Đề thi tham khảo học kì 2 Văn 10 - Đề số 7
I. ĐỌC HIỂU
BẢO TỒN NGHỆ THUẬT MÚA RỐI VÀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA
HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
Trong một nhà hát ở khu vực trung tâm Hà Nội, một con rồng bằng gỗ từ dưới mặt hồ nổi lên trong tiếng chũm chọe vang rền. Đó là một vở múa rối nước truyền thống, mỗi ngày cuốn hút hàng trăm lượt du khách ghé thăm, nhưng dân địa phương thì hầu hết rất thờ ơ.
Nhà hát rối nước: nghệ thuật truyền thống, nghệ sĩ và công chúng.
Ở hậu trường, sau một bức mành tre mỏng, khoảng 20 nghệ sĩ múa rối mặc bộ đồ bảo hộ bằng cao su, đầm mình trong mực nước cao đến hông, điều khiển những con rối bằng những cây sào dài.
[…]
Việt Nam là nơi ra đời của múa rối nước – bộ môn nghệ thuật có tuổi đời nhiều thế kỉ. Xuất hiện ở vùng đồng bằng lúa nước phía Bắc, rối nước là một hình thức giải trí của nông dân. Dấu tích cổ xưa nhất của những màn trình diễn múa rối nước là những ghi chép trên một bia đá có niên đại từ thế kỉ XII, nay vẫn còn được lưu giữ ở một ngôi chùa cổ ở phía Bắc tỉnh Hà Nam, tuy nhiên, nhiều sử gia cho rằng múa rối nước có khả năng khởi đầu từ sớm hơn thế nữa.
Theo truyền thống, các vở diễn kể lại những câu chuyện ngụ ngôn hay truyền thuyết cổ, chẳng hạn truyền thuyết về thanh bảo kiếm mà một vị vua đã dùng để chiến thắng quân xâm lược phương Bắc.

Sức hấp dẫn đối với nước ngoài.
[…]
Mặc dù rối nước có nguồn gốc cổ xưa như vậy – hay có lẽ chính vì rối nước có nguồn gốc cổ xưa như vậy – khán giả Việt Nam ở địa phương không mấy đoái hoài đến các vở diễn này, đặc biệt là giới trẻ. Hơn một nửa trong số 93 triệu dân Việt Nam thuộc lớp trẻ dưới 30 tuổi, họ thường ưa chuộng các hình thức giải trí kĩ thuật số hơn. Ông Phạm Đình Viêm, truyền nhân thế hệ thứ ba trong một gia đình có truyền thống điêu khắc búp bê rối ở một làng nghề ở Thái Bình, chia sẻ: “Bây giờ có nhiều loại hình giải trí, nhiều thiết bị điện tử và có mạng internet. Nên ngoài những kì lễ hội ra, chúng tôi không thể diễn quanh năm được, bởi vì người ta không đến xem nhiều”. Cũng như nhiều thợ làm búp bê rối khác trong làng, ông Viêm không thể lo cho gia đình bằng nghề này, vì thế, ông phải làm thêm công việc lao động chân tay. Tuy nhiên, người nghệ nhân này vẫn kiên tâm theo đuổi nghề làm búp bê, và luôn nuôi hy vọng thế hệ sau có thể tiếp tục theo đuổi niềm đam mê mà ông cho rằng sẽ mãi mãi luôn chảy trong huyết quản của mình.

Tuy nhiên, trong khi mối quan tâm đối với rối nước hầu như đã tắt trên chính mảnh đất quê hương của nó, thì lại xuất hiện những dấu hiệu cho thấy loại hình nghệ thuật này đang thu hút sự chú ý từ nước ngoài. Năm nay, đạo diễn người Canada, Robert Lepage, đã đưa đến cho khán giả Toronto một bản phóng tác từ tác phẩm opera kinh điển Chim họa mi của Stravinsky. Trong vở diễn này, khu vực dàn nhạc được biến thành một hồ nước cho các ca sĩ kiêm nghệ sĩ múa rối điều khiển con rối.
Theo ông Viêm, những cách tiếp cận đầy sáng tạo như thế này rất có thể sẽ là bí quyết để làm hồi sinh lại truyền thống lâu đời hàng thế kỉ của Việt Nam. Ông nói: “Nếu kịch bản và các màn trình diễn không thay đổi, thì về lâu dài sẽ không thể nào phục vụ khán giả được nữa”.
Giải pháp xã hội hóa
Bài học về bảo tồn nghệ thuật múa rối nước Việt Nam qua hoạt động của ngành du lịch là một sáng kiến xã hội hóa đáng khích lệ. Tuy nhiên, cần có những giải pháp căn cơ đồng bộ hơn đối với vấn đề xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật dưa trên giải pháp chung. Theo ông Nguyễn Ngọc Thiện, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “xã hội hóa chính là huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự tham gia của người dân vào việc giải quyết các vấn đề xã hội của Nhà nước, nhưng không làm giảm vai trò, trách nhiệm của Nhà nước”. Cách hiểu này cũng được phổ biến rộng rãi thành cách hiểu chung khi nói đến hoạt động xã hội hóa. Xã hội hóa bằng cách các địa phương tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng cho hoạt động văn hóa nghệ thuật đồng thời khuyến khích các đơn vị gia tăng hoạt động xã hội hóa.
(Tổng hợp theo AFP và Nguyễn Ngọc Thiện)
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản gì?
Vận dụng kiến thức về kiểu văn bản và đặc điểm của văn bản thông tin: xác định mục đích, nội dung, cách triển khai và các phương tiện cung cấp thông tin.
Văn bản thuộc kiểu văn bản thông tin
Phần sa-pô của văn bản có chức năng gì?
Vận dụng kiến thức về sa-pô trong văn bản thông tin: xác định vai trò của phần mở đầu trong việc thu hút người đọc và định hướng nội dung.
Ý nghĩa của sa-pô (phần in đậm sau nhan đề):
+ Thu hút sự chú ý, tạo hứng thú cho người đọc bằng việc đưa ra hình ảnh cụ thể, sinh động về một buổi biểu diễn múa rối nước.
+ Định hướng nội dung chính của văn bản thông tin: vấn đề bảo tồn nghệ thuật múa rối nước trước tình trạng người Việt Nam đang “thờ ơ” với nghệ thuật truyền thống
Chỉ ra và phân tích tác dụng hỗ trợ của các phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản?
- Vận dụng kiến thức về phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản thông tin
- Chú ý nhận diện hình ảnh, số liệu, sơ đồ, biểu đồ... và phân tích tác dụng trong việc bổ trợ thông tin bằng ngôn ngữ.
- Văn bản sử dụng 02 hình ảnh: Múa rối nước ở Việt Nam; Các nghệ nhân điều khiển con rối sau tấm màn tre
- Các số liệu:
+ Hơn một nửa trong số 93 triệu dân Việt Nam thuộc lớp trẻ dưới 30 tuổi, họ thường ưa chuộng các hình thức giải trí kĩ thuật số hơn.
+ số liệu về các đơn vị/ loại hình nhà hát xã hội hoá; phần trăm tổng kinh phí hoạt động xã hội hoá (đoạn cuối văn bản)
=> Tác dụng của các hình ảnh và số liệu:
- Hình ảnh giúp người đọc hình dung trực quan về nghệ thuật múa rối nước và công việc của những nghệ nhân.
- Làm thông tin trở nên sinh động, hấp dẫn, dễ tiếp nhận, tăng hiệu quả truyền đạt của văn bản.
Chỉ ra một số câu văn có lồng ghép yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự và nêu tác dụng của chúng?
- Vận dụng kiến thức về các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự trong văn bản thông tin
- Xác định câu văn có yếu tố tương ứng và phân tích vai trò của chúng trong việc cung cấp, làm rõ và tăng sức hấp dẫn của thông tin.
- Yếu tố miêu tả:
+ Ở hậu trường, sau một bức mành tre mỏng, khoảng 20 nghệ sĩ múa rối mặc bộ đồ bảo hộ bằng cao su, đầm mình trong mực nước cao đến hông, điều khiển những con rối bằng những cây sào dài.
+ Tác dụng: Giúp người đọc dễ hình dung thông tin, tăng lượng thông tin, giúp văn bản sinh động, giảu hình ảnh hơn.
- Yếu tố biểu cảm:
+ Tuy nhiên, trong khi mối quan tâm đối với rối nước hầu như đã tắt trên chính mảnh đất quê hương của nó, thì lại xuất hiện những dấu hiệu cho thấy loại hình nghệ thuật này đang thu hút sự chú ý từ nước ngoài.
+ Tác dụng: Thể hiện thái độ, cách đánh giá của người viết
- Yếu tố miêu tả + tự sự:
+ Năm nay, đạo diễn người Canada, Robert Lepage, đã đưa đến cho khán giả Toronto một bản phóng tác từ tác phẩm opera kinh điển Chim họa mi của Stravinsky. Trong vở diễn này, khu vực dàn nhạc được biến thành một hồ nước cho các ca sĩ kiêm nghệ sĩ múa rối điều khiển con rối.
+ Tác dụng: Giúp người đọc dễ hình dung thông tin, tăng lượng thông tin, giúp văn bản sinh động hơn.
Ngoài cách làm “hồi sinh” nghệ thuật truyền thống như cách của đạo diễn Robert Lepage, có thể có những cách thức nào khác hay không? Nêu một vài ý tưởng của anh/chị?
- Vận dụng kĩ năng liên hệ, đề xuất giải pháp từ vấn đề được đặt ra trong văn bản
- Chú ý giải pháp cần cụ thể, khả thi và phù hợp với thực tế.
Có thể đề xuất một số cách thức như:
- Tạo công chúng trẻ cho nghệ thuật truyền thống, đưa múa rối nước và các loại hình nghệ thuật dân gian vào hoạt động trải nghiệm, giáo dục nghệ thuật trong trường học.
- Ứng dụng công nghệ số để quảng bá nghệ thuật truyền thống qua video ngắn, phim hoạt hình, nền tảng số, triển lãm trực tuyến...
- Đổi mới cách biểu diễn và nội dung nhưng vẫn giữ những giá trị cốt lõi của nghệ thuật truyền thống, giúp tác phẩm gần gũi hơn với đời sống hiện đại.
- Đào tạo thế hệ nghệ sĩ trẻ, kết hợp kiến thức truyền thống với tư duy sáng tạo và khả năng sử dụng công nghệ.
- Tôn vinh và hỗ trợ thiết thực đối với nghệ nhân, tạo điều kiện về kinh phí, không gian biểu diễn và cơ hội truyền nghề.
- Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức văn hóa nhưng vẫn bảo đảm vai trò, trách nhiệm của Nhà nước.
II. VIẾT
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và nhân vật cụ Kép trong trích đoạn truyện sau:
Đêm giao thừa, bên cạnh nồi bánh chưng sôi sình sịch, bõ già đang chăm chú canh nồi kẹo mạch nha. Cụ Kép đã dặn bõ già phải cẩn thận xem lửa kẻo lơ đễnh một chút là khê mất nồi kẹo.
Hai ông ấm, con trai cụ Kép, người lớn tuổi đứng đắn như thế, mà lại ngồi gần đấy, phất giấy vào những nan lồng. Thực là hai đứa trẻ con đang ngồi nghịch với lồng bàn giấy. Họ ngồi dán hồ, vuốt giấy, với sự trịnh trọng của một người biết mình không đùa bỡn cùng công việc. Ông cụ Kép đứng kèm bên, mỗi lúc lại nhắc:
- Này Cả: thày tưởng miệng lồng bàn, con nên đan to hơn miệng chậu. Con chạy ra, lấy cái que đo lại lợi chậu xem. Nếu rộng, thì hỏng hết. Đo lợi mấy chậu Mặc lan thôi.
Hai ông Ấm, ngồi phất được đến mười cái lồng bàn giấy. Họ rất vui sướng vì họ tin đã làm toại được sở thích của cha già. Cụ Kép co ro chạy từ nồi kẹo mạch nha, qua đám lồng bàn giấy, đến cái rổ đá cuội đã ráo nước thì cụ ngồi xổm xuống, ngồi lựa lấy những viên đá thật trắng, thật tròn, để ra một mẹt riêng. Ông Ấm Cả, ông Ấm Hai lễ mễ bưng những chậu Mặc lan vào trong nhà. Cả ba ông con đều nhặt những hòn cuội xấu nhất, méo mó sù sì trải xuống mặt đất những chậu lan gần nở. Mỗi lần có một người đụng mạnh vào giò lan đen, cụ Kép lại xuýt xoa như có người châm kim vào da thịt mình.
Nồi kẹo đã nấu xong nhưng phải đợi đến gần cuối canh hai kẹo mới nguội.
Bây giờ thêm được bõ già đỡ một tay nữa, cả ba ông con đều lấy những hòn cuội để riêng ban nãy ra mẹt, đem dúng đá cuội vào nồi kẹo, quấn kẹo bọc kín lấy đá, được viên nào liền đem đặt luôn vào lòng chậu hoa. Những viên đá bọc kẹo được đặt rất nhẹ nhàng lên trên lượt đá lót lên nền đất chậu hoa.
Úp xong lồng bàn giấy lên mươi chậu Mặc lan thì vừa cúng giao thừa.
Ba ông con, khăn lượt áo thâm lạy trước bàn thờ đặt ngoài trời. Năm nay, trời giao thừa lành.
…Cả một buổi sớm, cụ Kép phải bận ở đình làng. Trước khi ra đình cụ đã dặn bõ già ở nhà phải soạn sửa cho đủ để đến quá trưa, cụ và vài cụ nữa đi việc đình làng về sẽ cùng uống rượu thưởng hoa lan.
Bõ già đã bày ra giữa sân bốn cái đôn sứ Bát Tràng màu xanh lam. Trước mặt mỗi đôn, bõ già đặt một án thư nhỏ, trên đó ngất nghểu hai chậu lan, còn lù lù chiếc lồng bàn úp, và một hũ rượu lớn có nút lá chuối khô. Bõ già xếp đặt trông thạo lắm. Trong mấy năm nay, đầu mùa xuân nào bõ già cũng phải, ít ra là một lần, bày biện tiệc rượu Thạch Lan Hương cho chủ.
Bõ già, hôm nay lẩm bẩm phàn nàn với ông Ấm Hai:
- Năm nay cụ nhà uống rượu sớm quá và lại uống ban ngày. Mọi năm, cứ đúng rằm tháng giêng mới uống. Vả lại uống vào chiều tối. Đốt đèn lồng, treo ở ngoài vườn đào, trông vào tiệc rượu hoa, đẹp lắm cậu ạ. […]
Phía ngoài cổng củi, có tiếng chó cắn vang.
Bõ già nhìn ra thấy bốn cụ tiến vào đã quá nửa lòng ngõ ruối. Cụ nào cũng cầm một cây quạt thước, chống một chiếc gậy tre càng cua hay trúc đùi gà. Uống xong tuần nước, cụ Kép mời ba cụ ra sân uống rượu. Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các cụ yên vị rồi thì y khúm núm mở từng chiếc lồng bàn giấy một.
Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất chật hẹp từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ và bõ già đánh hơi mũi; những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ bầu không khí trong vắt như có ý theo dõi luồng hương thơm đang thấm nhập dần vào các lớp khí trời. Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian.
- Dạ, xin rước các cụ.
Dứt tiếng cụ Kép, tất cả bốn cụ đề úp lòng tay vào nhau thi lễ và giơ tay chỉ thẳng vào giữa, mời nhau ai cao tuổi xin nhấp chén trước đi. Tiệc rượu bắt đầu. Bõ già kính cẩn chắp tay đứng sau lưng chủ, có vẻ cũng thèm thuồng say lắm.[…].
Sau mấy câu phê bình về tiệc rượu, tỏ ra mình là người biết thưởng thức những vị thanh lương đạm bạc, bốn cụ đều xoay câu chuyện sang phía thơ văn.
Cụ Tú người cùng làng với cụ Kép mở đầu câu chuyện làm thơ.
- Sớm nay, đệ đã khai bút rồi. Đệ nghĩ được một đôi câu đối. Để các cụ chữa cho mấy chữ, chiều nay sẽ viết luôn vào giấy hồng điều để dán thêm vào cổng nhà.
Ba cụ cùng cạn chén một lúc, cùng nói một lúc:
- Cụ Tú hãy cạn luôn ba chén rồi hãy đọc đôi câu đối mới. Câu đối của Cụ còn ai hạch nổi chữ nào. Cụ nói gì mà khiêm tốn vậy... Chúng tôi xin nghe.
Chờ đợi cụ Tú đặng hắng lấy giọng, mỗi cụ đều bỏ vào mồm những viên kẹo mạch nha đá cuội ướp hương lan. Những nhân đá đánh vào răng kêu lách cách. Mỗi ông già đọc một đôi câu.
Rồi mỗi chén rượu ngừng là một lời thơ ngâm trong trẻo. Cứ thế cho tàn hết buổi chiều. […].
(Trích truyện ngắn “Hương cuội”, Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân, NXB Hội Nhà văn)
Chú thích: Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 ở phố Hàng Bạc, Hà Nội. Quê ông ở thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (tên nôm là làng Mọc), huyện Hoàn Long, Hà Nội, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân. Ông trưởng thành trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn.Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi... Năm 1941, ông lại bị bắt giam một lần nữa và gặp gỡ, tiếp xúc với những người hoạt động chính trị.Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1957, ông giữ chức Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam.Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập tùy bút Sông Đà (1960) là kết quả chuyến đi thực tế vùng Tây Bắc, một số tập ký chống Mỹ (1965–1975) và nhiều bài tùy bút về cảnh sắc và hương vị đất nước.Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội vào ngày 28 tháng 7 năm 1987, thọ 77 tuổi và an táng tại Nghĩa trang Văn Điển.Năm 1996 ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I)
- Phân tích, đánh giá chủ đề được thể hiện qua câu chuyện, nhân vật và các chi tiết nghệ thuật.
- Phân tích nhân vật cụ Kép trên các phương diện: hoàn cảnh, hành động, lời nói, sở thích, tính cách, mối quan hệ với các nhân vật khác và ý nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề.
- Nhận xét nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật kể chuyện để làm rõ giá trị của tác phẩm.
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác phẩm “Hương cuội” của Nguyễn Tuân.
- Nêu vấn đề cần nghị luận.
2. Thân bài:
* Khái quát tác phẩm:
- Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác: “Hương cuội” được sáng tác vào năm 1940, trích từ tuyển tập “Vang bóng một thời” nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Tuân. Thời kỳ này, văn phong Nguyễn Tuân vẫn còn bị ảnh hưởng bởi những giá trị xưa cũ của Nho giáo. Ông cố gắng đi tìm vẻ đẹp từ những giá trị xưa cũ, tôn vinh những giá trị xưa cũ ấy lên một vẻ đẹp mới.
- Nhan đề: “Hương cuội”:
+ Hương thơm của kẹo mạch nha bọc đá cuội
+ Hương vị của thú chơi thanh cao, tao nhã
=> Qua văn bản, nhà văn thể hiện sự ca ngợi nét văn hóa tao nhã, lịch sự trong sinh hoạt của các nhà nho xưa nói riêng; ca ngợi những nét đẹp văn hóa cổ truyền dân tộc nói chung; gián tiếp thể hiện lòng yêu nước kín đáo của tác giả.
- Tóm tắt tác phẩm: Tác phẩm “Hương cuội” miêu tả không khí gần Tết của gia đình cụ Kép. Cụ cùng con cháu quây quần sửa sang nơi thờ, rửa lá dong, nấu bánh chưng, chăm chút cho vườn lan nở đúng dịp Tết, nấu kẹo mạch nha, uống rượu bình thơ, thưởng thức cái không khí êm đềm của mùa xuân.
* Phân tích chủ đề: Từ việc dựng lại tập tục đón Tết của gia đình cụ Kép nhà văn ca ngợi nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, những nét đẹp một thời vang bóng nay đã dần bị lãng quên trước cái xô bồ của thời buổi Tây tàu lố lăng.
* Phân tích nhân vật: Trong truyện ngắn “Hương Cuội” của Nguyễn Tuân, Cụ Kép là một nhân vật quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến diễn biến của câu chuyện.
- Lai lịch: Cụ Kép là người làng Mọc, với công việc là một nhà Nho.
- Tính cách: Cụ là một người yêu, và luôn say mê trước vẻ đẹp của thiên thiên.
+ Nếu trước đây cụ không dám trồng hoa vì lo rằng không có đủ thời gian để chăm sóc chúng thì khi cụ đã có đủ thời gian rảnh rỗi, cụ đã trồng một vườn lan nho nhỏ. Cụ chăm sóc vườn hoa của mình rất kỹ, và cũng thường nói rằng chăm sóc hoa cỏ đòi hỏi sự nhiệt tình và kiên trì.
=> Cụ xem việc này như là một thú vui của mình khi về già vậy nên cụ trồng rất nhiều loại hoa. Cụ có quan điểm “nguyện đem cả quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý”.
+ Cụ yêu thiên nhiên yêu đến mức chỉ cần ai đụng vào là cụ cũng cảm tưởng như họ đang động đến từng khúc ruột của bản thân. Cụ ví nỗi đau ấy “như có người châm kim vào da thịt mình”.
- Hình ảnh bữa rượu “Thạch Lan Hương”:
+ Cụ dặn bõ già phải chuẩn bị cẩn thận, không được để quá giờ trưa bởi năm nay hoa nở sớm hơn nên phải làm sớm
+ Bữa tiệc xuân của Cụ Kép: hoa thơm, rượu ngon, thưởng thơ
=> Những người không biết thế nào là cái đẹp thì sẽ không bao giờ hiểu được những cái đẹp của tự nhiên. Tác giả đã sử dụng trí tưởng tượng phong phú để mô tả các hoạt động từ việc rửa cuội, bỏ kẹo vào nồi, đến việc úp lồng bàn giấy lên chậu hoa đầy kẹo để ủ hương thơm vào kẹo. Cảnh các cụ nhắm rượu, thưởng xuân và nhai kẹo trong không khí trang trọng cũng được tác giả mô tả một cách chi tiết và sống động.
* Phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa nhân vật và chủ đề: Hệ thống các nhân vật đã giúp nhà văn thể hiện sâu sắc chủ đề của tác phẩm, đồng thời giúp người đọc thấu hiểu tấm lòng của ông: Nhà văn phải là người có vốn sống phong phú, có sự hiểu biết sâu sắc và yêu mến biết bao nhiêu những phong tục tập quán cổ truyền của dân tộc mới có thể viết được những trang văn tinh tế đượm tấm lòng trìu mến.
* Nhận xét nghệ thuật:
- Đề tài độc đáo: một phong tục đẹp trong văn hóa truyền thống của người Việt: uống rượu thạch lan hương ngày Tết.
- Nghệ thuật tạo dựng bối cảnh: Nguyễn Tuân đã giúp người đọc hình dung được không khí rất đặc trưng của những ngày Tết cổ truyển Việt Nam.
- Lối kể chuyện tỉ mỉ, tinh tế: Mọi công việc chuẩn bị cho ngày Tết đều được nhà văn miêu tả tỉ mỉ: Bữa tiệc rượu đặc biệt thanh tịnh được mở đầu rất ấn tượng: “Bõ già vòng tay vái các cụ và đợi các cụ yên vị rồi thì khom khom mở từng chiếc lồng bàn giấy một. Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây…”
- Hệ thống ngôn từ độc đáo: nhà văn đã sử dụng hệ thống từ cổ, từ Hán Việt một cách đắc địa. Những từ cổ này được kết hợp hài hòa, chặt chẽ với những cảnh, những người trong quá khứ, tạo nên một hiệu quả đặc biệt. Việc sử dụng hệ thống ngôn từ độc đáo như trên vừa thể hiện dụng ý của nhà văn lại vừa nói lên một cách đầy đủ nhất sự hiểu biết sâu rộng, cặn kẽ của nhà văn về nhiều phương diện như lịch sử, văn hóa và xã hội.
- Xây dựng kiểu nhân vật tài hoa, tài tử.
3. Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của vấn đề nghị luận.





