Soạn bài: Ca dao hài hước trang 90 SGK Ngữ văn 10


Ca dao hài hước là một bộ phận quan trọng trong kho tàng ca dao Việt Nam. Bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh, ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, niềm tin vào cuộc sống của nhân dân lao động cho dù cuộc đời còn nhiều gian truân.

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Vài nét về ca dao hài hước:

a. Ca dao hài hước là một bộ phận quan trọng trong kho tàng ca dao Việt Nam. Bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh, ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, niềm tin vào cuộc sông của nhân dân lao động cho dù cuộc đời còn nhiều gian truân.

b. Có hai loại ca dao hài hước

- Tiếng cười hài hước tự trào; Là người lao động lấy cái nghèo của mình ra để tự cưòi mình, thi vị hóa cảnh nghèo. Có nghĩa là họ đã vượt lên cao hơn cảnh nghèo để lạc quan vui sống. Là tiếng cười vui cửa, vui nhà rất cần trong cuộc sống còn vất vả lo toan bộn bề và cũng rất phù hợp vối đặc tính hài hước, ưu trào lộng của nhân dân ta.

- Tiếng cười mua vui giải trí: Có sự chọn lọc những chi tiết điển hình, hư cấu dựng cảnh tài tình, cường điệu phóng đại... để tạo ra những nét hài hước hóm hỉnh.

Mục đích của ca dao hài hước là tạo ra tiếng cười giải trí mua vui, nhưng có nhiều trường hợp dùng tiếng cười để chế giễu những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân cũng như để phê phán, đả kích những hạng người xấu trong xã hội.

2. Về nghệ thuật

HS nắm được một số biện pháp nghệ thuật của ca dao hài hưốc như phóng đại đốì lập, chơi chữ... tích lũy vôn bằng cách thuộc lòng một sô' bài ca dao hài hước.

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

1. Đọc bài ca 1 và trả lời các câu hỏi 1 - (Trong SGK, trang 91)

Bài ca được đặt trong thể đối đáp của chàng trai và cô gái. Cả hai đều nói đùa, nói vui. Nhưng cách nói lại giàu ý nghĩa về cuộc sông con người. Trong cuộc sống trai gái lấy nhau, hai gia đình ưng thuận thường có chuyện thách và dẫn cưới. Trong bài ca này cả dẫn và thách cưới có cái gì không bình thường.

- Bên dẫn cưới (nhà trai) đem đến "một con chuột béo" miễn là có thú bốn chân"; còn nhà gái lại thách cưới bằng "một nhà khoai lang".

Trong bài ca dao này, cả chàng trai và cô gái đều tập trung trào lộng cảnh nghèo của nhà mình. Tiếng cười tự trào có phần chua chát, nhưng vui vẻ, hài hước, rất hóm hỉnh, thể hiện tinh thần lạc quan trong cuộc sông của người lao động.

- Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá, đối chọi (tương phản) để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.

- Trước hết là nghệ thuật tương phản giữa ý định vối thực tế: chàng trai có nhiều dự định cao sang trong việc dẫn cưới, nhưng chỉ vi nghèo nên đã đưa ra đủ lý do để thoái thác, cuối cùng chỉ dẫn tới một thực tê hết sức trái ngược: đó là dẫn cưới chỉ bằng "một con chuột béo". Trong lời cô gái cũng có nghệ thuật tương phản: "Người ta thách lợn, thách gà - Nhà em thách cưới một nhà khoai lang".

Biện pháp nói quá trong cả hai lời dẫn cưới và thách cưới. Trong thực tế chẳng có ai dẫn cười bằng "chuột" và cũng không có ai thách cưối bằng "khoai lang". Cách nói quá ở đây cốt để nhấn mạnh cái nghèo và để tạo nên tiếng cười hóm hỉnh, đáng yêu.

2. Đọc các bài ca số 2, 3, 4 và trả lời câu hỏi 2 (SGK, tr. 91)

Tiếng cười trong các bài ca dao này khác với bài 1 về tính phê phán và tự trào.

Bài 1. Là tiếng cười tự trào (cười mình), còn với các bài sau, đối tượng cười không phải là chính mình.

Bài 2. Đối tượng châm biếm là bậc nam nhi yếu đuối, không đáng sức trai. Thủ pháp nghệ thuật của bài ca này là sự kết hợp giữa đôi lập và cách nói ngoa dụ. Đốì lập hay còn gọi là tương phản "làm trai", "sức trai" xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan" hoặc "làm trai quyết chí tang bồng, sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam". Ở đây đối lập với "làm trai" và "sức trai" là "Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng". Cách nói ngoa dụ thường là phóng đại, tô đậm các hiện tượng châm biếm "khom lưng chống gối" ấy như thế nào mọi ngưòi đã rõ.

Bài 3. Đối tượng châm biếm là đức ông chồng vô tích sự, lưòi nhác, không có chí lớn. Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản (giữa "chồng người" với "chồng em"), và cũng có cả biện pháp nói quá (có ông chồng nào hèn yếu đến nỗi chỉ biết "ngồi bếp" để "sờ đuôi con mèo". Tác giả dân gian đã tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao cho một loại đàn ông èo uột, lưòi nhác, ăn bám vợ. Có thể tìm thấy một số bài ca dao có nội dung tương tự:

Chồng người lội suối trèo đèo

Chồng tôi cầm đũa đuổi mèo quanh mâm

Bài 4. Cũng dùng biện pháp nói quá nhưng là 2 lần nói quá (đồng nói quá): vừa nói quá về cái xấu của cô vợ, lại vừa nói quá về tình yêu mù quáng của ông chồng. Cái hấp dẫn của màn hài hước này là ở chỗ sự cường điệu diễn ra song hành, không có điểm dừng, cho thấy tình yêu của anh chồng cũng mù quáng không có điểm dừng.

3. Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước

Ca dao hài hước thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: đối chọi (tương phản), nói ngược (phản ngữ), nói quá (cường điệu)...






>>Học trực tuyến lớp 10, mọi lúc, mọi nơi cùng các thầy cô giỏi nổi tiếng, dạy hay dễ hiểu