200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ tự do

Viết đoạn văn phân tích 5 khổ thơ cuối bài thơ Ta về với mẹ ta thôi (Nguyễn Sỹ Đại)

Năm khổ thơ cuối bài thơ của Đồng Đức Bốn là cuộc thức tỉnh tâm hồn đầy sâu sắc của người con sau những dâu bể cuộc đời. Điệp khúc "Ta về với mẹ ta thôi" vang lên như một mệnh lệnh từ trái tim, một sự dứt khoát từ bỏ thế giới xô bồ. Trải qua "chín phương" nếm đủ đắng cay, chứng kiến lòng người tráo trở "người gần... dần dần xa xôi", nhân vật trữ tình nhận ra danh lợi chỉ là ảo ảnh. Việc lựa chọn trở lại làm người "nhà nông" thuần hậu, chấp nhận "ngu ngơ" trước sang giàu chính là sự đại trí giả ngu để giữ lấy thiên lương thuần khiết. Đỉnh cao của triết lý nhân sinh nằm ở câu thơ: "Không làm chi nữa, cũng là làm con". Khi rũ bỏ mọi danh vọng, tư cách thiêng liêng nhất, bình yên nhất của đời người chính là được làm đứa con bé bỏng trong lòng mẹ.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích đoạn thơ: "...hạnh phúc bình thường và giản dị lắm ...hạnh phúc là khi mình có 1 cái tên. " (Trích Hạnh phúc - Thanh Huyền)

Đoạn thơ của Thanh Huyền là một định nghĩa chạm tới trái tim về giá trị của hạnh phúc đích thực. Không xa hoa, lộng lẫy, hạnh phúc hiện hình qua những lát cắt bình dị của đời sống gia đình. Đó là thanh âm mong ngóng của “tiếng xe về mỗi chiều của bố”, là không khí ấm cúng khi “cả nhà quây quần”, hay nét chăm sóc đáng yêu của người chị qua bát cơm đầy. Đặc biệt, câu thơ “đêm về không có tiếng mẹ ho” lắng đọng một tình yêu thương sâu sắc, khi hạnh phúc chỉ đơn giản là sự bình an, khỏe mạnh của đấng sinh thành. Bằng thể thơ tự do, nhịp điệu thủ thỉ và biện pháp liệt kê kết hợp điệp từ “là”, tác giả đã vẽ nên một bức tranh gia đình tràn ngập hơi ấm. Đoạn thơ nhắc nhở ta rằng: hạnh phúc không ở đâu xa, nó kết tinh từ những điều giản dị và thiêng liêng ngay dưới mái nhà của mỗi người.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích nghệ thuật sáng tạo hình ảnh trong bài thơ Dòng mương xanh của nhà thơ Thuận Hữu

Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh trong Dòng mương xanh của Thuận Hữu đạt đến độ chín nhờ sự đối lập tài tình giữa hai thế hệ. Quá khứ hiện lên đầy xót xa qua hình ảnh "lưng mẹ còng" và "vết nẻ chân chim", biểu tượng cho sự bất lực của con người trước thiên tai "đất khát", "úng lụt". Nhưng đến hiện tại, tư thế ấy hoàn toàn đảo ngược với hình ảnh tương phản mạnh mẽ: "Con đứng thẳng bóng đè lên vạt ruộng". Không còn là cái bóng cam chịu đổ dài, thế hệ sau xuất hiện với dáng vóc kiêu hãnh của người làm chủ. Sự chuyển dịch từ hình ảnh "mẹ còng" đến "con thẳng" không chỉ là sự thay đổi dáng hình, mà là biểu tượng cho sự vươn mình, đổi đời của cả một vùng đất nhờ sức mạnh lao động.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh cây-thổ-lộ trong bài thơ Ở Suối Giang có cây-thổ-lộ (Trần Đình Việt)

Hình ảnh "cây-thổ-lộ" trong bài thơ của Trần Đình Việt là một biểu tượng nghệ thuật độc đáo, kết tinh nhu cầu tự chữa lành và khát vọng thấu cảm của con người. Giữa núi rừng Suối Giàng, cái cây không còn là thực thể tự nhiên vô tri, mà đã trở thành một "tri kỷ tĩnh lặng", nơi lưu giữ những bí mật sâu kín nhất mà người Mông không thể sẻ chia cùng ai. Nó biểu tượng cho sự lắng nghe tuyệt đối, bao dung và không phán xét. Khi con người áp má vào vỏ cây thầm thì, mọi gánh nặng lo âu dường như được san sẻ, nỗi đau dịu lại và niềm vui nhân đôi. Tuy nhiên, tầng sâu triết lý của biểu tượng này chỉ thực sự phát lộ ở khổ cuối, khi nhà thơ đối lập giữa "thế-giới-cây" và "thế-giới-người". Việc tìm một cái cây để trút bầu tâm sự giữa đại ngàn thì dễ, nhưng tìm được một "người-thổ-lộ" đồng điệu trong nhân gian lại muôn vàn khó khăn. Biểu tượng "cây-thổ-lộ" vì thế vừa là điểm tựa tinh thần ấm áp, vừa là lời thức tỉnh xót xa về sự cô đơn và khoảng cách giữa người với người trong cuộc sống hiện đại.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa của hình thức đối thoại (hỏi - đáp) trong bài thơ Ngẫu vấn (Hoàng Đăng Khoa)

Hình thức đối thoại (hỏi – đáp) trong Ngẫu vấn của Hoàng Đăng Khoa không đơn thuần là sự tương tác bề nổi, mà thực chất là một cuộc độc thoại nội tâm đầy sâu sắc được khách quan hóa. Tác giả đã mượn tiếng nói của vạn vật vô tri như cái chăn, đám mây, cúc họa mi... để đối diện với chính những băn khoăn, nghi ngại bên trong con người. Chuỗi câu hỏi dồn dập mở ra các chiều kích từ hữu hình đến vô hình, nhưng câu trả lời của vạn vật lại luôn hướng ngược về "người". Vạn vật không giải thích chính nó, mà phản chiếu thế giới quan của nhân sinh: đám mây biến dạng do góc nhìn của người, cái chăn ấm nhờ hơi người. Biện pháp nghệ thuật này biến bài thơ thành một tấm gương soi triết lý. Nó giúp con người nhận ra rằng, mọi câu trả lời về cuộc đời, về tự do hay giới hạn suy cho cùng không nằm ở thế giới khách quan, mà ẩn giấu ngay trong tâm thức và sự tự thức tỉnh của chính mình.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích những đặc sắc nghệ thuật trong đoạn trích của bài thơ Trước nghĩa trang Trường Sơn (Hoàng Trần Cương)

Đoạn trích Trước nghĩa trang Trường Sơn của Hoàng Trần Cương ghi dấu ấn nghệ thuật mạnh mẽ nhờ ngôn từ gân guốc và hình ảnh thơ đầy táo bạo. Giữa không gian "không gió", "không mưa", nhà thơ đã sáng tạo nên một hình ảnh so sánh cực kỳ độc đáo: "Cỏ... xanh tróc da như nọc nanh trổ vuốt". Cách ví von sắc lạnh, góc cạnh này không chỉ gợi tả sự khắc nghiệt của vùng đất lửa mà còn làm nổi bật tư thế "đứng canh" kiên cường, bất khuất của những người lính đã nằm xuống. Bên cạnh đó, chất lính kiêu hùng còn thấm đượm trong giọng điệu thơ vừa tự vấn, vừa xót xa qua câu hỏi tu từ: "Đồng đội ơi, tôi tội tình chi rứa / Mà các anh quay mặt, tắt lòng". Các từ ngữ địa phương như "chi rứa", "lật đật" được đan cài tự nhiên, tạo nên một sắc thái tình cảm chân thành, mộc mạc nhưng có sức công phá trực diện vào cảm xúc người đọc. Chính sự gai góc trong bút pháp đã giúp tác giả tạc nên một tượng đài bất tử về người lính Trường Sơn.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích mach cảm xúc của bài thơ Bài hát đắp đường (Xuân Quỳnh)

Mạch cảm xúc của “Bài hát đắp đường” là sự vận động tự nhiên, đi từ không khí lao động hăng say ở hiện tại, ngược dòng về quá khứ gian khổ để rồi vỡ òa trong niềm vui tương lai. Mở đầu bài thơ, Xuân Quỳnh khơi nguồn cảm xúc bằng tiếng hát khỏe khoắn, khẩn trương của những người đắp đường. Nhưng ngay sau đó, mạch thơ lắng lại, nhường chỗ cho niềm thương xót nghẹn ngào khi ký ức tràn về. Đó là nỗi ám ảnh về "nước đồng chiêm" gặm mòn da thịt mẹ, là sự chia cắt đau đớn của tình thân giữa muôn trùng nước trắng. Để rồi, từ những đau thương ấy, mạch cảm xúc bừng sáng, reo vui khi con đường hoàn thành. Hình ảnh người mẹ xỏ dép vào chân và những bước chân "màu xuân" hướng về hợp tác xã đã khép lại bài thơ trong niềm lạc quan, hy vọng. Sự chuyển dịch nhịp nhàng này khiến bài thơ trở thành khúc ca lay động về sự đổi đời của một vùng quê.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh những tấm áo trong văn bản Áo (Lưu Quang Vũ)

Trong bài thơ "Áo" của Lưu Quang Vũ, hình ảnh những tấm áo là biểu tượng sâu sắc cho tình mẫu tử thiêng liêng và sự hy sinh thầm lặng của người mẹ. Thuở nhỏ, tấm áo là thế giới "dịu dàng", ôm ấp con qua những trưa hè xanh thẳm. Khi con lớn khôn, tấm áo lại gói ghém cả sự chắt chiu, lo toan của mẹ: từ việc dành dụm mua áo mới ngày Tết đến "từng mụn vá vai" khi nhà đông anh em. Tấm áo càng bạc màu, càng sờn chỉ theo năm tháng thì nếp nhăn trên mắt mẹ càng hằn sâu bởi nỗi nhọc nhằn sớm hôm. Qua hình tượng chiếc áo, nhà thơ không chỉ ngợi ca lòng mẹ bao la như biển hồ, luôn sưởi ấm đời con bằng những đường kim mũi chỉ, mà còn chạm đến góc khuất xúc động nhất của sự hy sinh khuất lấp phía sau niềm vui con trẻ.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện trong văn bản Những con đường (Lưu Quang Vũ)

Qua bài thơ Những con đường, Lưu Quang Vũ đã phác họa thành công mạch cảm xúc vận động đầy tinh tế của nhân vật trữ tình. Đoạn trích mở đầu bằng tiếng lòng da diết, nâng niu khi lùi sâu vào miền hoài niệm tuổi thơ. Đó là sự giao thoa giữa cái ngọt ngào của hương cau, ánh đom đóm với cái xót xa trước "xóm nghèo mái rạ", trước cái bóng còm cõi, "quét hoài không hết lá khô" của người bà. Thế nhưng, nhân vật trữ tình không chìm đắm trong u buồn. Sự thức tỉnh về những con đường xưa "bó luôn tầm mắt" đã chuyển hóa thành niềm hân hoan phơi phới trước cuộc sống mới. Nhìn cảnh xóm làng đồng lòng hiến đất mở đường, tâm hồn nhà thơ như mở ra "rộng biển lúa vàng". Đó là sự chuyển dịch kỳ diệu từ cái tôi cô đơn, chật hẹp sang cái ta chung rộng lớn, ngập tràn niềm tin và khát vọng dựng xây ngày mai thênh thang của đất nước.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn trình bày cảm nhận về sự vận động cảm xúc của tác giả trong bài thơ Từ đôi gánh mẹ (Nguyễn Doãn Việt)

Mạch cảm xúc trong “Từ đôi gánh mẹ” của Nguyễn Doãn Việt là hành trình vận động tự nhiên từ hồi tưởng xót xa đến thấu hiểu lẽ đời sâu sắc. Thuở ban đầu, cảm xúc của người con gắn liền với niềm hoài niệm, đau đớn khi chứng kiến dáng mẹ “liêu xiêu” dưới sức nặng của “bốn mùa cay cực” và sự chia cắt của chiến tranh. Thế nhưng, theo dòng chảy thời gian, nỗi thương cảm ấy không dừng lại ở sự xót thương thụ động mà dần nâng cấp thành sự thức tỉnh mạnh mẽ trong nhận thức. Từ đôi gánh vật chất “sắn khoai”, con nhận ra mẹ đang gánh cả “thời gian dầu dãi”, gánh cả triết lý “gừng cay muối mặn”. Chính từ đôi vai vẹt mòn của mẹ, con trưởng thành, thấu suốt “nhân thế lẽ đời” và biết phân định “nặng nhẹ” ở đời. Để rồi cuối cùng, cảm xúc kết tinh thành niềm tự hào thiêng liêng khi bóng hình mẹ hóa thành “dáng cội nguồn”, khiến lòng con “rưng rưng” bái phục.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích nội dung chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trong hai khổ thơ cuối của văn bản Cho mùa thi (nhà thơ Bình Nguyên Trang)

Hai khổ thơ cuối bài Cho mùa thi của Bình Nguyên Trang đã gợi lên những cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến của tuổi học trò trước mùa thi và giờ phút chia tay mái trường. Hình ảnh “ngọn đèn khuya đổ mồ hôi xuống vở” diễn tả thật xúc động những đêm dài miệt mài học tập của học sinh. Không khí mùa thi hiện lên vừa căng thẳng vừa chan chứa ước mơ, khát vọng. Đặc biệt, khổ thơ cuối mang đậm nỗi buồn chia xa khi “bình minh” cất lên “bài ca chia li”. Những hình ảnh “ve”, “phượng”, “tháng Năm” gợi nhắc tuổi học trò hồn nhiên, trong trẻo và đầy kỉ niệm. Câu thơ “Ngày hôm qua gối đầu lên ngày mai” đã thể hiện thật đẹp sự tiếp nối giữa quá khứ và tương lai. Với giọng thơ nhẹ nhàng, giàu chất trữ tình cùng nhiều hình ảnh nhân hoá đặc sắc, tác giả đã viết nên khúc ca xúc động về tuổi trẻ và mùa chia tay học trò.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích vẻ đẹp của hình tượng người bố trong bài thơ "Nhớ bố" của tác giả Vũ Thị Huyền Trang

Hình tượng người bố trong bài thơ "Nhớ bố" của Vũ Thị Huyền Trang là biểu tượng xúc động cho sự hy sinh thầm lặng của người lao động. Giữa "thành phố ồn ào" và cái lạnh thấu xương, bố hiện lên với dáng vẻ lam lũ: "tay chai sần", "lưng áo bạc bởi phận đời vôi vữa". Công việc phụ hồ nặng nhọc in hằn lên thể xác, vậy mà bố vẫn kiên cường "không một tiếng kêu than ngay cả khi đau yếu". Sự hy sinh ấy càng xót xa hơn qua hình ảnh "cơm người khó nuốt", "bố nghẹn mỗi bữa ăn". Từng hạt cơm xứ người đổi lấy sự khôn lớn của các con đều thấm đẫm mồ hôi và nước mắt cam chịu của cha. Bố chấp nhận gánh lấy mọi giông bão, "nắng dãi trên đầu, mưa nhàu lưng áo" để giữ gìn sự bình yên, no ấm cho gia đình. Hình tượng người bố không chỉ khơi gợi niềm thương cảm sâu sắc mà còn là lời nhắc nhở thấm thía về lòng biết ơn trước tình phụ tử cao cả.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về văn bản Cuối rễ đầu cành của Bế Kiến Quốc

Bài thơ Cuối rễ đầu cành của Bế Kiến Quốc là lời nhắc nhở sâu sắc về lòng biết ơn trong cuộc sống. Qua hình tượng đối lập giữa "rễ" và "cành", tác giả tái hiện hành trình gian truân để tạo nên sự sống. Nếu chiếc cành non kiêu hãnh vươn lên đón "mưa đông nắng hạ" để nảy lộc, thì âm thầm dưới lòng đất, chiếc rễ non phải chịu "tướp máu" giữa sỏi đá khô cằn. Cuộc đời vốn dĩ không tự nhiên xanh tươi; phía sau câu hát rộn ràng của mùa xuân luôn là những "cơn đau" thầm lặng không lời. Hình ảnh "chỉ có đất yêu cây thì đất biết" chạm đến góc khuất của sự hy sinh — đó là tình yêu thương vô điều kiện của cha mẹ, của những thế hệ đi trước. Đoạn thơ lay động tâm hồn người đọc, hướng ta đến lối sống ân nghĩa, biết trân trọng những vất vả khuất lấp sau những thành quả ngọt ngào của cuộc đời.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích mạch vận động cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình trong văn bản Làng tôi (Thuận Hữu)

Mạch vận động cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình trong bài thơ Làng tôi là một hành trình đi từ trực giác không gian đến chiều sâu của tâm thức. Mở đầu, nhân vật bộc lộ niềm tự hào, kiêu hãnh khi định vị cội nguồn độc đáo của mình: vừa là con của núi đồi vách đá, vừa là con của biển khơi bao la. Tiếp đó, dòng cảm xúc xuôi dòng về quá khứ, hóa thành những thước phim hoài niệm tuổi thơ vừa kỳ vĩ, vừa ấm áp tình thân. Núi dạy con vượt dốc, biển ru con kéo mặt trời; ở đó, bóng dáng bố mẹ hòa vào cánh buồm, sườn đồi đầy thân thương. Để rồi khi lớn lên, đi xa quê hương, nỗi nhớ "quá thể" đã đẩy mạch cảm xúc lên thành những suy tư mang tầm vóc triết lý. Nhân vật thức nhận rằng quê hương không chỉ là nơi sinh ra, mà đã hóa thành máu thịt. Câu thơ cuối là nốt kết tinh cao đẹp, khi tình yêu cái "làng tôi" nhỏ bé đã nâng mọc thành "tình nước và non" rộng lớn, thiêng liêng.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích một số nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Rễ (Nguyễn Minh Khiêm)

Bài thơ Rễ của Nguyễn Minh Khiêm chạm đến trái tim người đọc nhờ nghệ thuật nhân hóa và xây dựng hình tượng độc đáo. Hình ảnh “rễ” không còn là vật vô tri mà hiện lên như một con người lao động qua các từ ngữ “lầm lũi”, “lam lũ”, “cực nhọc”. Tác giả đã kiến tạo một hệ thống đối lập nghệ thuật sắc nét: giữa cái “đen đúa”, khuất lấp dưới lòng đất đá và “tầm cao”, “mây biếc”, “hoa quả” rực rỡ phía trên. Chính sự tương phản này đã nâng tầm chiếc rễ cây thành một biểu tượng vĩ đại cho những hy sinh thầm lặng trong cuộc đời. Thể thơ tự do kết thúc bằng một lời khẳng định đầy sức nặng: “Bài ca đích thực / Là từ rễ cất lên”. Biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác từ “rễ” sang “bài ca” đã tôn vinh một cách trang nghiêm giá trị của cội nguồn. Nhờ những nét nghệ thuật đặc sắc đó, bài thơ không chỉ là câu chuyện của thiên nhiên mà còn là triết lý nhân sinh sâu sắc về lòng biết ơn.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích hình ảnh dòng sông qua cảm nhận của nhân vật trữ tình ta trong đoạn trích Những dòng sông (Bế Kiến Quốc)

Trong đoạn trích "Những dòng sông", Bế Kiến Quốc đã khắc họa hình ảnh dòng sông như một biểu tượng thiêng liêng của cội nguồn và tâm hồn Việt. Qua cảm nhận của nhân vật "ta", sông không chỉ là cảnh sắc địa lý từ sông Hồng, sông Trà đến sông Cửu Long, mà là "chiếc nôi" sản sinh ra những anh hùng. Thuở nhỏ, sông bao la, ôm ấp tuổi thơ qua những cánh buồm giấy và cánh cò lả. Khi lớn lên, sông trở thành dòng chảy lịch sử, mang theo hồn thiêng sông núi từ thuở Trần Quốc Toản đến những năm tháng "đánh Pháp" oanh liệt. Sông hiến dâng phù sa bồi đắp ruộng đồng, xóa nhòa đói khổ để làm "tấm gương trong" soi bóng cuộc đời mới. Bằng giọng thơ tha thiết và biện pháp điệp từ, tác giả khẳng định: sông chính là dòng sữa mẹ nuôi dưỡng cả thể xác, tâm hồn và ý chí kiên cường của con người Việt Nam qua bao thế hệ.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích tám câu thơ cuối văn bản “Mùa hạ” của Xuân Quỳnh. Trong đoạn văn có sử dụng phù hợp trợ từ (Gạch dưới 1 trợ từ)

Tám câu thơ cuối bài "Mùa hạ" của Xuân Quỳnh là tiếng lòng đầy trăn trở nhưng cũng rất đỗi thiết tha về thời gian và tuổi trẻ. Bốn câu đầu mở ra không gian mùa hạ đặc trưng với cánh diều cao vút, tiếng dế đêm oi bức và tiếng cuốc thúc giục nắng trưa. Cảnh sắc ấy không chỉ là thiên nhiên mà chính là hiện thân của một sức sống mãnh liệt, cuộn trào. Đối diện với cái hối hả của mùa hạ, nữ sĩ chợt giật mình hỏi: "Mùa hạ đã đi chưa?". Tiếng than "Ôi tuổi trẻ..." làm hiện hình nỗi lo âu trước dòng chảy vô tình của thời gian khi khát khao đời người còn quá bỏng cháy. Thế nhưng, ngay cả khi đối mặt với sự hữu hạn đó, Xuân Quỳnh vẫn giữ một niềm tin bất diệt. Hai câu cuối khẳng định quy luật của tự nhiên: mặt đất mãi xanh, quả ngọt luôn bắt đầu từ sắc hoa thắm thiết. Đoạn thơ khép lại bằng một triết lý nhân sinh cao đẹp: dẫu tuổi trẻ qua đi, những giá trị cốt lõi của tình yêu và sự sống vẫn sẽ trường tồn mãi mãi.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích bức tranh cuộc sống trong đoạn thơ sau: Cha vực dậy cánh rừng sau năm tháng ngủ quên…Khuya ngẫu hứng trà thơm bên bếp lứa hồng.(Màu xanh trở về - Phùng Thị Hương Ly)"

Đoạn thơ của Phùng Thị Hương Ly là một khúc ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về sự hồi sinh của sự sống. Bức tranh cuộc sống ở đây được mở ra từ hành động “vực dậy” đầy mạnh mẽ của người cha, đánh thức cả một “cánh rừng” sau những “năm tháng ngủ quên” đầy gian khó. Để rồi từ sự thức tỉnh ấy, thiên nhiên cựa mình, phô diễn một sức sống tràn trề: nương chè khoác lên màu áo “mởn xanh”, ao cá lung linh “nghiêng soi nắng vàng”. Đó không chỉ là sự thay đổi của cảnh vật, mà là sự trở lại của hy vọng và niềm vui sau giông bão. Sự hồi sinh ấy được kết tinh trọn vẹn trong không gian ấm áp ban đêm, nơi làn “trà thơm” hòa quyện cùng “bếp lửa hồng”. Bằng những từ ngữ giàu giá trị biểu cảm và hình ảnh nhân hóa tinh tế, tác giả đã khắc họa một bức tranh cuộc sống thanh bình, tươi đẹp. Đoạn thơ nhen nhóm trong lòng người đọc niềm tin bất diệt vào sức sống mãnh liệt của con người và thiên nhiên trước mọi thử thách của cuộc đời.

Xem thêm >>

Viết đoạn văn phân tích đoạn thơ được in đậm trong bài thơ Nước vối quê hương (Nguyễn Trọng Định)

Đoạn thơ thứ hai trong Nước vối quê hương của Nguyễn Trọng Định là một nốt nhạc trầm sâu lắng, khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người lính thời chống Mỹ. Giữa không gian khắc nghiệt của chiến trường – nơi “rừng đêm mưa xối”, người chiến sĩ không hề cô độc hay nản lòng. Chính “vị nước vối quê hương” đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật đặc sắc, len lỏi vào tâm tư để làm “ngọt ngào” cả những gian khổ. Thức uống bình dị của làng quê nay đã hóa thành dòng sữa tinh thần, là hiện thân của tình mẹ, tình quê hương da diết. Sự đối lập gay gắt giữa cái lạnh giá, dữ dội của thiên nhiên và sự ấm áp, ngọt ngào trong lòng người lính đã làm nổi bật thế giới nội tâm giàu tình cảm. Chính ký ức quê hương yên bình ấy là điểm tựa vững chãi, tiếp thêm sức mạnh vô biên để người lính vượt qua mọi bão giông, giữ trái tim luôn rực cháy lý tưởng.

Xem thêm >>

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...