200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ thất ngôn bát cú
Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến đã ca ngợi tình bạn chân thành, thắm thiết. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Nguyễn Khuyến.
“Đã bấy lâu nay, bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa"
Mở đầu bài thơ, tác giả đã nêu ra hoàn cảnh khi người bạn đến chơi nhà. Cụm từ “đã bấy lâu nay” chỉ thời gian rất lâu rồi thì bạn mới đến thăm nhà. Điều đó khiến cho nhân vật trữ tình trong bài thơ cảm thấy rất vui mừng, hạnh phúc. Cách xưng hô “bác” thể hiện mối quan hệ gần gũi, thân mật. Dẫu vậy thì hoàn cảnh của nhà thơ lúc này cũng thật là éo le. Trẻ em thì đi vắng rồi, không có người để sai đi mua đồ tiếp đãi bạn được vì chợ ở quá xa.
Những tưởng rằng như vậy là chưa đủ, nhà thơ còn liệt kê một loạt các sự vật như “ao sâu - khôn chài cá”, “cải chửa ra cây, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa”. Thậm chí miếng trầu - ngay cả thứ quan trọng nhất bởi có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện” thì ở đây cũng không có. Sự thiếu thốn đã được đẩy lên đến tận cùng. Nhưng sự thiếu thốn đó không khiến tình bạn vơi bớt.
Dù vậy, tình cảm bạn bè của nhà thơ vẫn chân thành, sâu sắc. Câu thơ cuối như một lời khẳng định cho tình bạn tri kỉ của Nguyễn Khuyến: “Bác đến chơi đây ta với ta”. Đại từ “ta” thứ nhất chính là nhà thơ, còn đại từ “ta” thứ hai chỉ người bạn. Từ “với” cho thấy mối quan hệ song hành, gắn bó. “Ta với ta” đồng nghĩa với tôi với bác, chúng ta với nhau. Cuộc sống tuy nghèo khó, thiếu thốn nhưng có bạn lại thấy vui vẻ, hạnh phúc.
Tình bạn tri kỉ trong Bạn đến chơi nhà thật đáng ngưỡng mộ, cảm phục biết bao nhiêu. Bài thơ gửi gắm thông điệp ý nghĩa, giàu giá trịvề nội dung và nghệ thuật.
Xem thêm >>
Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người phụ nữ luôn hiện lên như một nốt trầm da diết. Họ là những con người giàu phẩm chất, giàu yêu thương, giàu khát vọng sống, song số phận lại bị trói buộc bởi những lễ giáo khắt khe và những định kiến hà khắc của xã hội phong kiến. Nếu Hồ Xuân Hương cất lên tiếng nói từ chính thân phận người phụ nữ với niềm đau, sự phản kháng và khát vọng khẳng định giá trị bản thân qua “Bánh trôi nước” và “Tự tình II”, thì Trần Tế Xương lại dành cho người vợ của mình ánh nhìn đầy yêu thương, trân trọng trong “Thương vợ”. Ba bài thơ gặp nhau ở điểm chung: khắc họa chân thực vẻ đẹp cùng bi kịch của người phụ nữ Việt Nam thời xưa, đồng thời gửi gắm tinh thần nhân đạo sâu sắc.
Điều trước hết có thể cảm nhận là người phụ nữ Việt Nam mang trong mình những phẩm chất vô cùng cao đẹp. Ở “Bánh trôi nước”, Hồ Xuân Hương mượn hình ảnh chiếc bánh dân dã để xây dựng biểu tượng về người phụ nữ:
“Thân em thời trắng phận em tròn,
Bảy nổi ba chìm mấy nước non.”
Màu trắng của bánh gợi vẻ đẹp trong sáng, tinh khiết; hình tròn gợi sự đầy đặn, viên mãn. Đó cũng là vẻ đẹp ngoại hình và phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam. Dẫu cuộc đời nổi trôi, nhà thơ vẫn khẳng định:
“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Em vẫn giữ tấm lòng son.”
"Tấm lòng son" là điểm sáng rực rỡ nhất của bài thơ. Son là màu đỏ của thủy chung, của nhân hậu, của phẩm giá không gì có thể làm phai nhạt. Dù cuộc đời có vùi dập, dù hoàn cảnh có nghiệt ngã, người phụ nữ vẫn giữ nguyên cốt cách trong sạch, thủy chung và giàu lòng tự trọng. Chỉ với bốn câu thơ, Hồ Xuân Hương đã dựng lên một tượng đài nhỏ bé mà bền vững về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam.
Vẻ đẹp ấy tiếp tục được soi chiếu dưới một góc nhìn khác trong Thương vợ. Người phụ nữ không chỉ đẹp ở phẩm hạnh mà còn hiện lên với đức hi sinh và lòng vị tha vô bờ:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Hai chữ "quanh năm" gợi nhịp sống triền miên, không một ngày ngơi nghỉ. Địa điểm "mom sông" vốn là nơi chênh vênh, nguy hiểm, như chính cuộc đời đầy nhọc nhằn của bà Tú. Một mình gánh vác cả gia đình với "năm con" và cả "một chồng", người phụ nữ trở thành trụ cột âm thầm của mái ấm. Nghệ thuật đảo số lượng "một chồng" đặt ngang hàng với "năm con" vừa hóm hỉnh, vừa chất chứa sự day dứt của nhà thơ trước những hi sinh mà vợ phải gánh chịu.
Những câu thơ tiếp theo khắc họa rõ hơn dáng hình tần tảo ấy:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Hình ảnh "thân cò" gợi nhắc biết bao câu ca dao quen thuộc về số phận người phụ nữ. Con cò lặn lội kiếm ăn giữa đồng sâu cũng giống như bà Tú tất bật giữa cuộc mưu sinh. Những từ láy "lặn lội", "eo sèo" vừa tái hiện nỗi nhọc nhằn của lao động, vừa gợi lên biết bao va chạm, bon chen của cuộc đời. Vượt lên tất cả là đức hi sinh lặng lẽ, không lời than trách:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Cách nói thành ngữ dân gian khiến câu thơ mang vẻ mộc mạc mà thấm thía. Người phụ nữ chấp nhận gian lao như một lẽ tự nhiên, lấy tình yêu thương làm động lực vượt qua mọi thử thách.
Ẩn sau vẻ đẹp đáng quý ấy là một số phận đầy cay đắng. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến không được quyền quyết định cuộc đời mình. Hồ Xuân Hương đã nói thay nỗi đau ấy bằng những hình ảnh giàu sức gợi:
“Bảy nổi ba chìm mấy nước non,
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn.”
Cuộc đời họ lênh đênh, chìm nổi như chiếc bánh trong nồi nước sôi. Giá trị của họ lại bị quyết định bởi "tay kẻ nặn" – hình ảnh ẩn dụ cho quyền lực của lễ giáo, của người đàn ông, của số phận đầy bất công. Hạnh phúc cá nhân không nằm trong chính đôi tay mình.
Đến “Tự tình II”, bi kịch ấy được đẩy lên thành nỗi cô đơn và khát vọng hạnh phúc bị dồn nén. Tiếng gà, tiếng mõ, tiếng chuông vốn quen thuộc của đời sống lại trở thành âm thanh khơi gợi nỗi buồn:
“Tiếng gà xao xác gáy trên vòm,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.”
Không gian bao trùm bởi tiếng động mà lòng người càng thêm trống vắng. Nhà thơ nghe "mõ thảm", "chuông sầu", tất cả đều nhuốm màu tâm trạng. Những âm thanh ấy không chỉ vang lên bên ngoài mà còn vọng từ chính trái tim chất chứa bao uất hận.
Nỗi đau lớn nhất của người phụ nữ chính là bi kịch duyên phận:
“Sau hận vì duyên để mõm mòm.”
Một chữ "hận" chất chứa biết bao tủi cực. Người phụ nữ có tài, có nhan sắc, có khát vọng yêu thương, song hạnh phúc lại luôn dang dở. Đó không còn là câu chuyện riêng của Hồ Xuân Hương mà là tiếng lòng chung của biết bao người phụ nữ trong xã hội cũ.
Điều đáng quý là dù cuộc đời nhiều bất hạnh, người phụ nữ vẫn không đánh mất khát vọng sống và ý thức về giá trị bản thân. Hai câu kết của Tự tình II vang lên đầy mạnh mẽ:
“Tài tử văn nhân ai đó tá,
Thân này đâu đã chịu già tom.”
Đằng sau lời thơ là bản lĩnh không chịu khuất phục trước định kiến. Hồ Xuân Hương không cam lòng chấp nhận số phận, bà khẳng định quyền được yêu, được sống và được hạnh phúc của người phụ nữ. Chính tinh thần phản kháng ấy đã khiến thơ Hồ Xuân Hương vượt lên giới hạn của thời đại để trở thành tiếng nói nhân văn đầy sức sống.
Nếu Hồ Xuân Hương trực tiếp cất tiếng nói cho nữ giới thì Trần Tế Xương lại thể hiện sự thức tỉnh của một người đàn ông trước những hi sinh của người phụ nữ. Hai câu kết:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
là lời tự trách đầy xót xa. Tiếng chửi "thói đời" cũng chính là lời phê phán xã hội đã đẩy người phụ nữ vào vòng lao khổ; đồng thời là sự tự vấn lương tâm của người chồng chưa làm tròn trách nhiệm. Trong văn học trung đại vốn chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng trọng nam khinh nữ, cái nhìn đầy trân trọng ấy mang ý nghĩa nhân văn đặc biệt.
Ba bài thơ được viết bằng những giọng điệu khác nhau: lúc hóm hỉnh mà sâu cay, lúc đau đớn phẫn uất, lúc yêu thương và cảm phục. Song tất cả đều hướng đến việc khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam: giàu phẩm hạnh, thủy chung, giàu đức hi sinh, giàu nghị lực và luôn khát khao hạnh phúc. Đồng thời, các tác phẩm cũng phơi bày hiện thực bất công của xã hội phong kiến, nơi người phụ nữ phải gánh chịu biết bao thiệt thòi về thân phận và quyền sống.
Đọc “Bánh trôi nước”, “Tự tình II” và “Thương vợ”, ta không chỉ gặp những người phụ nữ của một thời đã xa mà còn gặp vẻ đẹp bền vững của tâm hồn Việt Nam. Chính sự trong sáng của "tấm lòng son", sự tần tảo của "thân cò", cùng khát vọng sống mãnh liệt vang lên trong lời "thân này đâu đã chịu già tom" đã làm nên một hình tượng người phụ nữ vừa đáng thương, vừa đáng kính. Những vần thơ ấy vẫn ngân vọng đến hôm nay như lời nhắc nhở về giá trị của lòng nhân ái, sự trân trọng và khát vọng bình đẳng dành cho người phụ nữ trong mọi thời đại.
Xem thêm >>
Hai câu thơ trong “Bảo kính cảnh giới” (Bài 21) của Nguyễn Trãi là lời cảnh tỉnh sâu sắc về quy luật cộng hưởng trong các mối quan hệ: "Chơi cùng bầy dại nên bầy dại / Kết mấy người khôn học nết khôn". "Bầy dại" đại diện cho lối sống tiêu cực, thiếu hiểu biết; còn "người khôn" là những người có trí tuệ và đạo đức. Nguyễn Trãi đã chỉ ra một sự thật: môi trường xung quanh định hình nên con người ta. Khi ta dung túng bản thân trong một tập thể sa ngã, ta sẽ dễ dàng thỏa hiệp với cái xấu. Ngược lại, việc chọn bạn đồng hành là những người ưu tú sẽ giúp ta "học nết khôn" – hấp thụ những tư duy tích cực để hoàn thiện nhân cách. Câu thơ không chỉ là bài học chọn bạn của tiền nhân, tương đồng với triết lý "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng", mà còn nhắc nhở ta phải biết chọn lọc môi trường để sinh tồn và phát triển. Muốn có một cuộc đời rực rỡ, trước hết hãy học cách khước từ những mối quan hệ độc hại.
Xem thêm >>
Viên Mai từng khẳng định: “Thơ là do cái tình sinh ra và đó phải là tình cảm chân thật.” Đó không chỉ là một quan niệm về nguồn cội của thơ ca mà còn là thước đo giá trị của mỗi thi phẩm. Thơ không bắt đầu từ sự khéo léo của ngôn từ hay sự cầu kì của hình ảnh, mà bắt đầu từ những rung động chân thành của trái tim người nghệ sĩ trước cuộc sống. Chỉ khi cảm xúc đủ sâu, đủ thật, câu thơ mới có thể chạm tới trái tim người đọc. Đọc “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến, ta càng thấm thía hơn giá trị của nhận định ấy.
Thơ là tiếng nói của cảm xúc. Mỗi bài thơ đều là sự kết tinh của những vui buồn, thương nhớ, trăn trở mà nhà thơ gửi gắm qua ngôn từ nghệ thuật. Điều quan trọng hơn cả là những cảm xúc ấy phải xuất phát từ chính tâm hồn người viết. Tình cảm chân thật luôn mang sức lay động bền lâu bởi nó được chưng cất từ trải nghiệm sống và nhân cách của thi sĩ. Cũng vì thế, thơ ca đích thực không chỉ phản ánh hiện thực mà còn phản chiếu tâm hồn con người.
Mang trong mình nỗi niềm của một nhà nho yêu nước, bất lực trước thời cuộc, Nguyễn Khuyến tìm về quê hương để giữ gìn nhân cách. Trong sự tĩnh lặng của làng quê, ông gửi vào bức tranh mùa thu tất cả tình yêu thiên nhiên cùng những suy tư thầm kín. Ngay từ hai câu mở đầu, vẻ đẹp của mùa thu Bắc Bộ đã hiện lên vừa gần gũi vừa thanh sơ:
“ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.”
Không gian mở ra bằng chiếc ao nhỏ với làn nước “trong veo”, gợi cảm giác tinh khiết đến tận đáy. Từ láy “lạnh lẽo” không chỉ diễn tả cái se sắt của tiết thu mà còn gợi một khoảng trống vắng trong lòng người. Giữa khung cảnh ấy, chiếc thuyền câu “bé tẻo teo” hiện lên nhỏ bé, cô độc, khiến cả bức tranh như thu lại trong một không gian rất riêng. Chỉ bằng vài nét chấm phá, nhà thơ đã khắc họa được vẻ đẹp bình dị của quê hương, đồng thời kín đáo gửi gắm tâm thế lặng lẽ của chính mình.
Nếu hai câu đầu chủ yếu gợi tĩnh thì hai câu tiếp theo lại đưa vào bức tranh những chuyển động rất khẽ:
“ Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.”
Sóng chỉ “gợn tí”, lá chỉ “đưa vèo”, tất cả đều nhẹ đến mức tưởng như không muốn phá vỡ sự yên ắng đang bao trùm. Nghệ thuật lấy động tả tĩnh khiến cái tĩnh càng thêm sâu lắng. Những chuyển động mong manh ấy cho thấy một tâm hồn có khả năng cảm nhận vô cùng tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Chỉ người thực sự yêu cảnh, sống hết mình với từng nhịp thở của quê hương mới có thể ghi nhận những biến đổi nhỏ bé đến vậy.
Từ mặt nước, tầm mắt nhà thơ hướng lên bầu trời rồi lại trở về mặt đất:
“ Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.”
Không gian được mở rộng theo cả chiều cao lẫn chiều sâu. Bầu trời “xanh ngắt” gợi cảm giác trong trẻo, cao rộng, còn áng mây “lơ lửng” như ngưng trôi giữa khoảng không yên tĩnh. Đối lập với sự khoáng đạt của trời thu là con ngõ trúc “khách vắng teo”, nơi gần như không một bóng người qua lại. Chuỗi vần “eo” được lặp lại ở cuối các câu thơ vừa tạo âm hưởng dìu dịu, vừa gợi cảm giác nhỏ bé, hun hút và cô quạnh. Thiên nhiên đẹp đến nao lòng, càng đẹp lại càng gợi nỗi cô đơn của người ngắm cảnh. Đó không còn là sự vắng vẻ của không gian mà đã trở thành khoảng lặng trong tâm hồn thi sĩ.
Hai câu kết khép lại bài thơ bằng hình ảnh người câu cá:
“ Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”
Con người xuất hiện với tư thế nhàn tản: “tựa gối”, “ôm cần”. Thế nhưng, cái “lâu chẳng được” cho thấy việc câu cá chỉ là cái cớ để hòa mình vào thiên nhiên, để lắng nghe lòng mình. Tiếng cá đớp động dưới chân bèo bất ngờ vang lên như một điểm nhấn âm thanh giữa không gian tĩnh mịch. Âm thanh rất nhỏ ấy đủ làm lay động cả bức tranh, đồng thời đánh thức những suy tư thầm kín. Phía sau dáng vẻ ung dung của người câu cá là nỗi niềm ưu thời mẫn thế của một kẻ sĩ yêu nước, đau đáu trước vận mệnh dân tộc mà đành bất lực lui về ở ẩn để giữ trọn khí tiết. Cảnh thu vì thế không chỉ đẹp bởi màu sắc và đường nét, mà còn đẹp bởi chiều sâu tâm trạng được gửi gắm kín đáo trong từng câu chữ.
Giá trị của “Thu điếu” không nằm ở việc miêu tả mùa thu đơn thuần, mà ở sự hòa quyện giữa cảnh và tình. Thiên nhiên trở thành chiếc gương phản chiếu tâm hồn thi sĩ; còn cảm xúc chân thành lại làm cho cảnh vật vốn bình dị mang vẻ đẹp có hồn. Chính cái tình sâu nặng với quê hương, với thiên nhiên, với nhân cách của một nhà nho thanh cao đã khiến bài thơ vượt qua giới hạn của thời gian để vẫn làm rung động lòng người hôm nay.
Lời của Viên Mai vì thế càng được khẳng định bằng sức sống của “Thu điếu”. Thơ chỉ thật sự sống lâu trong lòng người đọc khi được viết bằng những rung động chân thành nhất của trái tim. Cảm xúc chân thật đã hóa thành vẻ đẹp nghệ thuật, còn vẻ đẹp nghệ thuật lại nâng đỡ cảm xúc bay xa. Đó chính là con đường để thơ ca chạm đến sự bất tử, nơi mỗi vần thơ không chỉ lưu giữ một khoảnh khắc của thiên nhiên mà còn lưu giữ một tâm hồn đẹp, một nhân cách đẹp và một tấm lòng thiết tha với quê hương, đất nước.
Xem thêm >>
Đọc bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta thêm kính trọng một nhân cách thanh cao, một tâm hồn luôn giữ được sự tĩnh lặng, an nhiên giữa dòng đời biến động. Nhà thơ đã chọn cho mình một lối sống bình dị mà thanh cao qua hình ảnh “một mai, một cuốc, một cần câu”, thuận theo tự nhiên với quan niệm “thu ăn măng trúc, đông ăn giá”. Đặc biệt, triết lý sống qua cặp đối lập “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao” thể hiện một thái độ sống vô cùng đáng quý. Chữ “dại” ở đây thực chất là sự lựa chọn tỉnh táo của một bậc hiền triết: “dại” trước danh lợi, bon chen để giữ lấy sự trong sạch, tự do cho tâm hồn; chủ động lánh xa chốn quan trường xô bồ, tranh quyền đoạt vị. Cuộc sống của ông tuy đạm bạc nhưng lại vô cùng giàu sang về tinh thần, bởi mọi phú quý trên đời đều được nhà thơ nhìn nhận nhẹ tựa “chiêm bao”. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một con người có trí tuệ uyên thâm, cốt cách thanh tao, luôn giữ gìn khí tiết kiên cường và thái độ sống tự tại, coi thường danh lợi tầm thường.
Xem thêm >>
Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước và đạo lý làm người. Trong sự nghiệp văn học của ông, bài thơ Chạy Tây đứng như một cột mốc lịch sử, phản ánh thảm cảnh của Nam Bộ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược năm 1859. Tác phẩm là tiếng khóc đau thương trước cảnh đất nước biến động và sự sụp đổ của một vùng quê yên bình.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Đình Chiểu đã ghi lại khoảnh khắc bàng hoàng khi cuộc sống bình yên bị đập tan:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.”
Tiếng súng Pháp vang lên đột ngột đúng vào thời điểm "tan chợ" giản dị, làm vỡ tan nhịp sống thường nhật. Hình ảnh so sánh "bàn cờ thế phút sa tay" thể hiện sự bất lực, lúng túng của triều đình nhà Nguyễn, làm mất đi thế chủ động và đẩy Nam Bộ vào tình thế nguy cấp chỉ trong khoảnh khắc.
Hai câu thực tiếp theo khắc họa sự tan tác của con người và vạn vật dưới gót giày xâm lược:
“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.”
Bằng nghệ thuật đối tài tình cùng các từ láy giàu giá trị biểu cảm như "lơ xơ", "dáo dác", tác giả đã vẽ nên bức tranh hoảng loạn. "Lũ trẻ" ngơ ngác mất nhà, "bầy chim" tan tác mất ổ — cả con người lẫn vạn vật đều rơi vào cảnh bơ vơ, mất đi chốn tựa tường.
Không dừng lại ở đó, chiến tranh còn thiêu rụi những giá trị vật chất và sự trù phú của vùng đất Nam Bộ:
“Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.”
Địa danh "Bến Nghé", "Đồng Nai" gắn liền với hình ảnh của cải "tan bọt nước" và nhà cửa "nhuốm màu mây" (khói lửa). Nghệ thuật ẩn dụ và đảo ngữ đã tố cáo gay gắt tội ác tàn bạo của kẻ thù, đồng thời bộc lộ nỗi đau đớn xé lòng của nhà thơ trước cảnh quê hương bị tàn phá.
Khép lại bài thơ là lời cất tiếng hỏi đầy cay đắng và trăn trở:
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?”
Câu hỏi tu từ hướng về "trang dẹp loạn" — những người có trách nhiệm bảo vệ giang sơn — là lời trách móc cay đắng trước sự yếu hèn của triều đình, đồng thời gửi gắm khát vọng tha thiết về một người anh hùng ra tay cứu dân độ thế.
Chạy Tây là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật mẫu mực nhưng tràn đầy hơi thở thời đại. Qua ngôn từ bình dị mà sắc bén, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ ghi lại một thời khắc đau thương của lịch sử mà còn để lại bài ca về tấm lòng thương dân, yêu nước sâu sắc.
Xem thêm >>
Nhà thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là bậc thầy của thơ ca trữ tình phong cảnh mà còn là cây bút hiện thực xuất sắc viết về người nông dân và làng cảnh Việt Nam. Bài thơ Làm ruộng là một bức tranh chân thực, đau xót đến nao lòng về nỗi thống khổ, bế tắc của người nông dân dưới ách áp bức nặng nề của chế độ thực dân phong kiến, đồng thời thấm đượm tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ.
Ngay ở hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã phơi bày thực trạng làm ăn thua lỗ, bế tắc tột cùng của người nông dân:
Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Cụm từ "mấy năm" gợi khoảng thời gian dài đằng đẵng của sự đói nghèo, kết hợp với từ "chân thua" khẳng định sự thua thiệt toàn tập. Phép điệp cấu trúc và từ ngữ ở câu thứ hai như xoáy sâu vào nỗi đau: mất mùa liên tiếp từ vụ chiêm sang vụ mùa. Thiên tai, thời tiết khắc nghiệt cùng thực tại phũ phàng đã tước đoạt đi mọi thành quả lao động mồ hôi nước mắt của họ.
Không chỉ dừng lại ở sự thất bát, gánh nặng mưu sinh còn đè nặng lên vai người nông dân qua những khoản chi chồng chất:
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.
Nhà thơ sử dụng phép liệt kê kết hợp các từ chỉ định lượng "phần", "nửa" để chia nhỏ những thứ vốn đã ít ỏi thành vô nghĩa. Làm ra bao nhiêu đều phải bù vào tiền thuế cho quan Tây, trả nợ nần chồng chất, trả công người ở và tiền thuê bò cày cấy. Cuối cùng, người nông dân hoàn toàn trắng tay, rơi vào vòng luẩn quẩn không lối thoát. Đời sống vật chất vì thế mà chìm trong sự kham khổ, tằn tiện đến cực điểm:
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Bữa ăn chỉ có dưa muối qua ngày, những nhu cầu bình dị nhất của đời sống thôn quê như miếng trầu, chén chè cũng phải nhịn thèm, cắt giảm. Cần kiệm đến mức độ ấy nhưng cuộc sống vẫn hoàn nghèo khó, để rồi đọng lại ở hai câu kết là nỗi niềm u uất:
Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?
Lời tự vấn ngậm ngùi cùng câu hỏi tu từ bỏ ngỏ ở cuối bài chính là tiếng thở dài ngao ngán cho một kiếp người.
Bài thơ là khúc ca bi thương về người nông dân, qua đó bộc lộ nỗi niềm trăn trở khôn nguôi và tình cảm gắn bó thiết tha của Nguyễn Khuyến với những mảnh đời bất hạnh.
Xem thêm >>
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) là một trong những cây đại thụ của nền văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là "Tam nguyên Yên Đổ". Thơ ông không chỉ thành công ở mảng thơ trữ tình, châm biếm mà còn để lại dấu ấn đậm nét qua những vần thơ viết về tình bạn chân thành, tri kỷ. Tiêu biểu cho đề tài này là bài thơ “Bạn đến chơi nhà”, một tác phẩm đặc sắc thể hiện tình cảm gắn bó thắm thiết, vượt lên trên mọi vật chất tầm thường của đời sống.
Mở đầu bài thơ là niềm vui sướng, hân hoan tột độ khi có người bạn tri kỷ ghé thăm sau bao ngày xa cách:
“Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.”
Câu thơ đầu tiên vang lên như một tiếng reo vui, một lời chào hỏi vồn vã, thân mật. Thời gian "đã bấy lâu nay" cho thấy sự chờ đợi, mong mỏi mòn mỏi nay mới thành hiện thực. Từ "bác" không chỉ là cách xưng hô quen thuộc của người làng quê mà còn chứa đựng sự kính trọng, gắn bó ruột thịt. Thế nhưng, ngay câu thơ tiếp theo, nhà thơ đã đẩy người đọc vào một tình huống vô cùng oái oăm: người giúp việc thì đi vắng, còn chợ lại ở quá xa, không thể xoay sở kịp lúc.
Càng đi vào những câu tiếp theo, bức tranh gia cảnh của nhà thơ lại càng trở nên túng thiếu, nghèo khó đến mức "cố cùng hoại tận":
“Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.”
Hàng loạt khó khăn được liệt kê dồn dập với cấu trúc đối xứng chặt chẽ. Nào là ao sâu nước lớn không chài được cá, vườn rộng rào thưa không đuổi được gà. Đã vậy, sản vật trong vườn từ rau cải, quả cà cho đến giàn bầu, giàn mướp đều đang ở dạng tiềm năng – non trẻ, chưa cái nào có thể thu hoạch được. Bằng giọng điệu hóm hỉnh, tự trào, Nguyễn Khuyến đã liệt kê một danh sách dài những cái "không": không cá, không gà, không rau trái. Đỉnh điểm của sự thiếu thốn chính là thứ đồ tiếp khách cơ bản nhất của người Việt cũng hoàn toàn trống vắng:
“Đầu trò tiếp khách, trầu không có,”
Miếng trầu là đầu câu chuyện, vậy mà nhà thơ lại không có lấy một miếng trầu để đãi bạn. Sự nghèo túng ấy được diễn tả qua một giọng điệu tưng tửng, vừa tự cười mình vừa tạo ra tiếng cười vui vẻ cho người đọc.
Thế nhưng, tất cả những sự thiếu thốn về vật chất ấy bỗng chốc tan biến hoàn toàn trước câu thơ kết đầy bất ngờ và ý nghĩa:
“Bác đến chơi đây ta với ta.”
Cụm từ "ta với ta" là một nhãn tự đắt giá của bài thơ. Nó không chia cắt chủ và khách thành hai thế giới riêng biệt mà hòa quyện họ lại làm một thể thống nhất. Bạn đến chơi nhà đâu phải vì mâm cao cỗ đầy hay những thức quà sang trọng, mà đến vì tình cảm tâm giao, vì sự đồng điệu của những tâm hồn thanh cao.
“Bạn đến chơi nhà” là bài thơ kiệt tác của Nguyễn Khuyến viết về tình bạn. Bằng nghệ thuật trào lộng đặc sắc, giọng điệu hóm hỉnh, tự nhiên cùng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật uyển chuyển, bài thơ đã khẳng định một chân lý sâu sắc: tình bạn chân chính, tri kỷ luôn vượt lên trên mọi vật chất tầm thường của cuộc đời.
Xem thêm >>
Nhắc đến Nguyễn Du, người ta không chỉ nhớ đến một ngòi bút tài hoa bậc nhất trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam mà còn kính trọng một trái tim lớn luôn "đau đớn lòng" trước những bất công của cuộc thế. Bài thơ chữ Hán Độc Tiểu Thanh kí (Đọc truyện Tiểu Thanh) chính là khúc ca bi tráng và xót xa nhất viết về số phận của những con người tài hoa, bạc mệnh.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Du khắc họa bức tranh không gian đượm buồn của sự đổi thay, dâu bể:
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. (Vườn hoa Tây Hồ nay đã thành gò hoang, Một mình trước cửa sổ, ta viếng tập sách nhỏ.)
Vườn hoa Tây Hồ đẹp đẽ nay đã hóa thành gò hoang phế, gợi lên quy luật tàn khốc của thời gian và hiện thực phũ phàng. Giữa khung cảnh tiêu điều ấy, nhà thơ xuất hiện với chữ "độc" – một mình đối diện với "nhất chỉ thư" (tập sách mỏng manh còn sót lại). Hành động "viếng" một linh hồn quá cố qua trang giấy thể hiện sự cô đơn tuyệt đối và lòng trắc ẩn sâu kín của thi nhân.
Từ nỗi đau của Tiểu Thanh – người con gái Trung Hoa tài sắc vẹn toàn nhưng bị vùi dập đến chết, Nguyễn Du khái quát lên quy luật oan nghiệt của cuộc đời qua cặp câu thực mang tính triết lý:
Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh luỵ phần dư. (Son phấn có thần chắc phải thương xót đến sau khi chết, Văn chương không có mệnh mà vẫn vạ lây đến nỗi còn sót lại mẩu tàn.)
Sắc đẹp, tài năng (chi phấn) hay trí tuệ, văn chương (văn chương) lẽ ra phải được nâng niu, trân trọng, nhưng trớ trêu thay, khi sống thì bị ghen ghét, vùi dập, đến lúc chết vẫn không thoát khỏi tai ương, đố kỵ. Cặp câu thơ là tiếng thở dài não nề trước một thực trạng: hồng nhan thường đa truân, tài mệnh tương đố.
Không dừng lại ở sự thương cảm đơn thuần, nhà thơ đã nâng tầm nỗi đau cá nhân thành tiếng nói tự kết án và tự nhận thức sâu sắc:
Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư. (Mối hận xưa nay, trời khó hỏi, Nỗi oan lạ lùng vì nết phong lưu, ta tự nhận lấy.)
Nỗi hận từ xưa đến nay vốn là điều không thể hỏi trời xanh, để rồi nhà thơ dõng dạc nhận cái án oan lạ lùng vì nết phong lưu, tài nhã ấy về phía mình (ngã tự cư). Đó là sự vượt qua ranh giới của không gian và thời gian để nhận ra sự đồng điệu đớn đau: mình và Tiểu Thanh là những người cùng hội cùng thuyền trong cõi người trần thế đầy bất công.
Bài thơ khép lại bằng một câu hỏi tu từ mang tính dự cảm và khắc khoải:
Bất tri tam bách dư niên hậu, Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? (Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)
Ba trăm năm sau, liệu thiên hạ có ai khóc thương cho Tố Như? Đó không phải là sự tự phụ, mà là tiếng kêu cô đơn tột cùng của một tấm lòng lớn đang khao khát tìm kiếm tri âm nơi hậu thế, đồng thời là dự cảm thiên tài về giá trị nhân văn vượt thời gian của chính cuộc đời mình.
Độc Tiểu Thanh kí là một trong những khúc ca kiệt xuất thể hiện trọn vẹn tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du. Qua số phận bi thảm của nàng Tiểu Thanh, nhà thơ không chỉ gióng lên tiếng khóc xót xa cho những kiếp hồng nhan, tài tử bạc mệnh mà còn bộc lộ cái tôi trữ tình đầy trắc ẩn, đau đớn trước thế sự. Bài thơ khép lại nhưng dư âm của nó vẫn vang vọng mãi trong lòng người đọc muôn đời về tấm lòng "những điều trông thấy mà đau đớn lòng" của một đại thi hào luôn nặng nợ với cõi người.
Xem thêm >>
Nhà thơ Tú Xương thường được biết đến với ngòi bút trào phúng sắc sảo, chua chát trước thời cuộc. Thế nhưng, đằng sau lớp áo mỉa mai ấy lại là một trái tim đa sầu, nặng lòng với nghĩa tình tri kỷ. Điều đó được bộc lộ vô cùng thấm thía qua bài thơ Nhớ bạn phương trời, một tác phẩm khắc họa chân thực nỗi cô đơn và tình cảm gắn bó thiết tha của nhà thơ dành cho người bạn phương xa.
Mở đầu bài thơ, nỗi nhớ hiện lên qua không gian cách trở mịt mùng:
Ta nhớ người xa cách núi sông, Người xa, xa lắm, nhớ ta không?
Điệp từ "xa" kết hợp cùng câu hỏi tu từ vang lên như một tiếng thở dài trăn trở, bộc lộ sự trống trải và niềm ngóng trông vô vọng hướng về phía phương trời mờ mịt. Từ trạng thái ngạc nhiên đến hụt hẫng:
Sao đang vui vẻ ra buồn bã, Vừa mới quen nhau đã lạ lùng.
Sự đối lập giữa "vui vẻ" và "buồn bã", "quen nhau" và "lạ lùng" diễn tả sự chuyển biến tâm lý tinh tế. Nỗi nhớ bất chợt ùa về chiếm lĩnh tâm trí, khiến thực tại trở nên bẽ bàng, xa xôi.
Cường độ và chiều sâu của nỗi nhớ được đẩy lên đỉnh điểm ở hai câu luận:
Lúc nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng, Khi riêng riêng cả đến tình chung.
Nhà thơ sử dụng khéo léo các điệp từ "nhớ nhớ", "riêng riêng" để nhấn mạnh nỗi niềm ấy đã vượt qua không gian thực tại để đi vào cõi vô thức, vào cả những giấc "mộng tưởng" và chi phối toàn bộ thế giới nội tâm. Khép lại bài thơ là bức tranh tĩnh lặng đến nao lòng:
Tương tư lọ phải là mưa gió, Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng.
Tú Xương định nghĩa lại nỗi tương tư không cần đến ngoại cảnh buồn bã (mưa gió), mà nó xuất phát từ chính tâm hồn cô độc. Hình ảnh "một ngọn đèn xanh" hi hắt cùng tiếng "trống điểm thùng" giữa đêm khuya càng làm nổi bật bóng dáng lẻ loi, khắc khoải của nhà thơ.
Nhớ bạn phương trời không chỉ là tiếng lòng hoài niệm mà còn là minh chứng cho một góc tâm hồn tinh tế, sâu sắc của Tú Xương. Qua thể thơ thất ngôn bát cú uyển chuyển và ngôn ngữ biểu cảm cao độ, bài thơ mãi chạm đến cảm xúc của những ai từng trải qua nỗi đau đớn và ngọt ngào của sự xa cách.
Xem thêm >>
Ngọc Liên Nguyễn là một cây bút sở hữu hồn thơ mộc mạc, sâu lắng, mang đậm tình đời. Bài thơ “Hoa mắc cỡ” là một bức tranh dung dị nhưng đầy ám ảnh về loài hoa dại ven đường, qua đó ngợi ca phẩm chất hy sinh thầm lặng, cao cả.
Mở đầu bài thơ, tác giả khắc họa không gian sống đầy khiêm nhường của loài hoa nhỏ bé:
"Hoa nở bên lề hứng giọt sương, Tên em Mắc Cỡ mọc trên đường. Nhẹ nhàng cánh mỏng ong không thích, Dịu ngọt đài mềm bướm chẳng thương."
Nơi hoa ngự trị là chốn ven đường hoang sơ, bụi bặm; cái tên "Mắc Cỡ" gợi sự rụt rè, nép mình. Đáng thương hơn, dẫu sở hữu "cánh mỏng" nhẹ nhàng, "đài mềm" dịu ngọt, loài hoa ấy lại chịu sự thờ ơ của ong bướm – những vị khách quen của thiên nhiên. Sự hắt hủi ấy càng làm nổi bật lên vẻ đẹp cô đơn, tủi phận nhưng vô cùng trong trẻo của đóa hoa dại.
Thế nhưng, vượt lên trên sự lạnh lùng của ngoại cảnh, nội tâm của loài hoa ấy lại vô cùng phong phú và đong đầy tình cảm:
"Tháng lạnh mưa rơi lòng trộm nhớ, Đêm dài gió thổi dạ hoài vương."
Giữa những đêm dài gió thổi hay tháng lạnh mưa rơi khắc nghiệt, hai chữ "trộm nhớ", "hoài vương" cất lên như một lời thì thầm của trái tim giàu tình nghĩa. Hoa không trách cứ sự vô tình của thế gian mà vẫn hướng về cuộc đời với tất cả sự ấm áp, thủy chung.
Và giá trị cao cả nhất của loài hoa ấy được bộc lộ trọn vẹn ở hai câu cuối:
"Đem thân hiến trọn cho đời sống, Chữa bệnh yên lành khắp mọi phương."
Không màng đến danh vọng hay sự tôn vinh, hoa tự nguyện hiến dâng trọn vẹn sinh mệnh mình cho cuộc đời. Bằng sự tinh tế, tác giả đã khéo léo lồng ghép công dụng thực tế của cây mắc cỡ (trinh nữ) trong y học dân gian – một vị thuốc chữa bệnh cứu người. Khổ thơ là biểu tượng sáng ngời cho tinh thần vị tha, cống hiến âm thầm mà mãnh liệt.
Khép lại bài thơ bằng thể thơ bảy chữ nhịp nhàng cùng ngôn ngữ giản dị, Ngọc Liên Nguyễn đã chạm đến tâm hồn người đọc. “Hoa mắc cỡ” không chỉ là bức chân dung thiên nhiên mà còn là bài học nhân sinh sâu sắc về lối sống khiêm nhường, biết hy sinh và dâng hiến trọn vẹn cho cuộc đời.
Xem thêm >>
Bài viết được xem nhiều nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích nội dung nghệ thuật của bài thơ Tức cảnh chiều thu của Bà Huyện Thanh Quan hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà (Nguyễn Khuyến) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Vịnh khoa thi hương (Trần Tế Xương) hay nhất
- Top 45 Bài văn trình bày suy nghĩ về người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua các bài thơ Bánh trôi nước, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và bài Thương vợ của Trần Tế Xương hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Chiều xuân ở thôn Trừng Mại (Nguyễn Bảo) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Quả ngọt cuối mùa (Võ Thanh An) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Tháng ba của Duy Hậu hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa (Nguyễn Duy) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Việt Nam quê hương ta (Nguyễn Đình Thi) hay nhất
- Top 45 Bài văn nghị luận phân tích bài thơ Côn sơn ca (Nguyễn Trãi) hay nhất



Danh sách bình luận