Đề thi thử học kì 1 Văn 10 - Đề số 1
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
QUA ĐÈO NGANG
(Bà Huyện Thanh Quan)
Bước tới Đèo Ngang[1], bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều[2] vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc[3],
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.[4]
Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
(Tuyển tập thơ Bà Huyện Thanh Quan, NXB Hội nhà văn, 1971, tr 76)
Chú thích:
- Bà Huyện Thanh Quan: tên thật là Nguyễn Thị Hinh (1805-1848); xuất thân trong một gia đình nhà nho ở làng Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận (nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội). Chồng bà làm quan tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh, tỉnh Thái Bình) do đó mà bà có tên gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà nổi tiếng là một nữ sĩ học rộng, tài cao. Thơ của bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay.
- Bài thơ Qua Đèo Ngang: được sáng tác khi bà trên đường từ Bắc Hà vào Huế nhận chức “Cung Trung giáo tập” dạy học cho các cung phi.
[1]. Đèo Ngang: thuộc dãy núi Hoành Sơn, một nhánh của dãy núi Trường Sơn, phân chia địa giới hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh.
[2] Tiều: người chuyên nghề đốn củi.
[3]. Con quốc quốc (cũng viết là cuốc cuốc): chim đỗ quyên (chim cuốc). Theo truyền thuyết Trung Quốc, Thục Đế mất nước, hồn biến thành chim cuốc, kêu nhớ nước đến nhỏ máu ra mà chết
[4]. Cái gia gia (cũng viết là da da): chim đa đa, còn gọi là gà gô.
Chỉ ra dấu hiệu để nhận biết thể thơ của văn bản.
- Vận dụng kiến thức về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
- Dựa vào số câu, số tiếng trong mỗi câu và có thể kết hợp với đặc điểm niêm luật, vần, đối.
Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật: gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ (tiếng) là dấu hiệu để nhận biết thể thơ của văn bản.
Xác định các tiếng gieo vần trong bài thơ.
- Vận dụng kiến thức về gieo vần trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
- Xác định tiếng ở cuối các câu có vị trí gieo vần.
Những tiếng gieo vần trong bài thơ: nằm ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8: tà - hoa - nhà - gia - ta. Đây là vần bằng (vần “a”).
Phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật đối trong hai câu thơ sau:
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
- Vận dụng kiến thức về phép đối trong thơ thất ngôn bát cú.
- Xác định các vế đối và phân tích tác dụng trên ba phương diện: nghệ thuật, nội dung, tình cảm.
- Biện pháp nghệ thuật đối được sử dụng trong hai câu thơ: Đối giữa “Lom khom dưới núi” với “Lác đác bên sông”; “tiều vài chú” với “chợ mấy nhà”.
- Tác dụng:
+ Làm cho lời thơ trở nên cân xứng, hài hòa; giàu giá trị gợi hình, gợi cảm.
+ Nhấn mạnh bức tranh đèo Ngang lúc xế tà tuy có sự sống nhưng thưa thớt, ít ỏi, làm nổi bật sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên hùng vĩ, bao la.
+ Thể hiện nỗi buồn cô đơn, trống trải và tâm trạng u hoài của tác giả trước cảnh vật hoang sơ, hiu quạnh nơi đất khách.
Nhận xét tâm trạng của chủ thể trữ tình được thể hiện trong bài thơ.
-Theo dõi sự vận động của “cảnh” và “tình” từ đầu đến cuối bài thơ.
- Chú ý những từ ngữ, hình ảnh trực tiếp bộc lộ cảm xúc
Tâm trạng của chủ thể trữ tình được thể hiện trong bài thơ:
+ Tâm trạng cô đơn, trống vắng, lẻ loi khi đối diện với vũ trụ bao la, rộng lớn.
+ Tâm trạng nhớ nước, nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Đó cũng chính là tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ.
Thông điệp sâu sắc nhất mà anh/chị rút ra cho bản thân từ văn bản trên là gì? Vì sao?
- Rút ra thông điệp dựa trên nội dung, hình ảnh và cảm xúc chủ đạo của văn bản.
- Chọn một thông điệp tiêu biểu, sau đó lí giải bằng những lập luận cụ thể.
Gợi ý:
+ Nên giữ trọn tấm lòng thủy chung, gắn bó và tình yêu sâu nặng với quê hương, cội nguồn trong mọi hoàn cảnh.
+ Cần biết rung động, trân trọng và bảo vệ vẻ đẹp thiên nhiên, những di sản danh thắng của đất nước.
+ Bản lĩnh đối diện với chính mình, dám nhìn nhận nỗi cô đơn để thấu hiểu bản thân sâu sắc hơn giữa cuộc đời biến động.
II. VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích bức tranh thiên nhiên trong bốn câu thơ đầu của văn bản Đọc hiểu.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: bức tranh thiên nhiên trong bốn câu thơ đầu.
- Vận dụng kĩ năng phân tích thơ: ý hình ảnh, từ ngữ, không gian, thời gian và thủ pháp nghệ thuật.
1. Mở đoạn:
- Giới thiệu Bà Huyện Thanh Quan và bài thơ Qua Đèo Ngang.
- Giới thiệu bốn câu thơ đầu khắc họa bức tranh thiên nhiên và sự sống nơi Đèo Ngang lúc chiều tà.
2. Thân đoạn
a. Cảnh vật thiên nhiên trong bốn câu thơ đầu.
- Không gian, thời gian:
+ “Đèo Ngang” không gian núi đèo rộng lớn, hiểm trở.
“bóng xế tà” thời điểm cuối ngày, gợi cảm giác chạng vạng, tàn phai, buồn vắng.
- Cảnh vật:
+ “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”: thiên nhiên hiện lên rậm rạp, um tùm, giàu sức sống.
+ Điệp từ “chen” kết hợp phép đối tạo cảm giác cây cỏ như đang tràn đầy, đan xen trong không gian núi rừng.
- Sự sống con người:
+ “Lom khom” vài chú tiều phu nhỏ bé, thấp thoáng dưới núi.
+ “Lác đác” chợ mấy nhà thưa thớt bên sông.
+ Các từ láy “lom khom”, “lác đác” cùng số từ “vài”, “mấy” nhấn mạnh sự ít ỏi, thưa vắng của con người và sự sống.
=> Bức tranh có sự sống nhưng sự sống nhỏ bé, thưa thớt, càng làm nổi bật vẻ hoang sơ, vắng lặng của Đèo Ngang.
b. Đánh giá:
- Về nghệ thuật: Sử dụng điêu luyện bút pháp tả cảnh ngụ tình, phép đối, đảo ngữ và hệ thống từ láy tượng hình giàu sức gợi để tạo hình bức tranh thiên nhiên.
- Về nội dung: Khắc họa thành công vẻ đẹp hoang sơ, hiu quạnh của Đèo Ngang, qua đó bộc lộ nỗi niềm u hoài, cô đơn và tâm trạng nhớ nước thương nhà của tác giả.
3. Kết đoạn
Khẳng định tài năng của Bà Huyện Thanh Quan và vẻ đẹp bức tranh Đèo Ngang trong bài thơ
Vứt rác bừa bãi là thói quen phổ biến của nhiều người. Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) thuyết phục mọi người từ bỏ thói quen này.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Vận dụng thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
- Kết hợp lí lẽ và dẫn chứng từ thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề.
- Bố cục bài viết đảm bảo ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
* Giải thích
- Vứt rác bừa bãi là vứt rác tuỳ ý, không đúng nơi quy định, vứt mọi nơi mọi lúc gây nên ô nhiễm môi trường.
- Vứt rác bừa bãi là thói quen xấu xảy ra ở nhiều người, nhiều địa điểm: cầu cống, sông ngòi, đường xã, các khu du lịch, bãi biển, trên các phương tiện công cộng,…
* Vì sao cần từ bỏ thói quen vứt rác bừa bãi?
- Hành động vứt rác bừa bãi sẽ gây ô nhiễm môi trường; bên cạnh đó còn có thể phát sinh hàng loạt các dịch bệnh nguy hiểm và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống con người.
- Vứt rác bừa bãi làm mất cảnh quan sinh thái, các khu du lịch hay danh lam thắng cảnh.
- Gây tổn hại tiền của cho nhà nước để xử lí rác thải.
- Tạo ra một thói quen xấu trong đời sống văn minh hiện đại: Lối sống của mỗi người ngày càng văn minh, tiến độ ứng xử có văn hóa. Đặc biệt là trong yêu cầu của cuộc sống ngày nay, đường phố xanh - sạch - đẹp là một tiêu chuẩn không thể thiếu đối với một thành phố văn minh, sạch đẹp. Điều đó khiến mỗi người cần có ý thức giữ gìn vệ sinh để bảo vệ sức khỏe cho bản thân mình và người khác.
* Mở rộng, phản đề:
- Người có thói quen xả rác bừa bãi có thể đưa ra lời biện minh cho thói quen là: do thùng đựng rác nơi công cộng còn thiếu hoặc đặt ở vị trí không thuận tiện cho việc vứt rác.
- Người viết có thể phản biện lại: Nếu bạn thực sự có ý thức bảo vệ môi trường thì bạn sẽ biết cách hành động bỏ rác đúng nơi quy định, dù việc đó có mất thêm thời gian của bạn.
* Bài học nhận thức và hành động
- Mỗi người cần nâng cao ý thức của mình trong việc bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng.
- Tích cực tham gia các hoạt động thu gom rác thải, bảo vệ môi trường như: Ngày thứ bảy tình nguyện, ngày chủ nhật xanh,...
- Tuyên truyền những người xung quanh cùng chung tay giữ gìn môi trường sống xung quanh sạch sẽ, trong lành.
…
3. Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.





