Đề thi tham khảo học kì 1 Văn 10 - Đề số 9
I. ĐỌC HIỂU
CHIẾN THẮNG MTAO GRU
(Trích “Đăm Săn”)
Họ đến giếng làng, rồi đến bờ rào làng Mtao Grư. Trước mặt họ là một bờ rào tre một lớp hai lớp. Một bờ rào lồ ô một hàng hai hàng. Cổng làng trồng hai hàng cột lớn. Họ áp sát bờ rào làng, ẩy cổng làng. Từ trong làng vọng ra tiếng ching khơk và hliang, nghe ì à, ì ọp như tiếng ếch kêu dưới nước. Rõ ràng đây là một tay tù trưởng giàu mạnh. Một tù trưởng giàu mạnh đầu bịt khăn nhiễu, vai nải hoa thật.
ĐĂM SĂN: Ở diêng! Ở diêng! Mở cổng! Trời nắng to mặt ta đang bị chói năng đây này.
MTAO GRƯ: Ở các con! ở các con! Ra xem có chuyện gì ngoài ấy? Tiếng gì như tiếng gà cục tác, tiếng trẻ nhà ai đang khóc, hay tiếng đe chí chát của gã thợ rèn ở ngoài kia? Ra xem, nếu thấy người nhát thì hẵng mở cổng. Nếu thấy người dữ thì chôn cổng lại cho chắc. Nện cổng lại cho thật chặt, nghe!
ĐĂM SĂN: Ở Y Suh, ở Y Sah, hãy lấy những chiếc búa ăn rừng bén nhất san bằng cái bờ rào này đi nào. Hãy chặt ở dưới, bổ ở trên, phá tan cái rào, cái cổng làng này đi nào. Người của Đăm Săn đông như bầy catong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối. Họ đến bãi ngoài làng, tiến sát bờ rào làng.
ĐĂM SĂN: Ở diêng, ơ diêng xuống đây! Chúng ta đấu nhau chơi.
MTAO GRƯ: Ơ diêng, ở diêng! Mời diêng lên nhà, ta muốn làm lễ cầu phúc cho diêng một trâu.
ĐĂM SĂN: Diêng còn muốn cúng trâu cầu phúc cho ta à? Há chẳng phải vợ ta diêng đã cướp, đùi ta diêng đã chặt, ruột gan ta riêng đã moi ra rồi sao? (nói với tôi tớ) Ơ các con! Bó các con! Lấy cái sàn sân nhà này đem bổ đôi ra cho ta. Lấy cái cầu thang nhà này đem chẻ ra kéo lửa, hun cái nhà này cho ta xem nào.
MTAO GRƯ: Ấy khoan! diêng! Khoan! Để ta xuống. Không được đâm ta khi ta đang xuống đó nghe.
ĐĂM SĂN: Sao lại đâm diêng khi diêng đang xuống? Diêng xem, cả con lợn của diêng ở trong chuồng, nào ta có thèm đâm đâu.
MTAO GRƯ: Ơ diêng, ở diêng! Không được đâm ta khi ta đang đi đó nghe.
ĐĂM SĂN: Sao ta lại đam diêng khi diêng đang đi? Diêng xem, cả con trâu của diêng ở trong chuồng, nào ta có thèm đâm đầu.
Thế là Mtao Grư phải xuống.
ĐĂM SĂN: Ở diêng! Khiên đạo của diêng là khiên đao gì vậy?
MTAO GRƯ: Khiên thần, đạo thần. Khiên đạo dính đầy những oan hồn, khiên đao chỉ nhằm đùi bọn tù trưởng nhà giàu. Ở diêng, còn khiên đạo của diêng là gì vậy?
ĐĂM SĂN: Khiên đao kêu lạch xạch, khiên đao bị mọt ăn, không biết còn vững nay không còn vững. Ơ diêng người hãy múa trước đi.
Mtao Grư rung khiên múa. Hắn múa kêu lạch xạch như quả mướp khô.
ĐĂM SĂN: Diêng múa một mình, diêng múa chơi đó phải không diêng?
MTAO GRƯ: Bớ diêng, đến lượt diêng múa đi.
Đăm Săn rung khiên múa. Chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Chàng múa trên cao, vang lên tiếng đĩa khiên kênh. Chàng múa chạy nước kiệu, ba lớp núi liền rạn nứt, ba đồi tranh liền bật rễ tung bay. Chàng chạy vun vút một mình không ai theo kịp. Còn Mtao Grư bước thấp bước cao, chạy trốn mũi giáo thần, mũi giáo dính đầy những oan hồn của Đăm Săn. Hắn nhằm đùi Đăm Săn phóng cây giáo của hắn tới, nhưng chỉ trúng một con lợn thiến.
ĐĂM SĂN: Sao diêng lại đâm con lợn thiến? Còn đùi ta diêng dành làm gì? Đây, diêng hãy xem ta. Cây giáo thần, cây giáo dính đầy oan hồn của Đăm Săn nhằm đùi kẻ thù phóng tới, đâm vừa trúng đích.
ĐĂM SĂN: Đùi diêng sao lại đỏ thế kia, ơ diêng?
MTAO GRƯ: Cái viền chăn của vợ hai chúng ta ở nhà đó.
Mtao Grư khập khiễng như gà gẫy cánh, lảo đảo như gà gẫy chân, vừa chạy vừa kêu oái oái ở bãi tây. Hắn tránh quanh chuồng lợn, Đăm Săn phá tan chuồng lợn. Hắn tránh quanh vườn cam, Đăm Săn phá nát vườn cam. Ba lần hắn chạy trốn về phía đông, ba lần hắn chạy trốn về phía tây, vướng hết thừng trâu đến chão voi. Cuối cùng không chạy được nữa, hắn ngã lăn quay ra đất. Đăm Săn nhảy tới giẫm lên chém đùi hắn.
MTAO GRƯ: Khoan, diêng. Hãy khoan, diêng! Để ta làm lễ cầu phúc cho diêng một trâu.
ĐĂM SĂN: Sao lại khoan? Chân ngươi đã đứt, đùi ngươi đã gãy. Máu ngươi đã chảy lênh láng khắp xóm làng. Đầu ngươi ta sẽ vứt trong rừng tranh. Hàm người ta sẽ bêu ngoài sân cỏ, cho kiến đen kiến đỏ chúng bầu. Người to gan lớn mật. Dám coi mình cao hơn cả non xanh. Vợ ta ngươi cướp, đùi ta ngươi chém, ruột gan ta ngươi moi. Khắp người Ê-đê trên cao, người Bih, người Mnông dưới thấp, khắp tây đông không có một ai như ngươi cả. (nói với tôi tớ) Ở các con, ở các con. Cái đầu hắn các con đem bêu ngoài cổng làng. Cái hàm hắn các con đem móc ngoài bãi cỏ, cho kiến đen kiến đỏ chúng bầu. (nói với dân làng Mtao Grư)
Hỡi nghìn chim sẻ, hỡi vạn chim ngói. Hỡi tất cả tôi tớ có ở đây, các người có đi với ta không?
(Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch, chỉnh lí, Sử thi Ê-đê, Khan Đăm Săn và Khan Đăm Kteh Milan, tập II, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003)
Chú thích:
Đăm Săn (hay còn gọi là Bài ca chàng Đăm Săn) là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Sử thi Đăm Săn thường được diễn xướng theo lối kể khan, trong đó già làng vừa kể, hát, vừa sử dụng nét mặt, điệu bộ để diễn tả câu chuyện bên bếp lửa nhiều đêm liền, trong các nhà dài, trên chòi rẫy, vào dịp lễ hội hay lúc nông nhàn. Nghe kể khan Đăm Săn là một truyền thống văn hoá của người Ê-đê. Sau khi đã chiến thắng Mtao Grự, Đăm Săn trở nên một tù trưởng giàu mạnh, danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi. Sau những ngày ăn mừng chiến thắng, Đăm Săn đã kêu gọi cả dân làng trồng giống lúa mới và bắt đầu tìm kiếm muông thú,
hải sản để phát triển cuộc sống.
Tóm tắt đoạn trích: Chiến thắng Mtao Grư thuộc phần giữa của tác phẩm: Sau khi kết duyên cùng hai chị em tù trưởng là Hơ Nhị và Hơ Bhi, Đăm Săn trở thành tù trưởng giàu có, nổi tiếng. Các thủ lĩnh (Mtao Gru và Mtao Mxay) đã lừa khi Đăm Săn cùng nô lệ lên nương, xuống sông lao động sản xuất, kéo người đến cướp phá buôn làng và bắt Hơ Nhị đi làm thuê, làm vợ. Cả hai lần Đăm Săn đều đánh trả và chiến thắng, vừa cứu được vợ, vừa sát nhập được đất đai, của cải của giặc, làm cho danh tiếng của chàng ngày càng nổi tiếng, bộ tộc ngày càng giàu có, đông đúc... Sau đó Đăm Săn cùng những người nô lệ sau chiến thắng trở về và ăn mừng, ăn mừng xa hoa.
Xác định đặc điểm của không gian sử thi được thể hiện trong đoạn trích.
- Vận dụng kiến thức về đặc trưng không gian sử thi
- Đọc kĩ văn bản để làm rõ đặc điểm không gian trong đoạn trích
- Đoạn trích xây dựng không gian sử thi rộng lớn, hùng vĩ và mang tầm vóc cộng đồng (không gian buôn làng với bờ rào tre, bờ rào lồ ô, cổng làng, nhà, chuồng lợn, vườn cam, bãi tây…); không gian thiên nhiên “ba lớp núi”, “ba đồi tranh”, “tây đông”, “non xanh”.
Chỉ ra những chi tiết cho thấy Đăm Săn có sức mạnh phi thường trong cuộc giao chiến với Mtao Grư.
- Đọc kĩ văn bản
- Tìm và chọn lọc các chi tiết trực tiếp miêu tả sức mạnh, tốc độ, khả năng chiến đấu của nhân vật; ưu tiên những chi tiết mang tính phóng đại, đặc trưng của sử thi.
Những chi tiết cho thấy Đăm Săn có sức mạnh phi thường trong cuộc giao chiến với Mtao Grư là:
- “Chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Chàng múa trên cao, vang lên tiếng đĩa khiên kênh.”
- “Chàng múa chạy nước kiệu, ba lớp núi liền rạn nứt, ba đồi tranh liền bật rễ tung bay.”
- “Chàng chạy vun vút một mình không ai theo kịp.”
- Khi Mtao Grư tấn công, “cây giáo thần... nhằm đùi kẻ thù phóng tới, đâm vừa trúng đích.”
Cuối cùng, Đăm Săn “nhảy tới giẫm lên chém đùi hắn”, khiến Mtao Grư không thể chạy trốn.
Để khắc họa tư thế và hành động chiến đấu của Đăm Săn, tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Chỉ ra và phân tích.
- Xác định biện pháp nghệ thuật nổi bật qua cách tác giả miêu tả nhân vật, đặc biệt chú ý so sánh, phóng đại, điệp cấu trúc, liệt kê.
- Phân tích tác dụng trên hai phương diện: hình thức nghệ thuật và nội dung khắc họa nhân vật.
- Để khắc họa tư thế và hành động chiến đấu của Đăm Săn, tác giả dân gian sử dụng nổi bật biện pháp so sánh kết hợp với phóng đại và điệp cấu trúc.
+ So sánh: “người của Đăm Săn đông như bầy catong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối”; “Mtao Grư khập khiễng như gà gẫy cánh, lảo đảo như gà gẫy chân”.
+ Phóng đại: “Chàng múa chạy nước kiệu, ba lớp núi liền rạn nứt, ba đồi tranh liền bật rễ tung bay”; “chạy vun vút một mình không ai theo kịp”.
+ Điệp cấu trúc: “Chàng múa dưới thấp... Chàng múa trên cao...”; “ba lần hắn chạy trốn về phía đông, ba lần hắn chạy trốn về phía tây”.
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu mạnh mẽ, dồn dập, phù hợp với không khí giao chiến của sử thi
+ Phóng đại tầm vóc, sức mạnh và uy thế của Đăm Săn, khiến người anh hùng hiện lên lớn lao, phi thường.
+ Tác giả dân gian bộc lộ sự ngưỡng mộ, tự hào đối với người anh hùng đại diện cho sức mạnh và khát vọng của cộng đồng.
Vì sao Đăm Săn sử dụng cây giáo thần – dính đầy oan hồn của mình để chiến đấu với Mtao Gru?
- Giải thích chi tiết dựa trên ngữ cảnh của văn bản và đặc trưng của sử thi
- Lưu ý không chỉ hiểu theo nghĩa tả thực mà cần xem xét ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh.
Đăm Săn sử dụng cây giáo thần “dính đầy oan hồn của Đăm Săn” để chiến đấu với Mtao Grư vì đây là vũ khí mang sức mạnh siêu nhiên, phù hợp với đặc trưng của thế giới sử thi. Cây giáo gắn với sức mạnh, uy quyền và tinh thần chiến đấu của người anh hùng Đăm Săn, giúp chàng chiến thắng kẻ thù. Hình ảnh “oan hồn của Đăm Săn” còn gợi sự đối đầu giữa Đăm Săn và Mtao Grư là cuộc chiến có tính chất báo thù, bảo vệ danh dự, bảo vệ cộng đồng, trong đó chính sức mạnh và chính nghĩa của người anh hùng được đề cao. Qua chi tiết này, nhân vật Đăm Săn càng được thần linh hóa, mang tầm vóc lớn lao, phi thường của người anh hùng sử thi.
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 6 - 10 câu) trình bày ngắn gọn suy nghĩ của em về thái độ và tình cảm của tác giả dân gian với người anh hùng Đăm Săn.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học ngắn
- Tập trung làm rõ thái độ, tình cảm của tác giả dân gian đối với nhân vật Đăm Săn qua các chi tiết, hình ảnh và cách xây dựng nhân vật trong đoạn trích.
Gợi ý:
- Thái độ, tình cảm: ngưỡng mộ, tự hào, yêu mến, tôn vinh người anh hùng Đăm Săn.
- Căn cứ:
+ Đăm Săn được miêu tả có sức mạnh phi thường, vượt xa người thường: “ba lớp núi liền rạn nứt, ba đồi tranh liền bật rễ tung bay”, “chạy vun vút một mình không ai theo kịp”.
+ Đăm Săn có tư thế chủ động, mạnh mẽ, hiên ngang, hoàn toàn áp đảo Mtao Grư.
+ Nghệ thuật phóng đại, so sánh, điệp cấu trúc góp phần nâng cao tầm vóc nhân vật.
+ Chiến thắng của Đăm Săn không chỉ là chiến thắng cá nhân mà còn góp phần bảo vệ danh dự, quyền lợi và sự giàu mạnh của cộng đồng.
- Ý nghĩa: Qua việc tôn vinh Đăm Săn, tác giả dân gian thể hiện ước mơ của cộng đồng về người anh hùng có sức mạnh, tài năng, lòng dũng cảm, đồng thời bộc lộ niềm tự hào về sức mạnh của cộng đồng Ê-đê.
II. VIẾT
Anh/chị hãy viết một bài luận (khoảng 500 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ thói quen lãng phí thời gian.
- Vận dụng kĩ năng viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen.
- Bài viết cần xác định rõ đối tượng cần thuyết phục, chỉ ra biểu hiện và tác hại của thói quen, đưa ra lí lẽ và dẫn chứng phù hợp, đồng thời đề xuất cách thay đổi khả thi.
a. Mở bài: Dẫn dắt và nêu vấn đề: Lãng phí thời gian là một thói quen xấu cần thay đổi, từ bỏ.
b. Thân bài:
- Giải thích: Lãng phí thời gian là sử dụng quỹ thời gian của mình vào những hoạt động không đem lại giá trị tương xứng, khiến những khoảng thời gian đáng lẽ dành cho học tập, làm việc, nghỉ ngơi hoặc phát triển bản thân bị bỏ phí.
- Biểu hiện thường gặp:
+ Dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội, trò chơi, phim ảnh, những nội dung giải trí thiếu kiểm soát.
+ Trì hoãn công việc, học tập.
+ Làm việc thiếu tập trung, thường xuyên mất thời gian vào những việc không cần thiết.
+ Không có kế hoạch, không biết ưu tiên nhiệm vụ.
+ Dành quá nhiều thời gian cho những cuộc trò chuyện, hoạt động vô bổ.
- Lý do nên từ bỏ thói quen hay quan niệm đó.
+ Thói quen lãng phí thời gian gây ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, công việc, sức khỏe,...của mỗi người.
+Lãng phí thời gian cho những thú vui tiêu khiển gây tốn kém về tiền bạc, của cải, công sức của chính mình và người khác đồng thời cũng khiến con người dễ sa vào các tệ nạn xã hội.
+“Thời gian là vàng” nên người lãng phí thời gian sẽ đánh mất cơ hội để thành công trong cuộc sống, không phát triển được bản thân, lâu dần sẽ bị tụt lùi về phía sau và bị xã hội đào thải.
+ Lãng phí thời gian làm việc vô nghĩa sẽ làm cho con người mất đi một phần đời của chính mình (lãng phí tuổi thanh xuân), có khi làm lãng phí cả cuộc đời bởi mỗi giây phút trôi qua sẽ không bao giờ trở lại.
- Cách từ bỏ và các bước từ bỏ thói quen lãng phí thời gian:
+ Nhận thức được những tác hại của thói quen lãng phí thời gian.
+ Cần biết quý trọng thời gian, lập thời gian biểu cho từng hoạt động trong ngày và cố gắng, quyết tâm thực hiện kế hoạch đã đề ra.
+ Lập danh sách thói quen xấu tiêu tốn thời gian và loại bỏ, thay thế bằng thói quen tốt như đọc sách để nâng cao kiến thức, mở rộng hiểu biết, rèn luyện kĩ năng sống,...
+ Tự giác làm chủ và quản lí thời gian học tập, lao động, nghỉ ngơi thư giãn đúng cách, hiệu quả.
+ Biết tiết kiệm thời gian, tận dụng thời gian để tạo ra những giá trị tốt đẹp cho bản thân cũng như xã hội (đi làm từ thiện, giúp đỡ những mảnh đời khó khăn,...)
+ Tuyên truyền đến bạn bè, người thân về vai trò quan trọng của thời gian để cùng cố gắng, cùng thay đổi thói quen lãng phí thời gian.
+ Dự đoán sự đồng tình, ủng hộ của những người xung quanh khi người được thuyết phục từ bỏ thói quen lãng phí thời gian: Khi đã nhận thức được những ảnh hưởng tiêu cực cũng như lí do để từ bỏ thói quen lãng phí thời gian, tin rằng trong mỗi người chúng ta không ai mong muốn cuộc đời mình cứ trôi qua một cách vô nghĩa. Bởi thời thời gian là vô hạn mà đời người thì hữu hạn, những người không bỏ lỡ thời gian chắc chắn sẽ ngày càng tiến gần hơn cánh cửa thành công, ước mơ và hạnh phúc đủ đầy,... Mọi hành động của ta hôm nay đều là quá trình hình thành kết quả sau này, vì vậy cần thay đổi bản thân trước khi quá muộn vì thời gian không cho phép chúng ta mãi lãng phí.
c. Kết bài: Nêu ý nghĩa của việc từ bỏ thói quen lãng phí thời gian





