Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?


Quá trình hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới Trước đổi mới, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, hành chính và bao cấp, do đó đã nhận thức không đúng về cơ chế thị trường, về sản xuất hàng hoá và vai trò của các thành phần kinh tế.

1. Quá trình hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới

Trước đổi mới, nền kinh tế vận hành theo cơ chế  kế hoạch hoá, tập trung, hành chính và bao cấp, do đó đã nhận thức không đúng về cơ chế thị trường, về sản xuất hàng hoá và vai trò của các thành phần kinh tế.

Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới, một thời gian tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn. Đại hội VI của Đảng (1986) kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thừa nhận sự tồn lại khách quan của sản xuất hàng hoá và vai trò của thị trường. Đến Đại hội VII (1991), Đảng tiếp tục bổ sung tư duy khoa học về kinh tế hàng hoá: “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Đại hội VIII của Đảng (1996) đưa ra quan niệm mới, rất quan trọng về kinh tế hàng hóa và chủ nghĩa xã hội: "Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền vàn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng". Nhưng vào thời điểm Đại hội VIII vẫn chưa gọi là kinh tế thị trường. Như vậy, từ Đại hội VI (1986) đến hết nhiệm kỳ Đại hội VIII (2001) là thời kỳ đổi mới toàn diện, cả về cấu trúc và cơ chế vận hành của nền kinh tế với nội dung chính là nhận thức đúng hơn về kế hoạch hoá, phát triển kinh tế hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đến Đại hội IX (2001) khái niệm "kinh tế thị trường" mới chính thức được nêu trong văn kiện của Đảng "... thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa: đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"và xem đó là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Như vậy, lần đầu tiên sau 15 năm đổi mới, Đảng đã trình bày một cách sáng rõ và có hệ thống về cấu trúc tổng thể của mô hình kinh tế nước ta - đó là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với tính hướng đích, chế độ sở hữu, vai trò của các thành phần kinh tế, chế độ quản lý, chế độ phân phối, vai trò của Nhà nước... Đây là bước chuyển quan trọng từ nhận thức kinh tế thị trường như một công cụ, một cơ chế quản lý sang nhận thức mới, coi kinh tế thị trường như một chỉnh thể, là cơ sơ kinh tế của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội X (2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá...". Kế thừa tư duy Đại hội IX, Đại hội X của Đảng đã làm sáng tỏ thêm một bước nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta, gồm bốn nội dung sau:

Thứ nhất, về mục tiêu: Nhằm thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát trien sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn.

Thứ hai, về phương hướng phát triển: Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), nhiều thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) nhằm giải phóng sức sản xuất, giải phóng tiềm năng phát triển của mỗi thành phần kinh tế, mỗi cá nhân, mỗi vùng miền,... là cách để phát huy tối đa nội lực. tạo sức bật để phát triển nhanh và bền vững. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để Nhà nước điều tiết nền kinh tế, định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu, thể hiện định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

Thứ ba, về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển: tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.

Thứ tư, về định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản lý: Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tiêu chí này thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.

2. Mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

      Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X (tháng 1-2008) đã đề ra mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

      Mục tiêu cơ bản: Làm cho các thể chế phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường, thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, hội nhạp kinh tế quốc tế thành công, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ nay đến 2010, từng bước xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật bảo đảm cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển thuận lợi; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đi đôi với phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; hình thành một số tập đoàn kinh tế, các tổng công ty đa sở hữu, ápdụng mô hình quản trị hiện đại, có năng lực cạnh tranh quốc tế; đổi mới cơ bản mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công; phát triển đồng bộ, đa dạng theo định hướng thống nhất các loại thị trường cơ bản trong cả nước, từng bước liên thông với thị trường khu vực và thế giới; giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; nâng cao hơn hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội – nghề nghiệp và nhân dân trong quản lý phát triển kinh tế - xã hội.

Giai đoạn từ năm 2011 - 2020: Tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế, hoàn thành về cơ bản mục tiêu chung nêu trên.

Các quan điểm về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

-     Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế.

-    Bảo đảm tính đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế. Gắn kết hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá và bảo vệ môi trường.

-    Chủ động, tích cực với quyết tâm chính trị cao, tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng, bức xúc, đồng thời phải có bước đi vững chắc, vừa làm, vừa tổng kết, rút kinh nghiệm.

-     Kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới của nước ta: chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đàm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

-    Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một số chủ trương tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

a, Thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

-       Kinh tế thị trường là kiểu tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh. Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại, được phát triển tới trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản, nhưng tự bản thân kinh tế thị trường không phải là sản phẩm hay đặc trưng riêng có của chủ nghĩa tư bản.

-      Cần thiết sử dụng kinh tế thị trường được sử dụng làm phương tiện xây dựng chủ nghĩa xã hội; kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; là nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa chịu sự chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa.

b)      Hoàn thiện thể chế về sở hữu và các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp.

-      Hoàn thiện thể chế về sở hữu: Thừa nhận về mặt pháp lý sự tồn tại khách quan, khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như: trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước, khoáng sản...

-     Hoàn thiện thể chế về phân phối: Thể chế phân phối bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp, tạo động lực cho người lao động, doanh nghiệp và bảo đảm lợi ích quốc gia.

-    Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế.

c)    Hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường.

-    Tiếp tục hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố thị trường: Tiếp tục hoàn thiện thể chê về giá, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh; hoàn thiện khung pháp lý cho ký kết, thực hiện hợp đồng; cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển, hoàn thiện thể chế giám sát, điều tiết thị trường và xúc tiến thương mại, đầu tư, giải quyết tranh chấp.

-     Hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các loại thị trường:

+ Hoàn thiện thể chế thị trường hàng hoá, dịch vụ: Đa dạng hoá các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại, chú trọng phát triển thị trường dịch vụ. Thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư phù hợp với các cam kết quốc tế. Tăng cường kiểm tra chất lượng hàng hóa và dịch vụ, nhất là những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống nhân dân.

+ Hoàn thiện thể thế thị trường tài chính: Phái huy tốt hơn vai trò điều hành thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách cho hoạt động và phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán. Có chính sách, biện pháp đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các sản phẩm bảo hiểm.

+ Hoàn thiện thể chế thị trường bất động sản: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bất động sản, sửa đổi Luật đất đai.... làm cho các quyền về đất đai và bất động sản được vận động theo cơ chế thị trường.

+ Hoàn thiện thể chế thị trường lao động: Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách và tiền lương, tiền công, trong đó tiền lương được coi là giá cả của sức lao động hình thành theo quy luật của thị trường, dựa trên cung cầu về sức lao động.

+ Hoàn thiện thể chế thị trường công nghệ: Xây dựng đồng bộ luật pháp, cơ chế, chính sách quản lý và hỗ trợ phát triển các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học – công nghệ và nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp; đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý khoa học và công nghệ phù hợp với cơ chế thị trường. Hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý thị trường công nghệ.

d)     Hoàn thiện thể chế gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường.

Thực hiện chính sách khuyến khích làm giàu đi đôi với tích cực thực hiện giảm nghèo. Gắn giảm nghèo với đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển, coi chính sách giảm nghèo không chỉ nhằm mục tiêu ổn định mà còn tạo động lực cho sự phát triển. Xây dựng một hệ thống bảo hiểm xã hội đa dạng và linh hoạt, phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách về bảo vệ môi trường, giám sát chặt chẽ việc thực hiện: có chế tài đủ mạnh đối với các trường hợp vi phạm.

e)    Hoàn thiện thể chế về vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của các tổ chức quần chúng vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội.

-    Vai trò lảnh đạo của Đảng về kinh tế là chỉ đạo nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để xác dịnh rõ, cụ thể và đầy đủ hơn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: tổ chức tốt việc tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.

-   Đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước: Phát huy mặt tích cực và hạn chế, ngăn ngừa mặt trái của cơ chế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi để nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.

-    Nhà nước tiếp tục hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để các tổ chức dân cư, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp và của nhân dân tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát thực hiện luật pháp và các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

3.     Thành tựu, hạn chế của quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

-   Thành tựu:

Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đường lối đổi mới của Đảng đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển.

Chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế được đổi mới cơ bản. Điều đó đã tạo ra động lực và điều kiện thuận lợi cho giải phóng sức sản xuất, khai thác tiềm năng trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế xã hội.

Các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã đi vào cuộc sống. Quản lý nhà nước về kinh tế được đổi mới, chuyền từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác.

Việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả tích cực.

-              Hạn chế:

Quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta còn chậm. Chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế: hệ thống luật pháp, cơ chế,  chính sách chưa đầy đủ, đồng bộ và thống nhất; chưa lường hết tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, nhất là trong lĩnh vực xã hội đề ra biện pháp hữu hiệu hạn chế và ngăn ngừa...

Nguyên nhân của những hạn chế: Việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở

nước ta là hoàn toàn mới, phải vừa làm, vừa tổng kết, rút kinh nghiệm. Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều hạn chế. Công tác lý luận chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn. Nền kinh tế vẫn còn trong tình trạng kém phát triển; sự chênh lệch giữa các vùng, miền, các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư còn cao. Năng lực thể chế hóa và quản lý, tổ chức thực hiện của Nhà nước còn hạn chế. Vai trfo tham gia hoạch định chính sách, thực hiện và giám sát thực hiện chính sách của các tổ chức dân cư, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hộ nghề nghiệp còn yếu.

Loigiaihay.com

Bài viết liên quan