Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 10 - Đề số 8
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau:
[…] Sơn xúng xính rủ chị ra chợ chơi. Nhà Sơn ở quay lưng vào chợ, cạnh một dãy nhà lá của những người nghèo khổ mà Sơn quen biết cả vì họ vẫn vào vay mượn ở nhà Sơn. Sơn biết lũ trẻ con các gia đình ấy chắc bây giờ đương đợi mình ở cuối chợ để đánh khăng, đánh đáo.
Không phải ngày phiên, nên chợ vắng không. Mấy cái quán chơ vơ lộng gió, rác bẩn rải rác lẫn với lá rụng của cây đề. Gió thổi mạnh làm Sơn thấy lạnh và cay mắt. Nhưng chân trời trong hơn mọi hôm, những làng ở xa Sơn thấy rõ như ở gần. Mặt đất rắn lại và nứt nẻ những đường nho nhỏ, kêu vang lên lanh tanh dưới nhịp guốc của hai chị em.
Đến cuối chợ đã thấy lũ trẻ đang quây quần chơi nghịch. Chúng nó thấy chị em Sơn đến đều lộ vẻ vui mừng, nhưng chúng vẫn đứng xa, không dám vồ vập. Chúng như biết cái phận nghèo hèn của chúng vậy, tuy Sơn và chị vẫn thân mật chơi đùa với, chứ không kiêu kỳ và khinh khỉnh như các em họ của Sơn.
Thằng Cúc, con Xuân, con Tý, con Túc sán gần giương đôi mắt ngắm bộ quần áo mới của Sơn. Sơn nhận thấy chúng ăn mặc không khác ngày thường, vẫn những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ. Nhưng hôm nay, môi chúng nó tím lại và qua những chỗ áo rách, da thịt thâm đi. Mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hàm răng đập vào nhau.
Thằng Xuân đến mó vào chiếc áo của Sơn, nó chưa thấy cái áo như thế bao giờ. Sơn lật vạt áo thâm, chìa áo vệ sinh và áo dạ cho cả bọn xem. Một đứa tắc lưỡi, nói:
- Cái áo này mặc thì nóng lắm. Chắc mua phải đến một đồng bạc chứ không ít, chúng mày nhỉ.
Đứa khác nói:
- Ngày trước thầy tao cũng có một cái áo như thế, về sau bán cho ông lý mất.
Con Túc ngây ngô giương đôi mắt lên hỏi Sơn:
- Cái này cậu mua tận Hà Nội phải không?
Sơn ưỡn ngực đáp:
- Ở Hà Nội, chứ ở đây làm gì có. Mẹ tôi còn hẹn mua cho tôi một cái áo len nhiều tiền hơn nữa kia.
Chị Lan bỗng giơ tay vẫy một con bé, từ nãy vẫn đứng dựa vào cột quán, gọi:
- Sao không lại đây, Hiên? Lại đây chơi với tôi.
Hiên là đứa con gái bên hàng xóm, bạn với Lan và Duyên. Sơn thấy chị gọi nó không lại, bước gần đến trông thấy con bé co ro đứng bên cột quán, chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay. Chị Lan cũng đến hỏi:
- Sao áo của mày rách thế Hiên, áo lành đâu không mặc?
Con bé bịu xịu nói:
- Hết áo rồi, chỉ còn cái này.
- Sao không bảo u mày may cho?
Sơn bây giờ mới chợt nhớ ra là mẹ cái Hiên rất nghèo, chỉ có nghề đi mò cua bắt ốc thì còn lấy đâu ra tiền mà sắm áo cho con nữa. Sơn thấy động lòng thương, cũng như ban sáng Sơn đã nhớ thương đến em Duyên ngày trước vẫn cùng nói với Hiên đùa nghịch ở vườn nhà. Một ý nghĩ tốt bỗng thoáng qua trong trí, Sơn lại gần chị thì thầm:
- Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ.
- Ừ, phải đấy. Để chị về lấy.
Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ, chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy áo. Sơn đứng lặng yên đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui […]
(Trích Gió lạnh đầu mùa, Thạch Lam, Văn học 8, tập 1, trang 56, NXB Giáo dục, 2001)
Chú thích: Thạch Lam (1910 - 1942), tên thật là Nguyễn Tường Lân, là một nhà văn Việt Nam thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Thạch Lam sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình công chức gốc quan lại, thuở nhỏ chủ yếu sống ở quê ngoại, phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Sáng tác thường hướng vào cuộc sống cơ cực của những người dân thành thị nghèo và vẻ đẹp nên thơ của cuộc sống thường nhật. Thạch Lam đã hướng ngòi bút về phía lớp người lao động bần cùng trong xã hội đương thời
Xác định ngôi kể của văn bản trên?
- Xác định người kể chuyện có tham gia trực tiếp vào câu chuyện hay không
- Chú ý phạm vi quan sát và khả năng miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Những chi tiết nào cho thấy sự thay đổi trong suy nghĩ và tình cảm của nhân vật Sơn đối với những đứa trẻ nghèo?
Đọc kĩ đoạn trích, tìm các chi tiết thể hiện nhận thức, cảm xúc và hành động của Sơn trước hoàn cảnh của những đứa trẻ nghèo.
Những chi tiết cho thấy sự thay đổi trong suy nghĩ và tình cảm của Sơn là:
- Ban đầu, Sơn vui vẻ, tự hào về bộ quần áo mới và khoe với những đứa trẻ nghèo.
- Khi nhìn thấy chúng “môi tím lại”, “da thịt thâm đi”, “run lên, hàm răng đập vào nhau”, Sơn nhận ra hoàn cảnh thiếu thốn, đáng thương của chúng.
- Sơn “chợt nhớ ra là mẹ cái Hiên rất nghèo” và “thấy động lòng thương”.
- Sơn nảy ra ý định đem cho Hiên chiếc áo bông cũ.
- Sau khi quyết định giúp Hiên, Sơn cảm thấy “ấm áp vui vui”.
Chỉ ra biện pháp nghệ thuật và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu văn sau: “Nhưng hôm nay, môi chúng nó tím lại, và qua những chỗ áo rách, da thịt thâm đi. Mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hàm răng đập vào nhau.”
- Xác định các từ ngữ, hình ảnh có tính gợi hình, gợi cảm và các biện pháp tu từ
- Phân tích tác dụng trên ba phương diện: nghệ thuật, nội dung, tình cảm.
- Câu văn sử dụng phép liệt kê qua các chi tiết: “môi chúng nó tím lại”, “da thịt thâm đi”, “run lên”, “hàm răng đập vào nhau”
- Tác dụng:
+ Giúp những biểu hiện của cái rét được khắc họa cụ thể, chân thực và sinh động.
+ Làm nổi bật cái rét khắc nghiệt và cuộc sống thiếu thốn, cơ cực của những đứa trẻ nghèo.
+ Gợi niềm thương cảm đối với những đứa trẻ nghèo và góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của tình yêu thương, sự sẻ chia trong tâm hồn Sơn.
Hình ảnh những đứa trẻ Cúc, Xuân, Tý, Túc gợi cho em suy nghĩ gì về cuộc sống?
Từ hình ảnh những đứa trẻ, liên hệ với vấn đề cuộc sống được gợi ra trong văn bản.
- Hình ảnh những đứa trẻ Cúc, Xuân, Tý, Túc gợi cho em suy nghĩ về cuộc sống nghèo khó và sự thiếu thốn của một bộ phận con người trong xã hội. Dù còn nhỏ tuổi, các em đã phải sống trong cảnh thiếu thốn quần áo, chịu đựng cái rét khắc nghiệt.
- Qua đó, nhận ra rằng mỗi người cần biết trân trọng cuộc sống mình đang có, đồng thời biết quan tâm, đồng cảm và sẻ chia với những người có hoàn cảnh khó khăn.
Từ nội dung phần đọc hiểu,anh/ chị hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 dòng) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của tình yêu thương.
- Xác định vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của tình yêu thương.
- Triển khai ngắn gọn theo trình tự: nêu vấn đề, ý nghĩa, bài học nhận thức và hành động.
- Đảm bảo dung lượng khoảng 5–7 dòng, diễn đạt mạch lạc.
Gợi ý:
- Tình yêu thương là sự quan tâm, đồng cảm, sẻ chia và sẵn sàng giúp đỡ người khác.
- Tình yêu thương giúp con người cảm thấy được quan tâm, có thêm niềm tin và động lực để vượt qua khó khăn.
- Giúp người trao yêu thương biết sống nhân ái, hoàn thiện nhân cách, biết quan tâm đến cộng đồng.
- Tình yêu thương góp phần gắn kết con người, lan tỏa những giá trị tốt đẹp, làm cho cuộc sống trở nên ấm áp, nhân văn hơn.
- Mỗi người cần biết quan tâm, sẻ chia với những người xung quanh, nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn.
- Tuy nhiên, tình yêu thương cần được thể hiện đúng lúc, đúng cách, chân thành, tránh thương hại hoặc giúp đỡ thiếu suy nghĩ.
II. VIẾT
Hãy viết bài văn nghị luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen vô trách nhiệm
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ với dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài
- Dẫn dắt vào vấn đề trách nhiệm trong cuộc sống.
- Nêu thói quen cần từ bỏ: vô trách nhiệm.
2. Thân bài
a. Giải thích
- Trách nhiệm là ý thức thực hiện tốt nhiệm vụ, lời nói và hành động của mình, đồng thời sẵn sàng chịu trách nhiệm về những gì mình làm.
- Vô trách nhiệm là thái độ thiếu ý thức với nhiệm vụ, công việc và hậu quả do hành động của bản thân gây ra.
- Biểu hiện
+ Không hoàn thành nhiệm vụ được giao nhưng tìm cách đổ lỗi cho người khác.
+ Hứa nhưng không thực hiện hoặc thực hiện qua loa.
+ Làm sai nhưng né tránh, không dám nhận lỗi và sửa lỗi.
+ Trong học tập: không làm bài, không chuẩn bị bài, làm việc nhóm nhưng ỷ lại vào bạn.
+ Trong cuộc sống: chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân, không để ý đến ảnh hưởng hành động của mình đối với người khác.
b. Tác hại
- Đối với bản thân: hình thành thói quen ỷ lại, thiếu kỉ luật, làm mất uy tín và cản trở sự trưởng thành.
- Đối với người khác: khiến người xung quanh phải gánh thay phần việc, ảnh hưởng đến quyền lợi và niềm tin dành cho mình.
- Đối với tập thể: làm giảm hiệu quả công việc, gây mất đoàn kết và tạo ra môi trường thiếu trách nhiệm.
c. Nguyên nhân
- Thiếu ý thức tự giác và kỉ luật.
- Ngại khó, sợ thất bại hoặc sợ nhận lỗi.
- Thói quen đổ lỗi, ỷ lại vào người khác.
- Chưa nhận thức đầy đủ về hậu quả từ hành động của bản thân.
d. Vì sao cần từ bỏ?
- Từ bỏ vô trách nhiệm giúp mỗi người trưởng thành, chủ động và đáng tin cậy hơn.
- Biết chịu trách nhiệm giúp con người nhận ra sai lầm, sửa chữa và tiến bộ.
- Người có trách nhiệm sẽ tạo dựng được niềm tin và có khả năng đóng góp tích cực cho tập thể.
e. Cách từ bỏ
- Chủ động nhận và hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn.
- Lập kế hoạch, sắp xếp thời gian và kiểm tra công việc.
- Không đổ lỗi khi mắc sai lầm; dám nhận lỗi, tìm nguyên nhân và sửa chữa.
- Trước mỗi hành động, cần suy nghĩ về hậu quả đối với bản thân và người khác.
- Rèn luyện trách nhiệm từ những việc nhỏ trong học tập, gia đình và cuộc sống.
3. Kết bài
Khẳng định cần từ bỏ thói quen vô trách nhiệm.





