị Kính

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiếng đế (người xem)

- A di đà Phật! Chào cô lên chùa!.

- Cô cho biết tên để tôi vào lòng sớ!

- Tôi đã đèn nhang xong, mời cô vào lễ Phật.

- Cô buông ra để tôi quét chùa kẻo sư phụ người quở chết!

- Mười tư, rằm!

- Ai lại đi khen chú tiểu thế cô Mầu ơi!

- Mầu ơi mất bò rồi!

- Mầu ơi nhà mày có mấy chị em? Có ai như mày không?

- Sao lẳng lơ thế, cô Mầu ơi!

- Nam mô A di đà Phật!.

- Khấn nguyện thập phương ...Quỷ thần soi xét!

Ngẫm oan trái nhiều phen muốn khóc ... Chứ có biết đâu mình cũng chỉ là...

Từ ngôn ngữ và giọng điệu trên cho thấy:

- Thị Mầu: táo bạo, phóng khoáng.

- Thị Kính: trầm lặng, e dè, nhẹ nhàng, mang đậm chất người con gái đã quy y cửa Phật.

Sau khi đọc Câu 2

Video hướng dẫn giải

Lời thoại của Thị Mầu cho thấy tình cảm, cảm xúc của nhân vật đã thay đổi như thế nào từ đầu đến cuối đoạn trích? Điền các từ ngữ chỉ tình cảm, cảm xúc và những lời thoại tương ứng vào sơ đồ sau (làm vào vở):

Hình ảnh (trang 117, SGK Ngữ Văn 10, tập một)

Phương pháp giải:

- Đọc kĩ văn bản.

- Chú ý các lời thoại của nhân vật Thị Mầu.

Lời giải chi tiết:

Sau khi đọc Câu 3

Video hướng dẫn giải

Lời thoại của Thị Mầu cho thấy nhân vật quan niệm như thế nào về tình yêu và hạnh phúc?

Phương pháp giải:

- Đọc kĩ văn bản.

- Chú ý lời thoại, ngôn ngữ của Thị Mầu để thấy được quan niệm về tình yêu và hạnh phúc của cô.

Lời giải chi tiết:

     Lời thoại của Thị Mầu cho thấy nhân vật quan niệm về tính yêu và hạnh phúc khá đơn giản, chủ yếu là đi theo cái thích của mình. Thị Mầu khá phóng khoáng và thoải mái trong tình yêu cũng như hạnh phúc, bỏ qua những rào cản về giáo lí, lễ nghi hay gia đình. Với cô, chỉ cần bản thân cảm thấy thích người ta là đủ, không hề bận tâm đến bất cứ điều gì, có duyên là đến. “Phải duyên thời lấy/ Chớ nghe họ hàng”.

Sau khi đọc Câu 4

Video hướng dẫn giải

Trong đoạn trích Thị Mầu lên chùa, tiếng đế thể hiện quan điểm như thế nào về nhân vật Thị Mầu? Bạn có đồng tình với quan điểm đó hay không? Vì sao?

Phương pháp giải:

Đọc lời thoại của tiếng đế.

- Đưa ra quan điểm cá nhân.

Lời giải chi tiết:

- Trong đoạn trích Thị Mầu lên chùa, tiếng đế đã thể hiện trực tiếp quan điểm về nhân vật Thị Mầu qua các câu từ:

+ “Ai lại đi khen chú tiểu thế cô Mầu ơi!”.

+ “Mầu ơi nhà mày có mấy chị em? Có ai như mày không?”

+ “Dơ lắm! Mầu ơi!”.

“Sao lẳng lơ thế, cô Mầu ơi!”.

→ Qua cách gọi và cách dùng từ ngữ để nói về Thị Mầu, tiếng đế coi cô là một người phụ nữ không gia giáo, không biết lễ nghĩa, lẳng lơ. Có lẽ, tiếng đế có một cái nhìn khá tiêu cực về Thị Mầu.

→ Theo quan điểm cá nhân, nếu xét trong thời kì đó, em cũng đồng tình với quan điểm của tiếng đế vì những tính cách đó của Thị Mầu hoàn toàn không phù hợp với nét đẹp truyền thống của người phụ nữ thời xưa.

Sau khi đọc Câu 5

Video hướng dẫn giải

Ứng xử của nhân vật Thị Kính thể hiện quan điểm gì của tác giả dân gian? Quan điểm đó có còn nguyên giá trị trong xã hội ngày nay không?

Phương pháp giải:

- Chú ý những lời thoại thể hiện tính cách của nhân vật Thị Kính.

- Đối chiếu những tính cách đó với xã hội ngày nay.

Lời giải chi tiết:

- Ứng xử của nhân vật Thị Kính thể hiện quan điểm của tác giả dân gian về người phụ nữ xưa: hiền lành, hiểu lễ nghĩa, tài sắc vẹn toàn, luôn nghe theo lời gia đình.

- Theo em, quan điểm đó ở một số nơi vẫn còn giữ nguyên giá trị. Bởi đấy là những đức tính tốt đẹp, cần có ở một người phụ nữ.

Sau khi đọc Câu 6

Video hướng dẫn giải

Những dấu hiệu nào giúp bạn nhận biết Thị Mầu lên chùa là một văn bản chèo?

Phương pháp giải:

- Đọc kĩ văn bản.

- Đọc kĩ lý thuyết về văn bản chèo tại phần Tri thức Ngữ văn.

Lời giải chi tiết:

Những dấu hiệu nhận biết Thị Mầu lên chùa là một văn bản chèo:

- Đề tài: văn bản xoay quanh vấn đề giáo dục cách sống, cách ứng xử giữa người với người theo dân gian.

- Tích truyện (cốt truyện): được trích từ vở chèo Quan Âm Thị Kính.

- Nhân vật: có đào thương và đào lệch (đào lẳng).

- Cấu trúc: cấu trúc của văn bản bao gồm nhiều màn và cảnh, mỗi cảnh đóng một vài trò khác nhau.

- Lời thoại: có bao gồm cả lời thoại của nhân vật và tiếng đế cùng 3 hình thức: đối thoại, độc thoại, bàng thoại. Đồng thời, lời thoại của các nhân vật trong văn bản bao gồm cả lời nói và lời hát.

Sau khi đọc Câu 7

Video hướng dẫn giải

Trong hai nhân vật Thị Kính và Thị Mầu, nhân vật nào để lại ấn tượng sâu sắc hơn đối với bạn? Vì sao?

Phương pháp giải:

     Đưa ra quan điểm cá nhân.

Lời giải chi tiết:

     Theo quan điểm cá nhân, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc với em là Thị Mầu. Nhân vật này đã mang đến một làn gió mới cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam bởi tính cách mạnh mẽ, tự tin thể hiện cái tôi của mình, dám nói lên tình cảm của mình mặc cho những lễ nghĩa giáo nghi ngăn cấm.

Bài đọc >> Xem chi tiết: Văn bản Thị Mầu lên chùa
+

Thị Mầu lên chùa

(chèo cổ)

THỊ MẦU: (ra nói) Này chị em ơi!

Nay mười tư mai đã là rằm

Ai muốn ăn oản thì năng lên chùa.

Chị em lên chùa từ bao giờ nhỉ?

TIẾNG ĐẾ:

Mười tư, rằm!

THỊ MẦU:

Thế mà Thị Mầu tôi mang tiếng lẳng lơ

Đò đưa cấm giá' tôi lên chùa từ mười ba.

Mười ba,

Tôi lên chùa thấy tiểu mười ba

Thấy sư mười bốn, vãi già mười lăm

Tôi muốn cho một tháng đôi rằm

Trước vào lễ Phật, sau thăm vãi già

Tôi bước vào lễ Phật Thích Ca

Lễ đức Tam Thế, vua cha Ngọc Hoàng

(xưng danh)

Tôi Thị Mầu con gái phú ông

Thầy mẹ lôi lớn kính một lòng

Tiền cùng gạo lên chùa tiến cúng.

Bạch nhà sư trong ấy, cho chú tiểu ra nhận lễ, cho tôi còn về nào.

KÍNH TÂM:

A di đà Phật! Chào cô lên chùa!

THỊ MẦU:

A di đà Phật!

KÍNH TÂM:

A di đà Phật!

Tam Bảo Như Lai

Của ai phúc nấy

A di đà Phật! Cô cho biết tên để tôi vào lòng sớ!

THỊ MẦU:

Tên em ấy à?

Là Thị Mầu, con gái phú ông

Tuổi vừa đôi tám, chưa chồng đấy thầy tiểu ơi!

Chưa chồng đấy nhá

KÍNH TÂM:

A di đà Phật!

Khấn nguyện thập phương

Kính trình Tam Bảo

Lòng người có đạo

Đem của cúng dàng

Một nén cũng biên

Một đồng cũng kể

Tuy vân bạc lễ

Đãn kiến thành tâm

Phật tổ giám lâm

nam vi sáng tạo

Quỷ thần soi xét!

A di đà Phật! Tôi đã đèn nhang xong, mời cô vào lễ Phật.

THỊ MẦU:

Người đâu mà đẹp như sao băng thế nhỉ?

TIẾNG ĐẾ:

Ai lại đi khen chú tiểu thế cô Mầu ơi!

THỊ MẦU:

Đẹp thì người ta khen chứ sao!

Này chị em ơi,

Người đâu đến ở chùa này

Cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang

Ấy mấy thầy tiểu ơi!

KÍNH TÂM:

Nam mô A di đà Phật

THỊ MẦU:

Ấy mấy thầy tiểu ơi!

TIẾNG ĐẾ:

Mẫu ơi mất bò rồi

THỊ MẦU:

Nhà tao còn ối trâu!

Này thầy tiểu ơi

Thầy như táo rụng sân đình

Em như gái rở, đi rình của chua.

Ấy mấy thầy tiểu ơi!

KÍNH TÂM:

Nam mô A di đà Phật.

TIẾNG ĐẾ:

Mầu ơi nhà mày có mấy chị em? Có ai như mày không?

THỊ MẦU:

Nhà tao có chín chị em, chỉ có mình tao là chín chắn nhất đấy!

TIẾNG ĐẾ:

Dơ lắm! Mầu ơi!

THỊ MẦU:

Kệ tao! Này thầy tiểu ơi, ăn với em miếng trầu đã nào,

rồi để mõ đấy em đánh cho!

KÍNH TÂM:

Nam mô A di đà Phật!

THỊ MẦU:

(hát ghẹo tiểu)

Ấy mấy thầy tiểu ơi

Song đứng trước của chùa

Tôi vào tôi gọi, thầy tiểu chẳng thưa, tôi buồn

Ấy mấy thầy tiểu ơi

Một cành tre, năm bảy cành tre

Phải duyên thời lấy, chớ nghe họ hàng

Ấy mấy thầy tiểu ơi!

Mẫu đơn giồng cảnh nhà thờ

Đôi ta chỉ quyết đợi chờ lấy nhau

Ấy mấy thầy tiểu ơi

Muốn cho có thiếp có chàng

Ba sáu mười tám, cơm hàng có canh

Ấy mấy thầy tiểu ơi!

Trúc xinh trúc mọc sân đình

Em xinh em đứng một mình chẳng xinh!

(nói)

Bỏ mõ em đánh cho nào! Người đâu thấy gái mà lại chạy thế!

(Kính Tâm bỏ chạy)

Chẳng trăm năm cũng một ngày

Gương kia còn đó, tấm áo này còn hơi

Chị em ơi, tôi lấy hơi thầy tiểu xem, chị em nhé!

À, kinh mõ của chú tiểu còn bỏ đó, thế nào cũng phải ra đây.

Tôi tìm chỗ nấp, thế nào tôi cũng nắm tận tay chú tiểu thì tôi mới nghe!

(nấp)

KÍNH TÂM: (ra, nói)

Ngẫm oan trái nhiều phen muốn khóc

Thấy nhân duyên nghĩ lại nực cười

Hẳn vô tình thế mới trêu ngươi

Vì hữu ý nên rằng hoảng mắt

Chú có biết đâu mình cũng chỉ là...

THỊ MẦU: (xông ra, nắm tay Kinh Tâm) Đây rồi nhé!

KÍNH TÂM:

Mô Phật!

THỊ MẦU:

Bỏ mô Phật đi!

KÍNH TÂM:

Cô buông ra để tôi quét chùa kẻo sư phụ người quở chết!

THỊ MẦU:

Đưa chổi đây em quét rồi em nói chuyện này cho mà nghe!

Này chú tiểu ơi!

Mong cho chú tiểu quét sân

Xịch lại cho gần, cầm chổi quét thay

Lá tình không gió mà bay!

Nào, ăn với em miếng giầu đã nào! (Kính Tâm bỏ chạy)

Phải gió ở đâu! Chạy từ bao giờ rồi!

Ới này thầy tiểu ơi!

Muốn rằng cây cải cho xanh

Thài lài, rau dêu tám thành bờ tre

Lắng tai tôi nói cho mà nghe

Tri âm chẳng tỏ tri âm

Để tôi thương vụng nhớ thẩm sầu riêng!

TIẾNG ĐẾ:

Sao lẳng lơ thế, cô Mầu ơi!

THỊ MẦU:

Lẳng lơ đây cũng chẳng mòn

Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ

(Hạ)

(Theo Hà Văn Cầu (Chủ biên), Hà Văn Cầu – Hà Văn Trụ (biên soạn), Kịch bản chèo, quyển 1, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam – NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014, tr. 272 – 276 và 317 – 320)

- Thu gọn

Bình chọn:
4 trên 9 phiếu

>> Xem thêm

Luyện Bài Tập Trắc nghiệm Ngữ Văn 10 - Chân trời sáng tạo - Xem ngay

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...