content-pc content-tablet content-mobile

200+ bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ lục bát

Anh (chị) hãy viết một văn bản nghị luận phân tích, đánh giá về nội dung nghệ thuật của bài thơ Tết quê (Nguyễn Giang San)

Mỗi dịp Tết đến xuân về, hồn người lại xao xuyến hướng về những giá trị truyền thống bền chặt nơi chốn thôn quê. Đoạn thơ trong bài "Tết quê" của nhà thơ Nguyễn Giang San đã tái hiện thành công một không gian Tết mộc mạc, ấm áp, đậm đà tình quê qua ngòi bút đượm buồn hoài niệm mà vô cùng sâu lắng:

"Bà tôi ở một túp nhà tre. Có một hàng cau chạy trước hè, Một mảnh vườn bên rào giậu nứa. Xuân về hoa cải nở vàng hoe.

Khổ thơ đầu mở ra không gian sống nghèo khó nhưng thanh bình của người bà qua hình ảnh "túp nhà tre", "hàng cau", "rào giậu nứa". Giữa khung cảnh ấy, điểm nhấn "Xuân về hoa cải nở vàng hoe" làm bừng sáng cả bức tranh quê với sắc vàng dịu nhẹ, e ấp. 

Gạo nếp ngày xuân gói bánh chưng, Cả đêm cuối chạp nướng than hồng. Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn, Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông."

Sang khổ thơ thứ hai, không khí chuẩn bị Tết hiện lên náo nức, rộn ràng hơn. Đó là hương vị quen thuộc của "Gạo nếp ngày xuân", ánh lửa từ "đêm cuối chạp nướng than hồng" bên nồi bánh chưng sum vầy. Bức tranh sinh hoạt càng thêm trọn vẹn với những nét văn hóa dân gian truyền thống: "Quần đào, áo đỏ, tranh gà lợn" rực rỡ sắc màu bên mâm cỗ Tết "Cơm tám, dưa hành, thịt mỡ đông".

Bằng thể thơ linh hoạt, hệ thống từ ngữ dung dị, giàu sức gợi kết hợp nghệ thuật liệt kê tài tình, Nguyễn Giang San đã khéo léo đánh thức những ký ức đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc. Đoạn thơ không chỉ là bức tranh phong cảnh sinh động mà còn là khúc ca ngợi tình yêu quê hương, cội nguồn sâu nặng.

Xem thêm >>

Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Em yêu Tổ quốc của em (Nguyễn Lãm Thắng)

Tình yêu quê hương đất nước luôn là nguồn cảm hứng vô tận trong thơ ca Việt Nam. Viết về đề tài quen thuộc ấy bằng thể thơ năm chữ trong trẻo, nhịp nhàng, nhà thơ Nguyễn Lãm Thắng đã mang đến bài thơ “Em yêu Tổ quốc của em” một bức tranh non sông tươi đẹp, giàu bản sắc và vô cùng thiêng liêng.

Mở đầu bài thơ, bức tranh làng quê hiện lên thật bình dị, nên thơ và đậm đà tình nghĩa qua những hình ảnh quen thuộc của đồng quê:

“Em yêu Tổ quốc của em Có đồng lúa biếc, có miền dừa xanh Có hoa thơm, có trái lành Có dòng sông soi bóng vành trăng yêu”

Điệp từ "có" kết hợp với các hình ảnh "đồng lúa biếc", "miền dừa xanh", "dòng sông" gợi ra một không gian thanh bình, trù phú. Không chỉ dừng lại ở cảnh vật, hồn quê còn thấm đượm trong âm thanh "bờ tre cõng tiếng sáo diều" và những giai điệu ngọt ngào của "dân ca", "ca dao". Tất cả nuôi dưỡng tâm hồn con người bằng sự nồng ấm, yên bình.

Không gian nghệ thuật ấy được mở rộng ra với vẻ đẹp hùng vĩ, khoáng đạt của núi rừng và biển đảo Tổ quốc:

“Dãy Trường Sơn ngun ngút cao Mây chen lá, suối rì rào hát ca [...] Biển Đông khẳm những chuyến tàu Đầy khoang cá nặng hẹn nhau ngày về”

Dãy Trường Sơn sừng sững, oai nghiêm hòa quyện với mây ngàn và tiếng suối reo ca tạo nên một bản hùng ca thiên nhiên tuyệt mỹ. Trong khi đó, miền biển Đông lại rộn rã sức sống với những chuyến tàu khẳm lừng, khoang cá nặng trĩu và "cánh buồm căng gió". Thiên nhiên đất nước vừa lớn lao, hùng vĩ, lại vừa gần gũi, giàu có và tràn đầy hy vọng.

Gấp lại bài thơ, mạch cảm xúc dâng trào đến đỉnh điểm ở khổ thơ cuối, ngợi ca truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc:

“Dọc ngang biết mấy nẻo đường Thắm trang sử Việt, rạng chương anh hùng Bao nhiêu chiến thắng lẫy lừng Làm nên Tổ quốc kiêu hùng hôm nay.”

Trên mỗi nẻo đường đất nước đi qua, ta đều bắt gặp dấu ấn của cha ông. Những trang sử vàng chói lọi và "bao nhiêu chiến thắng lẫy lừng" chính là bệ phóng vững chắc làm nên một Việt Nam "kiêu hùng" thời đại mới.

Bằng thể thơ năm chữ nhịp nhàng, hình ảnh giàu sức gợi cùng ngôn ngữ trong sáng, bài thơ “Em yêu Tổ quốc của em” của Nguyễn Lãm Thắng không chỉ khắc họa thành công vẻ đẹp muôn màu của non sông mà còn bồi đắp trong lòng người đọc niềm tự hào dân tộc sâu sắc.

Xem thêm >>

Viết bài văn phân tích bài thơ Về thăm mẹ của nhà thơ Thương Nam Khương

Bài thơ "Về thăm mẹ" của Đinh Nam Khương là một khúc ca trầm lắng, xúc động về tình mẫu tử thiêng liêng. Chỉ qua vài nét phác họa, tác giả đã tái hiện thành công hình ảnh người mẹ nghèo tần tảo và nỗi lòng nghẹn ngào của người con khi trở về thăm nhà.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh quạnh hiu, vắng lặng của ngôi nhà trong một buổi chiều đông:

"Con về thăm mẹ chiều đông Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà Mình con thơ thẩn vào ra Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi."

Bước chân trở về của người con không gặp nụ cười đón chào hay làn khói bếp ấm áp, mà đối diện với sự trống trải. Từ láy "thơ thẩn" diễn tả sự hụt hâng, ngác ngơ, kết hợp với cơn mưa bất chợt ("bỗng òa mưa rơi") như trút cả nỗi niềm ngổn ngang, chạnh lòng vào không gian.

Không gian ấy càng thêm hoang vắng khi hiện lên qua những vật dụng cũ kỹ, mòn mỏi theo thời gian:

"Chum tương mẹ đã đậy rồi Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa Áo tơi qua buổi cày bừa Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm."

Nhà thơ sử dụng nghệ thuật nhân hóa vô cùng tinh tế. Chiếc nón mê, chiếc áo tơi vốn là vật vô tri giờ đây như mang nỗi nhọc nhằn, dãi dầu mưa nắng của đời mẹ. Giữa cái nghèo khó ấy, điểm sáng duy nhất là sự sống sinh động của "đàn gà mới nở vàng ươm / Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành". Đặc biệt, hình ảnh "trái na cuối vụ mẹ dành phần con" chính là đỉnh điểm của sự xúc động. Trái na dân dã, nhỏ nhoi chứa đựng biết bao tình yêu thương và sự chắt chiu thầm lặng của mẹ.

Khép lại bài thơ là những vần thơ đong đầy cảm xúc:

"Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn... Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày."

Dấu chấm lửng cùng từ "nghẹn ngào", "rưng rưng" đã gói gọn tất cả sự thấu hiểu, lòng biết ơn sâu sắc. "Về thăm mẹ" không chỉ là nỗi nhớ nhung da diết mà còn là bài học nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng từng phút giây bên đấng sinh thành.

Xem thêm >>

Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Nước non ngàn dặm (Tố Hữu)

Mở đầu sự nghiệp thơ ca cách mạng, Tố Hữu luôn gắn liền ngòi bút với vận mệnh của dân tộc. Bài thơ "Nước non ngàn dặm" (1973) là một khúc tráng ca hào hùng ghi lại chuyến hành trình từ Bắc chí Nam sau Hiệp định Pa-ri. Tác phẩm không chỉ là nhật ký hành trình mà còn là biểu tượng rực rỡ của lòng yêu nước và ý chí thống nhất non sông.

Mở đầu bài thơ là cảm xúc bồi hồi, xúc động nghẹn ngào của người con xa quê sau mười tám năm chia cắt:

"Sông Bến Hải bên bồi bên lở Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương Cách ngăn mười tám năm trường Khi mô mới được nối đường vô ra?"

Đi qua vùng đất Quảng Trị - Trị Thiên đau thương, nhà thơ tận mắt chứng kiến những vết tích chiến tranh tàn khốc: "Bời bời cỏ lút đồng hoang / Chim kêu cành cụt, chang chang nắng cồn". Thế nhưng, vượt lên trên tro tàn đổ nát ấy là mầm sống mãnh liệt trỗi dậy. Khung cảnh đổi thay với "con thuyền nay đã đỏ cờ sang sông", tiếng máy reo vui và hình ảnh những con người hiên ngang, kiên cường bám trụ.

Tiếp nối hành trình, hình ảnh dãy Trường Sơn kỳ vĩ hiện lên như một tượng đài bất tử về tinh thần kháng chiến. Tố Hữu đã tạc vào lịch sử những câu thơ hào sảng:

"Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng. Trường Sơn, vượt núi, băng sông Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa."

Đến với Tây Nguyên và miền Nam thành đồng, nhà thơ hòa mình vào không khí chiến thắng sục sôi. Những địa danh quen thuộc cùng hình ảnh quân dân đoàn kết keo sơn: "Cắn đôi hạt muối, chung đời cháo rau / Uống cùng viên thuốc chia đau". Miền Nam hiện lên ngọt ngào qua hình ảnh người mẹ, câu hò và khát vọng hòa bình cháy bỏng.

Khép lại bài thơ là niềm tin mãnh liệt vào ngày mai tươi sáng của đất nước. "Nước non ngàn dặm" là bản tình ca tuyệt đẹp về nghĩa tình đồng bào, đồng chí, khẳng định chân lý: Dù trải qua muôn vàn gian khổ, non sông Việt Nam nhất định sẽ thu về một mối.

Xem thêm >>

Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) phân tích, đánh giá bài thơ Lục bát yêu thương của Dạ Quỳnh

Có những vần thơ không tìm đến những điều lớn lao mà lặng lẽ chạm vào miền ký ức sâu thẳm nhất của con người. “Lục bát yêu thương” của Dạ Quỳnh là một khúc tâm tình da diết về công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, đồng thời là lời nhắc nhở mỗi người hãy biết trân quý những yêu thương bình dị trong cuộc đời.

Mở đầu bài thơ là dòng hồi tưởng thiết tha của người con: “Cho con về lại ngày xưa / Tìm hình dáng mẹ nắng mưa bốn mùa”. Điệp ngữ “ngày xưa” gợi miền ký ức thân thương, nơi hình ảnh người mẹ hiện lên trong dáng vẻ lam lũ, tảo tần. Những câu thơ “Vai gầy gánh buổi chợ trưa / Áo nâu ướt đẫm chẳng chừa chỗ khô” đã khắc họa chân thực biết bao nhọc nhằn mà mẹ âm thầm gánh chịu vì con. Nếu mẹ hiện lên qua sự hy sinh nơi mái nhà, thì cha lại gắn với không gian đồng ruộng: “Bóng cha đổ xuống những bờ mương xanh”. Hình ảnh ấy vừa bình dị vừa giàu sức gợi, biểu tượng cho sự cần cù, bền bỉ của người cha trong hành trình vun đắp cuộc sống gia đình. Từ những giọt mồ hôi của cha mẹ, “hoa trái ngọt lành” được kết tinh thành “cơm cha, áo mẹ”, nuôi dưỡng và nâng đỡ cuộc đời con khôn lớn.

Mạch cảm xúc tiếp tục lắng sâu khi người con nhận ra dấu vết thời gian trên gương mặt mẹ. “Má thắm môi son phai màu”, “vệt thời gian thẳm hằn sâu” không chỉ diễn tả sự đổi thay của tuổi tác mà còn gợi lên nỗi xót xa trước bước đi nghiệt ngã của thời gian. Tiếng gọi “Mẹ ơi!” vang lên đầy nghẹn ngào, chứa đựng tình yêu thương cùng nỗi lo sợ mất mát. Đến câu thơ cuối, cảm xúc được nâng lên thành sự khẳng định chân thành: “Ngoài kia rộng lớn biển khơi / Chẳng bằng cha mẹ... đất trời yêu thương”. Cha mẹ trở thành điểm tựa thiêng liêng, là bầu trời bao la chở che cho mỗi cuộc đời.

Viết bằng thể thơ lục bát truyền thống, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi, Dạ Quỳnh đã tạo nên một bài ca thấm đẫm nghĩa tình gia đình. Những câu thơ như ngọn lửa ấm áp thắp sáng trong lòng người đọc niềm biết ơn đối với đấng sinh thành, để mỗi chúng ta thêm trân trọng những yêu thương đang hiện hữu quanh mình.

Xem thêm >>

Cảm nhận của em về đoạn thơ "Đời cha ông với đời tôi/...Cho tôi nhận mặt ông cha của mình" trong bài thơ Chuyện cổ nước mình (Lâm Thị Mỹ Dạ)

Kho tàng ca dao, truyện cổ dân gian luôn là mạch nguồn mát lành nuôi dưỡng tâm hồn người Việt. Bằng ngọn bút đằm thắm và giàu chất triết lý, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trong bài Chuyện cổ nước mình đã để lại những vần thơ kết bài vô cùng sâu lắng, đặc biệt là khổ thơ:

"Đời cha ông với đời tôi Như cha ông với chân trời đã xa Chỉ còn chuyện cổ thiết tha Cho tôi nhận mặt ông cha của mình"

Mở đầu đoạn thơ, tác giả đặt hai thế hệ vào một biên độ thời gian rộng lớn: "Đời cha ông với đời tôi / Như cha ông với chân trời đã xa". Biện pháp so sánh kết hợp hình ảnh không gian "chân trời đã xa" gợi cảm giác vời vợi, mờ khuất của thời gian quá khứ. Khoảng cách giữa các thế hệ tưởng như vô tận, đứt gãy nếu chỉ nhìn qua bề dày lịch sử.

Thế nhưng, khoảng cách ấy đã được lấp đầy bằng một nhịp cầu kỳ diệu: "Chỉ còn chuyện cổ thiết tha". Từ "chỉ còn" mang âm hưởng khẳng định đầy xúc động. Dù thời gian trôi đi, vật đổi sao dời, những trang sử cũ có thể phai mờ, nhưng truyện cổ vẫn trường tồn với vẻ đẹp "thiết tha". Đó là hơi ấm của tình người, là bài học đạo đức về lòng nhân ái, sự ở hiền gặp lành mà cha ông gửi gắm.

Chính nhờ sợi dây vô hình ấy, thế hệ hôm nay mới có thể thấu hiểu cội nguồn: "Cho tôi nhận mặt ông cha của mình". Cụm từ "nhận mặt" không đơn thuần là nhận diện hình hài, mà sâu xa hơn là thấu cảm tâm hồn, đạo lý, cốt cách cao đẹp của thế hệ đi trước. Tóm lại, đoạn thơ không chỉ là lời tri ân quá khứ mà còn là lời nhắc nhở thế hệ trẻ biết trân quý, gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống thiêng liêng của dân tộc.

Xem thêm >>

Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Côn sơn ca (Nguyễn Trãi)

Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà chiến lược thiên tài mà còn là một danh nhân văn hóa với tâm hồn thi sĩ rộng mở. Bài thơ "Côn Sơn ca" (Bài ca Côn Sơn) được ông sáng tác khi cáo quan về ở ẩn, ghi lại khung cảnh thiên nhiên thanh bình và triết lý sống cao đẹp. Tác phẩm là khúc ca tuyệt xướng tôn vinh vẻ đẹp sơn thủy và nhân cách thanh cao của bậc trí sĩ.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi đã vẽ nên bức tranh Côn Sơn sống động và đầy chất thơ thông qua các giác quan tinh tế:

"Côn Sơn hữu tuyền, / Kỳ thanh lãnh lãnh nhiên, / Ngô dĩ vi cầm huyền. / Côn Sơn hữu thạch, / Vũ tẩy đài phô bích, / Ngô dĩ vi đan tịch. / Nham trung hữu tùng, / Vạn lí thuý đồng đồng, / Ngô ư thị hồ yển tức kì trung. / Lâm trung hữu trúc, / Thiên mẫu ấn hàn lục, / Ngô ư thị hồ ngâm tiêu kỳ trắc."

Bằng nghệ thuật so sánh và điệp từ, tiếng suối chảy rì rầm được cảm nhận như tiếng đàn cầm trong trẻo, đá rêu xanh mượt được coi như chiếc chiếu êm ái. Rừng tùng xanh muôn dặm cùng ngàn mẫu trúc biếc rợp bóng trở thành nơi thi nhân nghỉ ngơi, thổi sáo, ngâm thơ. Đại từ "Ngô" (Ta) xuất hiện liên tục khẳng định sự hòa quyện trọn vẹn giữa con người và thiên nhiên Côn Sơn.

Từ cảnh thiên nhiên thanh bình, nhà thơ tự vấn và chiêm nghiệm về lẽ sống giữa chốn trần ai:

"Vấn quân hà bất quy khứ lai, / Bán sinh trần thổ trường giao cốc? / Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên, / Ẩm thuỷ phạn sơ tuỳ phận túc. / Quân bất kiến: Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ, / Nguyên Tái hồ tiêu bát bách hộc. / Hựu bất kiến: Bá Di dữ Thúc Tề, / Thú Dương ngạ tử bất thực túc?"

Lời tự hỏi sao không sớm lui về ở ẩn là sự bừng tỉnh trước những vướng bận danh lợi. Tác giả khẳng định quan niệm "tri túc" (biết đủ): không cần giàu sang "vạn chung cửu đỉnh", chỉ cần uống nước trong, ăn cơm rau đơn sơ mà lòng thanh thản. Mượn điển tích Đổng Trác, Nguyên Tái tham lam mà chết thảm, đối lập với Bá Di, Thúc Tề giữ trọn khí tiết ở núi Thú Dương, Nguyễn Trãi nhấn mạnh rằng tiền tài chỉ là vật ngoại thân, nhân cách mới là giá trị vĩnh cửu.

Cuối cùng, bài thơ khép lại bằng triết lý nhân sinh sâu sắc về kiếp người trước quy luật thời gian:

"Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu, / Diệc các tự cầu kì sở dục. / Nhân sinh bách tuế nội, / Tất cánh đồng thảo mộc. / Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai, / Nhất vinh nhất tạ hoàn tương tục. / Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên, / Tử hậu thuỳ vinh cánh thuỳ nhục. / Nhân gian nhược hữu Sào Do đồ, / Khuyến cừ thính ngã sơn trung khúc."

Con người dẫu hiền hay ngu, giàu hay nghèo thì trong vòng trăm năm cũng như cây cỏ, rồi sẽ trở về với cát bụi. Vinh - nhục, vui - buồn nối tiếp nhau như quy luật sinh - diệt của tự nhiên. Khúc ca khép lại bằng lời mời gọi những tâm hồn thanh cao như Sào Phủ, Hứa Do xưa cùng lắng nghe "sơn trung khúc" để tìm kiếm sự tri âm, tri kỷ nơi núi rừng.

"Côn Sơn ca" là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp gắn liền với tâm hồn thanh cao, phóng khoáng của Nguyễn Trãi. Bằng thể thơ ngẫu xướng linh hoạt, hình ảnh giàu sức gợi và các điển tích đắt giá, bài thơ đã để lại bài học nhân sinh sâu sắc về lòng biết đủ và khát vọng sống hòa hợp với thiên nhiên.

Xem thêm >>

Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Việt Nam quê hương ta (Nguyễn Đình Thi)

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi với hồn thơ nhạy cảm, sâu lắng đã để lại cho nền văn học Việt Nam nhiều tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu là đoạn trích trong bài thơ "Việt Nam quê hương ta". Tác phẩm là bức tranh tuyệt mỹ về thiên nhiên tươi đẹp, truyền thống anh hùng và vẻ đẹp tài hoa của con người Việt Nam.

Mở đầu bài thơ, tác giả vẽ nên một không gian quê hương vừa khoáng đạt vừa thân thương:

"Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều"

Bức tranh thiên nhiên hiện lên với "biển lúa" mênh mông, "cánh cò" bay lả và đỉnh "Trường Sơn" hùng vĩ, gợi nhắc một dải đất vừa nên thơ vừa tráng lệ. Gắn liền với thiên nhiên ấy là con người Việt Nam lao động vất vả nhưng vô cùng kiên cường. Dù trải qua đau thương, áo nâu nhuộm bùn mộc mạc, họ vẫn đứng lên chiến đấu bảo vệ tổ quốc:

"Đất nghèo nuôi những anh hùng Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên Đạp quân thù xuống đất đen Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa"

Bên cạnh tinh thần bất khuất, người Việt Nam còn hiện lên với nét đẹp tài hoa và đời sống tâm hồn phong phú. Đôi bàn tay lao động khéo léo biến những thứ giản dị thành nghệ thuật: "Tay người như có phép tiên / Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ". Sự hòa quyện giữa thiên nhiên, lịch sử và văn hóa đã làm nên sức sống trường tồn của dân tộc.

Khép lại bài thơ, Nguyễn Đình Thi đã khơi gợi trong lòng người đọc niềm tự hào sâu sắc về cội nguồn. "Việt Nam quê hương ta" mãi là khúc ca bất tử ca ngợi non sông gấm vóc và con người Việt Nam anh dũng, nghĩa tình.

Xem thêm >>

Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa (Nguyễn Duy)

Nguyễn Duy là nhà thơ có hồn thơ đượm đà tình nghĩa, luôn gắn bó thiết tha với cội nguồn dân gian. Viết tại Sài Gòn mùa thu năm 1986, bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” là một tiếng lòng hoài niệm sâu sắc, tôn vinh hình tượng người mẹ tần tảo và giá trị của tình mẫu tử thiêng liêng.

Ngay từ những câu thơ đầu, không gian tưởng niệm và ký ức hiện lên thật đỗi xót xa, thành kính:

“Bần thần hương huệ thơm đêm khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn chân nhang lấm láp tro tàn xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào”

Hình ảnh người mẹ không lụa là đài cát mà rất đỗi mộc mạc, chân chất của làng quê:

“Mẹ ta không có yếm đào nón mê thay nón quai thao đội đầu rối ren tay bí tay bầu váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa”

Đôi bàn tay "rối ren" cùng chiếc váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu đã khắc họa trọn vẹn một đời mẹ nhọc nhằn, dãi dầu mưa nắng vì con.

Không chỉ nuôi dưỡng thể xác, mẹ còn bồi đắp tâm hồn con qua những lời ru mang đậm hồn dân tộc:

“Cái cò... sung chát đào chua... câu ca mẹ hát gió đưa về trời ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”

Từ đó, nhà thơ đúc kết nên một triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc: "sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn". Lời ru của mẹ, tình yêu thương của mẹ chính là chiếc nôi bình yên chở che con suốt cuộc đời.

Đỉnh điểm của niềm xúc động và lòng biết ơn dâng trào ở những câu thơ cuối:

“Lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm xưa ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương...”

Chi tiết "chỗ ướt mẹ nằm" gợi nhắc sự hy sinh thầm lặng: nhường chỗ khô ráo cho con, ôm phần gian khổ về mình. Hành động nhai cơm búng, lừa cá xương càng tô đậm tình mẫu tử vô biên, thiêng liêng tột cùng.

Khép lại bằng giọng điệu trầm lắng, bài thơ như một khúc ca tri ân sâu lắng. Tác phẩm đã đánh thức trong tâm hồn người đọc lòng biết ơn vô hạn đối với đấng sinh thành và cội nguồn dân gian cao đẹp.

Xem thêm >>

Viết bài văn trình bày cảm nhận của em về bài thơ Tháng ba của Duy Hậu

Tháng Ba luôn gợi lên trong tâm thức người Việt những nỗi niềm giao mùa vô cùng sâu lắng. Bài thơ "Tháng ba" của nhà thơ Duy Hậu là một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, sinh động, đồng thời là khúc ca về nhịp sống tràn trề nhựa sống của đất trời lúc xuân sang hè tới.

Ngay từ khổ thơ đầu, không gian giao mùa đã hiện lên qua những tín hiệu vô cùng tinh tế:

Tháng Ba mùi hương trời đất Phảng phất theo gió đưa về Loay hoay thời gian úp mở Giao thoa điểm nhấn xuân hè.

Tác giả mở giác quan đón nhận "mùi hương trời đất" phảng phất trong gió. Phép nhân hóa "loay hoay thời gian úp mở" diễn tả nhịp chuyển động bịn rịn, chậm rãi của thiên nhiên khi bước sang cột mốc giao hòa xuân - hạ. Sang đến khổ thơ thứ hai, bức tranh ấy bừng sáng với những gam màu rực rỡ đặc trưng của làng quê Việt Nam:

Thi thoảng nồng nàn hoa gạo Bừng bừng sắc đỏ đường quê Mơn mởn lúa thì con gái Tung tăng trong nắng xuân hè.

Sắc đỏ bừng bừng của hoa gạo hòa quyện cùng sắc xanh mơn mởn của cánh đồng lúa non tạo nên một diện mạo đầy sức sống. Nhịp thơ nhanh, kết hợp với các từ láy giàu sức gợi hình gợi cảm giúp không gian trở nên tươi vui, rộn ràng.

Không chỉ dừng lại ở thiên nhiên, nhịp sống con người cũng hòa chung vào bức tranh ấy qua dư âm ngày hội và nét se lạnh cuối xuân với "gió chiều chạm se vai áo" và chút "rét nàng Bân" muộn màng. Bài thơ khép lại bằng khúc chuyển mùa đượm buồn nhưng đầy xao xuyến:

Tháng Ba tiễn người đứng đợi Lớt phớt mưa bụi nhạt nhoà Hương xoan nức trời thương nhớ Gọi mùa xao xuyến tháng Ba...

Hình ảnh "hương xoan nức trời thương nhớ" cùng cơn mưa bụi nhạt nhòa đã đọng lại trong lòng người đọc những dư âm bồi hồi khôn nguôi.

Khép lại bài thơ, Duy Hậu đã thành công vẽ nên một bức tranh tháng Ba vừa sinh động vừa đượm hồn người. Tác phẩm không chỉ bộc lộ tình yêu thiên nhiên thiết tha mà còn đánh thức trong tâm hồn chúng ta những hoài niệm đẹp đẽ về quê hương.

Xem thêm >>

Viết bài văn trình bày cảm nhận của em về bài thơ Quả ngọt cuối mùa (Võ Thanh An)

Bài thơ "Quả ngọt cuối mùa" của Võ Thanh An mở ra một không gian làng quê bình yên nhưng đượm buồn, nơi có hình bóng người bà mỏi mòn ngóng trông con cháu. Bức tranh ấy được khắc họa qua sự chăm chút tỉ mẩn dành cho chùm cam cuối vụ:

Trong vòm lá mới chồi non Chùm cam bà giữ vẫn còn đung đưa Quả ngon dành tận cuối mùa Chờ con, phần cháu bà chưa trảy vào

Ngay từ những câu thơ đầu, hình ảnh chùm cam hiện lên như một kết tinh của lòng người. Bà không hái ăn, không bán, mà "giữ vẫn còn đung đưa" để "dành tận cuối mùa". Đó là sự chắt chiu, là tình mẫu tử, bà cháu thiêng liêng.

Sự nhọc nhằn, lo toan của tuổi già càng được khắc họa rõ nét hơn qua thử thách của thời gian và thiên nhiên:

Giêng, hai rét cứa như dao Nghe tiếng chào mào chống gậy ra trông Nom đoài rồi lại ngắm đông Bề lo sương táp, bề phòng chim ăn

Cái lạnh "rét cứa như dao" của tháng Giêng, tháng Hai không chỉ làm tê tái da thịt mà còn cào cấu vào lòng người ngóng chờ. Hình ảnh người bà "chống gậy ra trông", "nom đoài rồi lại ngắm đông" diễn tả chân thực sự sốt ruột, lo lắng khôn nguôi. Bà sợ sương muối làm táp quả, sợ chim chóc ăn mất phần thành quả mà bà đã dành dụm cho con cháu phương xa.

Đỉnh điểm của cảm xúc dồn nén vào khổ thơ cuối, nơi vẻ đẹp của chùm cam hòa quyện trọn vẹn với vẻ đẹp tâm hồn người bà:

Quả vàng nằm giữa cành xuân Mải mê góp mật, chuyên cần toả hương Bà ơi! Thương mấy là thương Vắng con, xa cháu tóc sương da mồi Bà như quả ngọt chín rồi Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng

Biện pháp nhân hóa "mải mê góp mật, chuyên cần toả hương" ca ngợi sức sống bền bỉ của chùm cam cũng chính là ẩn dụ cho sự hy sinh thầm lặng của đời bà. Câu cảm thán "Bà ơi! Thương mấy là thương" bật lên từ đáy lòng người cháu đầy nghẹn ngào. Khép lại bài thơ là hình ảnh so sánh đẹp đẽ: bà chính là "quả ngọt chín rồi". 

Thời gian có thể làm cho "tóc sương da mồi", nhưng không thể làm phai mờ đi phẩm chất cao đẹp. Càng qua năm tháng, "lòng vàng" của bà lại càng ngời sáng, tỏa rạng thứ ánh sáng ấm áp của tình thương bao la.

Xem thêm >>

BÌNH LUẬN

Danh sách bình luận

Đang tải bình luận...


Gửi bài tập - Có ngay lời giải