200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ thất ngôn bát cú
Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến đã ca ngợi tình bạn chân thành, thắm thiết. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Nguyễn Khuyến.
“Đã bấy lâu nay, bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa"
Mở đầu bài thơ, tác giả đã nêu ra hoàn cảnh khi người bạn đến chơi nhà. Cụm từ “đã bấy lâu nay” chỉ thời gian rất lâu rồi thì bạn mới đến thăm nhà. Điều đó khiến cho nhân vật trữ tình trong bài thơ cảm thấy rất vui mừng, hạnh phúc. Cách xưng hô “bác” thể hiện mối quan hệ gần gũi, thân mật. Dẫu vậy thì hoàn cảnh của nhà thơ lúc này cũng thật là éo le. Trẻ em thì đi vắng rồi, không có người để sai đi mua đồ tiếp đãi bạn được vì chợ ở quá xa.
Những tưởng rằng như vậy là chưa đủ, nhà thơ còn liệt kê một loạt các sự vật như “ao sâu - khôn chài cá”, “cải chửa ra cây, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa”. Thậm chí miếng trầu - ngay cả thứ quan trọng nhất bởi có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện” thì ở đây cũng không có. Sự thiếu thốn đã được đẩy lên đến tận cùng. Nhưng sự thiếu thốn đó không khiến tình bạn vơi bớt.
Dù vậy, tình cảm bạn bè của nhà thơ vẫn chân thành, sâu sắc. Câu thơ cuối như một lời khẳng định cho tình bạn tri kỉ của Nguyễn Khuyến: “Bác đến chơi đây ta với ta”. Đại từ “ta” thứ nhất chính là nhà thơ, còn đại từ “ta” thứ hai chỉ người bạn. Từ “với” cho thấy mối quan hệ song hành, gắn bó. “Ta với ta” đồng nghĩa với tôi với bác, chúng ta với nhau. Cuộc sống tuy nghèo khó, thiếu thốn nhưng có bạn lại thấy vui vẻ, hạnh phúc.
Tình bạn tri kỉ trong Bạn đến chơi nhà thật đáng ngưỡng mộ, cảm phục biết bao nhiêu. Bài thơ gửi gắm thông điệp ý nghĩa, giàu giá trịvề nội dung và nghệ thuật.
Xem thêm >>
Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người phụ nữ luôn hiện lên như một nốt trầm da diết. Họ là những con người giàu phẩm chất, giàu yêu thương, giàu khát vọng sống, song số phận lại bị trói buộc bởi những lễ giáo khắt khe và những định kiến hà khắc của xã hội phong kiến. Nếu Hồ Xuân Hương cất lên tiếng nói từ chính thân phận người phụ nữ với niềm đau, sự phản kháng và khát vọng khẳng định giá trị bản thân qua “Bánh trôi nước” và “Tự tình II”, thì Trần Tế Xương lại dành cho người vợ của mình ánh nhìn đầy yêu thương, trân trọng trong “Thương vợ”. Ba bài thơ gặp nhau ở điểm chung: khắc họa chân thực vẻ đẹp cùng bi kịch của người phụ nữ Việt Nam thời xưa, đồng thời gửi gắm tinh thần nhân đạo sâu sắc.
Điều trước hết có thể cảm nhận là người phụ nữ Việt Nam mang trong mình những phẩm chất vô cùng cao đẹp. Ở “Bánh trôi nước”, Hồ Xuân Hương mượn hình ảnh chiếc bánh dân dã để xây dựng biểu tượng về người phụ nữ:
“Thân em thời trắng phận em tròn,
Bảy nổi ba chìm mấy nước non.”
Màu trắng của bánh gợi vẻ đẹp trong sáng, tinh khiết; hình tròn gợi sự đầy đặn, viên mãn. Đó cũng là vẻ đẹp ngoại hình và phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam. Dẫu cuộc đời nổi trôi, nhà thơ vẫn khẳng định:
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Em vẫn giữ tấm lòng son.”
"Tấm lòng son" là điểm sáng rực rỡ nhất của bài thơ. Son là màu đỏ của thủy chung, của nhân hậu, của phẩm giá không gì có thể làm phai nhạt. Dù cuộc đời có vùi dập, dù hoàn cảnh có nghiệt ngã, người phụ nữ vẫn giữ nguyên cốt cách trong sạch, thủy chung và giàu lòng tự trọng. Chỉ với bốn câu thơ, Hồ Xuân Hương đã dựng lên một tượng đài nhỏ bé mà bền vững về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam.
Vẻ đẹp ấy tiếp tục được soi chiếu dưới một góc nhìn khác trong Thương vợ. Người phụ nữ không chỉ đẹp ở phẩm hạnh mà còn hiện lên với đức hi sinh và lòng vị tha vô bờ:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Hai chữ "quanh năm" gợi nhịp sống triền miên, không một ngày ngơi nghỉ. Địa điểm "mom sông" vốn là nơi chênh vênh, nguy hiểm, như chính cuộc đời đầy nhọc nhằn của bà Tú. Một mình gánh vác cả gia đình với "năm con" và cả "một chồng", người phụ nữ trở thành trụ cột âm thầm của mái ấm. Nghệ thuật đảo số lượng "một chồng" đặt ngang hàng với "năm con" vừa hóm hỉnh, vừa chất chứa sự day dứt của nhà thơ trước những hi sinh mà vợ phải gánh chịu.
Những câu thơ tiếp theo khắc họa rõ hơn dáng hình tần tảo ấy:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Hình ảnh "thân cò" gợi nhắc biết bao câu ca dao quen thuộc về số phận người phụ nữ. Con cò lặn lội kiếm ăn giữa đồng sâu cũng giống như bà Tú tất bật giữa cuộc mưu sinh. Những từ láy "lặn lội", "eo sèo" vừa tái hiện nỗi nhọc nhằn của lao động, vừa gợi lên biết bao va chạm, bon chen của cuộc đời. Vượt lên tất cả là đức hi sinh lặng lẽ, không lời than trách:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Cách nói thành ngữ dân gian khiến câu thơ mang vẻ mộc mạc mà thấm thía. Người phụ nữ chấp nhận gian lao như một lẽ tự nhiên, lấy tình yêu thương làm động lực vượt qua mọi thử thách.
Ẩn sau vẻ đẹp đáng quý ấy là một số phận đầy cay đắng. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến không được quyền quyết định cuộc đời mình. Hồ Xuân Hương đã nói thay nỗi đau ấy bằng những hình ảnh giàu sức gợi:
“Bảy nổi ba chìm mấy nước non,
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn.”
Cuộc đời họ lênh đênh, chìm nổi như chiếc bánh trong nồi nước sôi. Giá trị của họ lại bị quyết định bởi "tay kẻ nặn" – hình ảnh ẩn dụ cho quyền lực của lễ giáo, của người đàn ông, của số phận đầy bất công. Hạnh phúc cá nhân không nằm trong chính đôi tay mình.
Đến “Tự tình II”, bi kịch ấy được đẩy lên thành nỗi cô đơn và khát vọng hạnh phúc bị dồn nén. Tiếng gà, tiếng mõ, tiếng chuông vốn quen thuộc của đời sống lại trở thành âm thanh khơi gợi nỗi buồn:
“Tiếng gà xao xác gáy trên vòm,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.”
Không gian bao trùm bởi tiếng động mà lòng người càng thêm trống vắng. Nhà thơ nghe "mõ thảm", "chuông sầu", tất cả đều nhuốm màu tâm trạng. Những âm thanh ấy không chỉ vang lên bên ngoài mà còn vọng từ chính trái tim chất chứa bao uất hận.
Nỗi đau lớn nhất của người phụ nữ chính là bi kịch duyên phận:
“Sau hận vì duyên để mõm mòm.”
Một chữ "hận" chất chứa biết bao tủi cực. Người phụ nữ có tài, có nhan sắc, có khát vọng yêu thương, song hạnh phúc lại luôn dang dở. Đó không còn là câu chuyện riêng của Hồ Xuân Hương mà là tiếng lòng chung của biết bao người phụ nữ trong xã hội cũ.
Điều đáng quý là dù cuộc đời nhiều bất hạnh, người phụ nữ vẫn không đánh mất khát vọng sống và ý thức về giá trị bản thân. Hai câu kết của Tự tình II vang lên đầy mạnh mẽ:
“Tài tử văn nhân ai đó tá,
Thân này đâu đã chịu già tom.”
Đằng sau lời thơ là bản lĩnh không chịu khuất phục trước định kiến. Hồ Xuân Hương không cam lòng chấp nhận số phận, bà khẳng định quyền được yêu, được sống và được hạnh phúc của người phụ nữ. Chính tinh thần phản kháng ấy đã khiến thơ Hồ Xuân Hương vượt lên giới hạn của thời đại để trở thành tiếng nói nhân văn đầy sức sống.
Nếu Hồ Xuân Hương trực tiếp cất tiếng nói cho nữ giới thì Trần Tế Xương lại thể hiện sự thức tỉnh của một người đàn ông trước những hi sinh của người phụ nữ. Hai câu kết:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
là lời tự trách đầy xót xa. Tiếng chửi "thói đời" cũng chính là lời phê phán xã hội đã đẩy người phụ nữ vào vòng lao khổ; đồng thời là sự tự vấn lương tâm của người chồng chưa làm tròn trách nhiệm. Trong văn học trung đại vốn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng trọng nam khinh nữ, cái nhìn đầy trân trọng ấy mang ý nghĩa nhân văn đặc biệt.
Ba bài thơ được viết bằng những giọng điệu khác nhau: lúc hóm hỉnh mà sâu cay, lúc đau đớn phẫn uất, lúc yêu thương và cảm phục. Song tất cả đều hướng đến việc khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam: giàu phẩm hạnh, thủy chung, giàu đức hi sinh, giàu nghị lực và luôn khát khao hạnh phúc. Đồng thời, các tác phẩm cũng phơi bày hiện thực bất công của xã hội phong kiến, nơi người phụ nữ phải gánh chịu biết bao thiệt thòi về thân phận và quyền sống.
Đọc “Bánh trôi nước”, “Tự tình II” và “Thương vợ”, ta không chỉ gặp những người phụ nữ của một thời đã xa mà còn gặp vẻ đẹp bền vững của tâm hồn Việt Nam. Chính sự trong sáng của "tấm lòng son", sự tần tảo của "thân cò", cùng khát vọng sống mãnh liệt vang lên trong lời "thân này đâu đã chịu già tom" đã làm nên một hình tượng người phụ nữ vừa đáng thương, vừa đáng kính. Những vần thơ ấy vẫn ngân vọng đến hôm nay như lời nhắc nhở về giá trị của lòng nhân ái, sự trân trọng và khát vọng bình đẳng dành cho người phụ nữ trong mọi thời đại.
Xem thêm >>
Hai câu thơ trong “Bảo kính cảnh giới” (Bài 21) của Nguyễn Trãi là lời cảnh tỉnh sâu sắc về quy luật cộng hưởng trong các mối quan hệ: "Chơi cùng bầy dại nên bầy dại / Kết mấy người khôn học nết khôn". "Bầy dại" đại diện cho lối sống tiêu cực, thiếu hiểu biết; còn "người khôn" là những người có trí tuệ và đạo đức. Nguyễn Trãi đã chỉ ra một sự thật: môi trường xung quanh định hình nên con người ta. Khi ta dung túng bản thân trong một tập thể sa ngã, ta sẽ dễ dàng thỏa hiệp với cái xấu. Ngược lại, việc chọn bạn đồng hành là những người ưu tú sẽ giúp ta "học nết khôn" – hấp thụ những tư duy tích cực để hoàn thiện nhân cách. Câu thơ không chỉ là bài học chọn bạn của tiền nhân, tương đồng với triết lý "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng", mà còn nhắc nhở ta phải biết chọn lọc môi trường để sinh tồn và phát triển. Muốn có một cuộc đời rực rỡ, trước hết hãy học cách khước từ những mối quan hệ độc hại.
Xem thêm >>
Viên Mai từng khẳng định: “Thơ là do cái tình sinh ra và đó phải là tình cảm chân thật.” Đó không chỉ là một quan niệm về nguồn cội của thơ ca mà còn là thước đo giá trị của mỗi thi phẩm. Thơ không bắt đầu từ sự khéo léo của ngôn từ hay sự cầu kì của hình ảnh, mà bắt đầu từ những rung động chân thành của trái tim người nghệ sĩ trước cuộc sống. Chỉ khi cảm xúc đủ sâu, đủ thật, câu thơ mới có thể chạm tới trái tim người đọc. Đọc “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến, ta càng thấm thía hơn giá trị của nhận định ấy.
Thơ là tiếng nói của cảm xúc. Mỗi bài thơ đều là sự kết tinh của những vui buồn, thương nhớ, trăn trở mà nhà thơ gửi gắm qua ngôn từ nghệ thuật. Điều quan trọng hơn cả là những cảm xúc ấy phải xuất phát từ chính tâm hồn người viết. Tình cảm chân thật luôn mang sức lay động bền lâu bởi nó được chưng cất từ trải nghiệm sống và nhân cách của thi sĩ. Cũng vì thế, thơ ca đích thực không chỉ phản ánh hiện thực mà còn phản chiếu tâm hồn con người.
Mang trong mình nỗi niềm của một nhà nho yêu nước, bất lực trước thời cuộc, Nguyễn Khuyến tìm về quê hương để giữ gìn nhân cách. Trong sự tĩnh lặng của làng quê, ông gửi vào bức tranh mùa thu tất cả tình yêu thiên nhiên cùng những suy tư thầm kín. Ngay từ hai câu mở đầu, vẻ đẹp của mùa thu Bắc Bộ đã hiện lên vừa gần gũi vừa thanh sơ:
“ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”
Không gian mở ra bằng chiếc ao nhỏ với làn nước “trong veo”, gợi cảm giác tinh khiết đến tận đáy. Từ láy “lạnh lẽo” không chỉ diễn tả cái se sắt của tiết thu mà còn gợi một khoảng trống vắng trong lòng người. Giữa khung cảnh ấy, chiếc thuyền câu “bé tẻo teo” hiện lên nhỏ bé, cô độc, khiến cả bức tranh như thu lại trong một không gian rất riêng. Chỉ bằng vài nét chấm phá, nhà thơ đã khắc họa được vẻ đẹp bình dị của quê hương, đồng thời kín đáo gửi gắm tâm thế lặng lẽ của chính mình.
Nếu hai câu đầu chủ yếu gợi tĩnh thì hai câu tiếp theo lại đưa vào bức tranh những chuyển động rất khẽ:
“ Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.”
Sóng chỉ “gợn tí”, lá chỉ “đưa vèo”, tất cả đều nhẹ đến mức tưởng như không muốn phá vỡ sự yên ắng đang bao trùm. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh khiến cái tĩnh càng thêm sâu lắng. Những chuyển động mong manh ấy cho thấy một tâm hồn có khả năng cảm nhận vô cùng tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Chỉ người thực sự yêu cảnh, sống hết mình với từng nhịp thở của quê hương mới có thể ghi nhận những biến đổi nhỏ bé đến vậy.
Từ mặt nước, tầm mắt nhà thơ hướng lên bầu trời rồi lại trở về mặt đất:
“ Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.”
Không gian được mở rộng theo cả chiều cao lẫn chiều sâu. Bầu trời “xanh ngắt” gợi cảm giác trong trẻo, cao rộng, còn áng mây “lơ lửng” như ngưng trôi giữa khoảng không yên tĩnh. Đối lập với sự khoáng đạt của trời thu là con ngõ trúc “khách vắng teo”, nơi gần như không một bóng người qua lại. Chuỗi vần “eo” được lặp lại ở cuối các câu thơ vừa tạo âm hưởng dìu dịu, vừa gợi cảm giác nhỏ bé, hun hút và cô quạnh. Thiên nhiên đẹp đến nao lòng, càng đẹp lại càng gợi nỗi cô đơn của người ngắm cảnh. Đó không còn là sự vắng vẻ của không gian mà đã trở thành khoảng lặng trong tâm hồn thi sĩ.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng hình ảnh người câu cá:
“ Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”
Con người xuất hiện với tư thế nhàn tản: “tựa gối”, “ôm cần”. Thế nhưng, cái “lâu chẳng được” cho thấy việc câu cá chỉ là cái cớ để hòa mình vào thiên nhiên, để lắng nghe lòng mình. Tiếng cá đớp động dưới chân bèo bất ngờ vang lên như một điểm nhấn âm thanh giữa không gian tĩnh mịch. Âm thanh rất nhỏ ấy đủ làm lay động cả bức tranh, đồng thời đánh thức những suy tư thầm kín. Phía sau dáng vẻ ung dung của người câu cá là nỗi niềm ưu thời mẫn thế của một kẻ sĩ yêu nước, đau đáu trước vận mệnh dân tộc mà đành bất lực lui về ở ẩn để giữ trọn khí tiết. Cảnh thu vì thế không chỉ đẹp bởi màu sắc và đường nét, mà còn đẹp bởi chiều sâu tâm trạng được gửi gắm kín đáo trong từng câu chữ.
Giá trị của “Thu điếu” không nằm ở việc miêu tả mùa thu đơn thuần, mà ở sự hòa quyện giữa cảnh và tình. Thiên nhiên trở thành chiếc gương phản chiếu tâm hồn thi sĩ; còn cảm xúc chân thành lại làm cho cảnh vật vốn bình dị mang vẻ đẹp có hồn. Chính cái tình sâu nặng với quê hương, với thiên nhiên, với nhân cách của một nhà nho thanh cao đã khiến bài thơ vượt qua giới hạn của thời gian để vẫn làm rung động lòng người hôm nay.
Lời của Viên Mai vì thế càng được khẳng định bằng sức sống của “Thu điếu”. Thơ chỉ thật sự sống lâu trong lòng người đọc khi được viết bằng những rung động chân thành nhất của trái tim. Cảm xúc chân thật đã hóa thành vẻ đẹp nghệ thuật, còn vẻ đẹp nghệ thuật lại nâng đỡ cảm xúc bay xa. Đó chính là con đường để thơ ca chạm đến sự bất tử, nơi mỗi vần thơ không chỉ lưu giữ một khoảnh khắc của thiên nhiên mà còn lưu giữ một tâm hồn đẹp, một nhân cách đẹp và một tấm lòng thiết tha với quê hương, đất nước.
Xem thêm >>
Bài viết được xem nhiều nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bốn câu thơ đầu bài thơ Chiều hôm nhớ nhà- Bà huyện Thanh Quan hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bốn câu thơ đầu bài thơ Tự tình II- Hồ Xuân Hương hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bức tranh thiên nhiên và vẻ đep tâm hồn tác giả trong bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến) hay nhất
- Top 45 Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích một tác phẩm thơ thất ngôn bát cú hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bốn câu thơ đầu bài thơ Chiều hôm nhớ nhà- Bà huyện Thanh Quan hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm từ một số tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THCS, hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Thơ là sứ giả của tình yêu” (Nguyễn Hữu Quý) hay nhất
- Top 45 bài văn nghị luận phân tích, đánh giá bài thơ Lời của chim hải âu của Nguyễn Đình Tâm. Từ đó, bàn luận về ý kiến sau: "Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính
- Top 45 Bài văn trình bày cảm nhận về những biểu hiện của tình yêu nước qua một số tác phẩm thơ yêu thích hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm trong quá trình đọc tác phẩm Khi con tu hú, hãy viết bài văn với chủ đề: “Khúc tự tình về quê hương đất nước trong tác phẩm văn chương” hay nhất
- Top 45 Bài văn bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ nhận định: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc. Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách nhữ



Danh sách bình luận