Đề thi học kì 2 Văn 9 - Đề số 8
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
THU VỊNH - Nguyễn Khuyến
[…] Thu vịnh là nghĩa làm sao? Cứ xét nhóm từ này như một kết cấu độc lập thì có thể hiểu theo hai cách: Một là: vịnh mùa thu; hai là: làm thơ mùa thu. Xưa nay, nhiều người thường hiểu theo cách thứ nhất. Xét ra không đúng. Ấy là khi đặt nó vào hệ thống ba bài thơ thu: Thu điếu là câu cá mùa thu. Thu ẩm là uống rượu mùa thu, vậy thì Thu vịnh phải là làm thơ mùa thu. Ba việc làm khác nhau, ba tâm trạng khác nhau nhưng đều cùng dưới trời thu cả. Thu vịnh có tả cảnh mùa thu nhưng không phải vịnh mùa thu.
Câu 1- 2.
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nền trời thu Xanh ngắt là xanh mà có chiều sâu. Mấy tầng cao tức là rất cao, tưởng như có nhiều lớp nhiều tầng. Trời thu không mây, xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng, mấy tầng cao càng gợi ra cái lắng, cái sâu thêm.
Cần trúc chỉ cây tre mảnh khảnh uốn cong như cần câu hoặc cây măng chưa ra lá, ngọn còn in hình cần câu; Tre hay măng gì cũng được, miễn là có cái dáng thanh thanh, cong cong có duyên. Nền trời thu mà quy lại chỉ có màu xanh ngắt thì hàng tre cũng thu lại dáng cần trúc là phải, vậy mới hài hòa. Lơ phơ: không phải phất phơ mà đong đưa khẽ khẽ nhưng rõ nhất là thưa thớt mảnh khảnh, và như có gì bên trong. Gió hắt hiu: gió không mạnh nhưng không ra buồn, không như đìu hiu, và cũng như có gì bên trong.
Tất cả đều như có một mối cảm thông thầm, lặng sâu kín rất êm rất nhẹ, chừng như vi tế, rất khó nắm bắt. Xanh ngắt những mấy tầng cao thì mới càng ngắt xanh mấy tầng cao mà vẫn một màu xanh ngắt thì cái cao mới càng thăm thẳm. Cần trúc có gió hắt hiu thì mới lơ phơ, có cần trúc lơ phơ thì mới biết có gió hắt hiu. Cấu trúc có chút gió để đong đưa khe khẽ nhưng đong đưa cũng chỉ khe khẽ gần như đứng yên. Trên nền trời thu xanh thẳm lại im lìm mấy cần trúc mảnh khảnh, lơ phơ. Cái động của cần trúc càng tăng cái lặng thinh sâu thẳm của màu trời. Màu trời sâu thẳm, lặng thinh lại như dồn tất cả cái sâu lắng vào bên trong của một mình cần trúc, để cho nó vừa đủ đong đưa mà cũng vừa đủ đứng yên. Đó là nói cái động và cái tĩnh. Còn cái mênh mông của bầu trời mà không có cái lơ phơ vài ngọn uốn cong của cần trúc thì làm sao mà mông mênh? Và cái cần trúc khẳng kheo ấy không được bầu trời mênh mông làm nền thì làm sao tỏ hết được cái lơ phơ? Vậy hai câu đề thủy mạc hai nét cảnh thu, đơn sơ thanh thoát, nhưng là cảnh thu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả: cảnh thu làm thơ. Trong đó, mọi chi tiết, màu sắc, đường nét, cử động đều hài hòa, giao cảm với nhau thành một nỗi niềm gì đó, sâu lắng, vi tế lặn vào bên trong, nhưng lại có sức ngân man mác. Nói trời thu nhưng đã là hồn thu […]
(Lê Trí Viễn – in trong Những bài giảng văn chọn lọc, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1998)
Em hãy cho biết văn bản trên thuộc thể loại gì?
Dựa vào đặc điểm nội dung và cách trình bày của văn bản để xác định thể loại.
Thể loại của văn bản: văn bản nghị luận văn học
Vấn đề được đề cập đến trong văn bản trên là gì?
Đọc kĩ văn bản, xác định nội dung chính được tác giả tập trung phân tích và làm rõ qua các câu thơ trong bài Thu vịnh
Văn bản bàn về cảnh thu, hồn thu và tình thu trong hai câu đề bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến.
Chỉ ra và phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ trong đoạn văn sau:
Còn cái mênh mông của bầu trời mà không có cái lơ phơ vài ngọn uốn cong của cần trúc thì làm sao mà mông mênh? Và cái cần trúc khẳng kheo ấy không được bầu trời mênh mông làm nền thì làm sao tỏ hết được cái lơ phơ?
Xác định các câu hỏi không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời, phân tích tác dụng của chúng trong việc nhấn mạnh mối quan hệ giữa cảnh vật và làm nổi bật cách cảm nhận, đánh giá của tác giả.
- Biện pháp đặt câu hỏi tu từ: thì làm sao mà mông mênh? làm sao tỏ hết được cái lơ phơ?
- Tác dụng:
+ Bày tỏ cảm xúc của người viết. Khơi gợi suy nghĩ cho người đọc.
+ Tạo âm điệu tha thiết, ấn tượng.
Xác định một câu văn trình bày vấn đề khách quan và một câu văn trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn trích phần đọc hiểu.
Phân biệt câu văn trình bày vấn đề khách quan với câu văn thể hiện nhận xét, cảm xúc hoặc đánh giá chủ quan của người viết
- Khách quan:
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nền trời thu Xanh ngắt là xanh mà có chiều sâu. Mấy tầng cao tức là rất cao, tưởng như có nhiều lớp nhiều tầng.
- Chủ quan: Trời thu không mây, xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng, mấy tầng cao càng gợi ra cái lắng, cái sâu thêm.
Phần II. Viết
Viết bài văn nghị luận bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về vấn đề: Tuổi trẻ với sự trải nghiệm.
Xác định vấn đề nghị luận là tuổi trẻ với sự trải nghiệm; triển khai bài văn theo bố cục ba phần, lần lượt giải thích khái niệm, phân tích ý nghĩa của trải nghiệm đối với người trẻ, đưa ra dẫn chứng, bàn luận ý kiến trái chiều và rút ra bài học nhận thức, hành động cho bản thân.
1. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tuổi trẻ và sự trải nghiệm – một yếu tố quan trọng giúp con người trưởng thành và phát triển.
- Khẳng định vai trò của trải nghiệm đối với tuổi trẻ: Giúp rèn luyện kỹ năng, mở rộng tư duy, tích lũy kiến thức và bản lĩnh sống.
2. Thân bài
- Trải nghiệm là quá trình con người trực tiếp tham gia, khám phá, học hỏi và rút ra bài học từ thực tế cuộc sống.
- Ý nghĩa sự trải nghiệm:
+ Mở rộng kiến thức và tầm nhìn: Học hỏi từ thực tế giúp bổ sung những điều mà sách vở không thể dạy hết.
+ Rèn luyện kỹ năng sống: Kinh nghiệm thực tế giúp mỗi người thích nghi với hoàn cảnh, xử lý tình huống tốt hơn.
+ Phát triển sự sáng tạo và tư duy phản biện: Những va chạm thực tế kích thích suy nghĩ sâu sắc, đổi mới cách nhìn nhận vấn đề.
+ Xây dựng bản lĩnh và sự tự tin: Dám thử thách, dám sai, dám đứng lên sau thất bại để trưởng thành hơn.
- Để trải nghiệm, chúng ta có thể:
+ Học hỏi và thử thách bản thân: Không ngại tiếp xúc với điều mới, tham gia các hoạt động ngoại khóa, đi du lịch, giao lưu văn hóa.
+ Làm việc thực tế: Tham gia các công việc làm thêm, thực tập để hiểu về thế giới lao động.
+ Chấp nhận thất bại: Thất bại là một phần của trải nghiệm, giúp ta rút ra bài học quý giá.
+ Không ngừng học hỏi: Đọc sách, tiếp cận tri thức mới, nâng cao kỹ năng cá nhân.
- Một số bạn trẻ ngại thử thách, sợ thất bại, chỉ muốn an toàn → Dẫn đến lối sống thụ động, thiếu bản lĩnh. Một số người trải nghiệm thiếu chọn lọc (sa đà vào những thú vui vô bổ, tiêu cực) → Gây ảnh hưởng tiêu cực đến tương lai.
3. Kết bài
- Khẳng định lại vai trò quan trọng của trải nghiệm đối với tuổi trẻ.
- Kêu gọi mỗi người trẻ hãy mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn, dám thử thách bản thân để học hỏi và trưởng thành hơn.





