Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 10 - Đề số 10
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Ngôn chí 15
Am1 cao am thấp đặt đòi2 tầng3,
Khấp khểnh ba làn trở lại bằng4
Quét trúc bước qua lòng suối
Thưởng mai về đạp bóng trăng
Phần du5 lẽo đẽo6 thương quê cũ
Tùng cúc bù trì7 nhớ việc hằng8
Một phút thanh nhàn trong thuở ấy
Thiên kim9 ước đổi được hay chăng?.
(Ngôn chí bài 15, Nguyễn Trãi, Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, tr. 400)
Chú thích:
(1) Am: căn nhà nhỏ, nhà tranh, nơi ẩn cư
(2) Đòi: nhiều
(3) Tầng: lớp
(4) Bằng: phẳng
(5) Phần du: cây phần du, nghĩa bóng chỉ làng xóm, quê nhà
(6) Lẽo đẽo: quyến luyến, đeo đẳng không rời ra được
(7) Bù trì: săn sóc vun xới
(8) Việc hằng: việc hàng ngày, thường xuyên
(9) Thiên kim: ngàn vàng
Văn bản trên được viết theo thể thơ nào?
Dựa vào số tiếng trong từng dòng thơ và cách tổ chức các dòng thơ để xác định thể thơ.
Văn bản được viết theo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn
Xác định một biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu luận.
Đọc hai câu luận, chú ý cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh và mối quan hệ giữa các vế/câu để nhận diện biện pháp tu từ.
- Nhân hóa: “phần du lẽo đẽo thương”, “tùng cúc bù trì nhớ” gán cho cây cối những trạng thái, tình cảm của con người như “thương”, “nhớ”.
- Phép đối: “Phần du” đối với “Tùng cúc”; “lẽo đẽo” đối với “bù trì”; “thương quê cũ” đối với “nhớ việc hằng”.
- Ẩn dụ: “phần du” gợi quê nhà, “tùng cúc” gợi cuộc sống nơi ở ẩn và những công việc thường ngày.
Không gian sống của nhân vật trữ tình được hiện lên qua những hình ảnh nào? Từ đó, anh/chị hãy nhận xét về cuộc sống của tác giả khi cáo quan về ở ẩn.
- Tìm các hình ảnh chỉ không gian, cảnh vật trong văn bản.
- Từ không gian sống, nhận xét về cuộc sống và trạng thái tâm hồn của nhân vật trữ tình.
- Không gian sống của nhân vật trữ tình được gợi lên qua các hình ảnh: “am”, “trúc”, “lòng suối”, “mai”, “bóng trăng”, “phần du”, “tùng cúc”.
- Nhận xét: Đây là không gian núi rừng, thiên nhiên thanh tĩnh, gần gũi với cây cỏ, trăng nước, tách biệt với chốn quan trường. Qua đó có thể thấy cuộc sống của Nguyễn Trãi khi cáo quan về ở ẩn thanh bình, nhàn nhã, gần gũi với thiên nhiên và xa rời những bon chen, thị phi của chốn quan trường.
Em hiểu như thế nào về hai câu thơ sau:
Một phút thanh nhàn trong thuở ấy
Thiên kim ước đổi được hay chăng?
- Giải thích ý nghĩa của từ ngữ, hình ảnh quan trọng.
- Xác định nội dung, thái độ, tình cảm được thể hiện qua câu thơ.
- Khái quát ý nghĩa của hai câu thơ đối với vẻ đẹp tâm hồn nhân vật trữ tình.
- “Một phút thanh nhàn” là khoảnh khắc được sống thanh thản, tự do, xa rời những bon chen, thị phi của chốn quan trường.
- Nguyễn Trãi khẳng định khoảnh khắc thanh nhàn ấy quý giá đến mức ngàn vàng cũng không thể đổi được.
- Câu thơ thể hiện sự trân trọng cuộc sống thanh nhàn, thanh cao và cho thấy tâm hồn yêu sự bình yên, tự do, không màng danh lợi của Nguyễn Trãi.
Nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi được thể hiện trong bài thơ (Trả lời trong khoảng 3 – 5 dòng)
Khái quát vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình từ hình ảnh thiên nhiên, cách sống và cảm xúc, thái độ được thể hiện trong bài thơ.
Gợi ý: Nhận xét vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi:
- Tình yêu thiên nhiên, sự giao cảm và gắn bó gần gũi với thiên nhiên.
- Tâm hồn thanh cao, trong sáng, biết trân trọng cuộc sống thanh nhàn, bình yên, xa rời những bon chen, thị phi của chốn quan trường.
=> Thể hiện nhân cách cao đẹp, không màng danh lợi của Nguyễn Trãi.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của anh/chị về hình ảnh nhân vật người ăn mày trong đoạn trích sau:
Người ăn mày chờ đấy từ lâu. Thấy trong nhà lạch cạch tiếng đũa bát, mùi đồ xào theo chiều gió đưa ra, hắn gào lên xin, mà cũng chẳng có ai nghe tiếng. Lúc hai người ra sân, hắn lạy van rã bọt mép. Nhưng hai ông còn đương dở bận chơi với chó, không ai để ý đến người.
Người ăn mày biết thế, nên lại cố lấy sức để gào to. Nhưng cái tiếng hết hơi của hắn đập đến màng tai ông chủ, thì ông chủ trợn mắt, hầm hầm quát:
- Làm gì mà léo nhéo lên thế? Làm át cả câu chuyện của người ta! Bước ngay! Không ông đá cho một cái thì chết bây giờ!
Thằng khốn nạn im thin thít. Chủ khách bèn vào buồng ăn cơm.
Lúc ấy, hai con mắt người ăn xin chòng chọc nhìn vào đĩa cơm của con chó. Hắn thèm quá. Nước dãi chảy ròng ròng, không nuốt kịp. Muốn vào ăn trộm một miếng, nhưng chỉ sợ con chó cắn cho một miếng thì chết! Hắn thấy con chó cứ đứng gần đĩa cơm mà không ăn, thì không hiểu ra làm sao. Hắn tưởng con chó chê cơm nhạt, không thèm ăn, thì hắn muốn đánh đổi số phận hắn cho con chó nhà giàu! Giá con chó biết tiếng người, hẳn hắn đã lân la đến gần để đánh bạn, rồi kể lể nỗi đói khát, có lẽ, chỗ anh em, con chó cũng động tâm mà lấy tình "nhân đạo" nhường cho hắn đĩa cơm ấy. Hay là vì hắn xù xù ngồi đó, cho nên con chó phải đứng canh chăng? Hắn liền lẩn ra sau cái cột cổng để dòm vào. Một lúc, quả hắn thấy con chó lừ lừ ra nằm chỗ khuất bóng ở cạnh tường.
Được dịp may, người ăn mày đánh liều dồ ra, tiến gần lại mấy bước. Nhưng con chó lập tức đứng dậy, cũng tiến gần lại mấy bước, vừa đi vừa gừ. Thằng người giương hai mắt nhìn con chó, con chó cũng giương hai mắt nhìn lại thằng người. Thành ra đĩa cơm ở giữa, người tiến thì chó cũng tiến, người lui thì chó cũng lui. Hai bên hầm hè nhau, người lườm chó, chó lườm người đều cùng giữ miếng nhau, như hai kẻ thù không đội trời chung vậy.
(Trích Răng con chó nhà tư sản, Tuyển tập Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, NXB Văn học, tr. 304)
- Xác định đây là dạng đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ, yêu cầu cảm nhận về một nhân vật trong đoạn trích.
- Phân tích nhân vật, cần chú ý các phương diện: hành động, lời nói, tâm trạng, hoàn cảnh và mối quan hệ với nhân vật khác.
1. Mở đoạn: Giới thiệu tác phẩm và hình ảnh người ăn mày
2. Thân đoạn
a. Hình ảnh của người ăn mày:
- Người ăn mày có hoàn cảnh vô cùng nghèo khổ, đói khát:
+ Phải chờ đợi, van xin để có được một miếng ăn.
+ “Hai con mắt... chòng chọc nhìn vào đĩa cơm của con chó”, “thèm quá”, “nước dãi chảy ròng ròng”.
=> Chi tiết này cho thấy cái đói đã đẩy con người đến tình cảnh khốn cùng.
- Người ăn mày còn là một con người bị khinh rẻ, chà đạp:
+ Dù đang đói khát, hắn vẫn bị chủ nhà quát mắng, đe dọa.
+ Cách gọi “thằng khốn nạn” cho thấy thân phận thấp kém, bị coi thường của người nghèo.
- Cái đói đã đẩy người ăn mày vào tình thế bi đát, phải tranh giành thức ăn với một con chó:
+ Hắn tìm cách tiếp cận đĩa cơm của con chó.
+ Hình ảnh “người tiến thì chó cũng tiến, người lui thì chó cũng lui”, “hai bên hầm hè nhau” tạo nên một cảnh tượng vừa chua chát, vừa xót xa.
=> Chi tiết này cho thấy con người bị cái đói dồn đến tận cùng của sự khốn khổ, mất đi cả vị thế và phẩm giá vốn có.
b. Đánh giá nghệ thuật:
- Xây dựng tình huống giàu tính trào phúng.
- Khắc họa nhân vật qua hành động, cử chỉ, tâm lí.
- Nghệ thuật đối lập giữa con người đói khát và con chó nhà giàu làm nổi bật nghịch cảnh của người nghèo.
=> Tình cảnh bi thảm của người nông dân và cái nhìn đầy cảm thông của tác giả.
3. Kết đoạn: Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận chia sẻ quan điểm về tầm quan trọng của việc lắng nghe chính mình.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề nghị luận
2. Thân bài
a. Giải thích
- Lắng nghe chính mình là biết quan sát, nhận diện và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc, mong muốn, khả năng và nhu cầu thực sự của bản thân.
- Lắng nghe chính mình không có nghĩa là chỉ làm theo cảm xúc nhất thời, mà là biết suy xét để hiểu điều mình thực sự cần và chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
b. Tầm quan trọng của việc lắng nghe chính mình
- Thứ nhất, lắng nghe chính mình giúp con người hiểu bản thân.
+ Nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, sở thích, năng lực và những giới hạn của bản thân.
+ Từ đó xác định mục tiêu phù hợp thay vì sống theo mong muốn của người khác.
- Thứ hai, lắng nghe chính mình giúp con người đưa ra những lựa chọn phù hợp.
+ Khi hiểu mình muốn gì và có khả năng gì, con người có cơ sở để lựa chọn việc học, nghề nghiệp, các mối quan hệ và hướng phát triển.
+ Điều đó giúp mỗi người chủ động hơn trước những bước ngoặt của cuộc đời.
- Thứ ba, lắng nghe chính mình giúp con người cân bằng cảm xúc và bảo vệ sức khỏe tinh thần.
+ Nhận biết khi bản thân đang mệt mỏi, áp lực, thất vọng hay cần nghỉ ngơi.
+ Biết điều chỉnh nhịp sống, tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần thiết thay vì cố gắng chịu đựng hoặc che giấu cảm xúc.
- Thứ tư, lắng nghe chính mình giúp con người sống chân thành và có trách nhiệm với bản thân.
+ Không dễ dàng chạy theo số đông.
+ Có khả năng giữ vững những giá trị mà mình cho là đúng.
+ Từ đó xây dựng một cuộc sống có mục tiêu và ý nghĩa hơn.
c. Nếu không biết lắng nghe chính mình
- Dễ sống theo sự kỳ vọng của người khác.
- Có thể lựa chọn sai hướng vì không hiểu năng lực và mong muốn của bản thân.
- Dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, hoang mang hoặc cảm thấy cuộc sống không có ý nghĩa.
- Tuy nhiên, lắng nghe bản thân không đồng nghĩa với ích kỉ hay phủ nhận mọi lời khuyên.
d. Mở rộng, phản biện
Cần phân biệt:
+ Lắng nghe chính mình với chiều theo cảm xúc nhất thời.
+ Sống đúng với bản thân với sống ích kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân.
e. Bài học nhận thức và hành động
- Dành thời gian tự nhìn lại bản thân.
- Xác định điều mình thực sự mong muốn và những giá trị mình theo đuổi.
- Biết gọi tên cảm xúc và nhu cầu của mình.
- Tiếp nhận lời khuyên từ người khác một cách có chọn lọc.
- Dám lựa chọn, dám chịu trách nhiệm và điều chỉnh khi nhận ra mình chưa phù hợp.
3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề nghị luận





