Đề thi học kì 2 Văn 7 - Đề số 4
FlashcardsHọc Flashcards
Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Tốc độĐấu trường tốc độ
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau:
THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000
Ngày 22 tháng 4 hằng năm được gọi là Ngày Trái Đất do một tổ chức bảo vệ môi trường của Mĩ khởi xướng từ năm 1970. Từ đó đến nay đã có 141 nước trên thế giới tham gia tổ chức này, với quy mô và nội dung thiết thực về bảo vệ môi trường.
Ngày Trái Đất hằng năm được tổ chức theo những chủ đề liên quan đến những vấn đề môi trường nóng bỏng nhất của từng nước hoặc từng khu vực.
Năm 2000 là năm đầu tiên Việt Nam tham gia Ngày Trái Đất với chủ đề “Một ngày không dùng bao bì ni lông”.
Như chúng ta đã biết, việc sử dụng bao bì ni lông có thể gây nguy hại đối với môi trường bởi đặc tính không phân huỷ (1) của pla-xtíc (2). Hiện nay ở Việt Nam mỗi ngày thải ra hàng triệu bao bì ni lông, một phần được thu gom, phần lớn bị vứt bừa bãi khắp nơi công cộng, ao hồ, sông ngòi.
Theo các nhà khoa học, bao bì ni lông lẫn vào đất vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải. Đặc biệt bao bì ni lông màu đựng thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm do chứa các kim loại như chì, ca-đi-mi (3) gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi. Nguy hiểm nhất là khi các bao bì ni lông thải bỏ bị đốt, các khí độc thải ra đặc biệt là chất đi-ô-xin (4) có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó thở, nôn ra máu, ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết (5), giảm khả năng miễn dịch (6), gây rối loạn chức năng, gây ung thư và các dị tật bẩm sinh (7) cho trẻ sơ sinh.
[…]
(1) Phân hủy: (hiện tượng một chất) phân chia thành những chất khác nhau, không còn mang tính chất của chất ban đầu.
(2) Pla-xtíc: chất dẻo.
(3) Ca-đi-mi: một kim loại, sản phẩm phụ của quá trình sản xuất kẽm, chì, đồng từ quặng.
(4) Đi-ô-xin: chất rắn, không màu, rất độc, chỉ cần nhiễm một lượng nhỏ cũng đủ nguy hiểm.
(5) Tuyến nội tiết: tuyến mà chất tiết ra của nó ngấm thẳng vào máu, có tác dụng bảo đảm hoạt động sinh lí bình thường của cơ thể
(6) Miễn dịch: (trạng thái của cơ thể) chống lại được một bệnh nào đó
(7) Dị tật bẩm sinh: hiện tượng biến đổi bất thường về hình dạng của bộ phận nào đó trong cơ thể (dị tật) đã có từ khi sinh ra (bẩm sinh)
(Theo tài liệu của Sở Khoa học – công nghệ Hà Nội)
Nhận định nào đúng với văn bản “Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000”?
Dựa vào nhan đề và nội dung văn bản, xác định thông tin chính xác về nguồn gốc, ý nghĩa của Ngày Trái Đất năm 2000.
Là văn bản được soạn thảo dựa trên bức thông điệp của 13 cơ quan nhà nước và tổ chức phi chính phủ phát đi ngày 22 – 04 – 2000 nhân lần đầu tiên Việt Nam tham gia Ngày Trái Đất.
“Một ngày không sử dụng bao bì ni lông” là chủ đề của Ngày Trái Đất của quốc gia hay của khu vực nào?
Tìm đoạn văn nêu chủ đề Ngày Trái Đất năm 2000, từ đó xác định quốc gia hoặc khu vực áp dụng chủ đề này.
Đây là ngày của toàn thế giới.
Trong văn bản trên, tác giả đã chỉ ra điều gì là nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho việc dùng bao bì ni lông có thể gây nguy hại với môi trường tự nhiên?
Đọc kĩ đoạn văn giải thích tác hại của bao bì ni lông, xác định đặc tính được tác giả nhấn mạnh là nguyên nhân cơ bản gây hại cho môi trường.
Tính không phân hủy của pla–xtic là nguyên nhân cơ bản nhất khiến cho việc dùng bao bì ni lông có thể gây nguy hại với môi trường tự nhiên.
Nhận định nào không nói về tác hại của bao bì ni lông đối với môi trường tự nhiên?
Đối chiếu từng phương án với văn bản, xác định ý không nói về tác hại của bao bì ni lông đối với môi trường tự nhiên.
Bao bì ni lông màu đựng thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm do chứa các kim loại như chì, ca-đi-mi gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi
Trong văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000, bao bì ni lông được coi là gì?
Dựa vào nội dung văn bản, xác định loại rác thải mà bao bì ni lông được xếp vào trong đời sống hằng ngày.
Trong văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000, bao bì ni lông được coi là một loại rác thải sinh hoạt
Ý nào nói lên mục đích lớn nhất của tác giả khi viết văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000?
Xác định mục đích chính của văn bản thông qua nội dung thông tin và lời kêu gọi thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông
Mục đích lớn nhất của tác giả khi viết văn bản Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 là để góp phần vào việc tuyên truyền và bảo vệ môi trường của Trái Đất.
Trong câu: “Từ đó đến nay đã có 141 nước trên thế giới tham gia tổ chức này, với quy mô và nội dung thiết thực về bảo vệ môi trường.” từ nào là phó từ?
Xác định từ bổ sung ý nghĩa về thời gian, mức độ hoặc sự tiếp diễn cho động từ trong câu để nhận diện phó từ.
Phó từ: đã.
Phép liên kết nào được dùng để liên kết câu trong hai câu văn: “Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải. Đặc biệt bao bì ni lông màu đựng thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm do chứa các kim loại như chì, ca-đi-mi (3) gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi.”
Xác định từ ngữ có tác dụng liên kết hai câu văn, chú ý mối quan hệ giữa các câu và cách sử dụng từ ngữ ở đầu câu thứ hai
Phép lặp: bao bì ni lông.
Từ văn bản trên, theo em cần phải làm gì để giảm tác hại của bao bì ni lông?
Từ những tác hại của bao bì ni lông được nêu trong văn bản, đề xuất các biện pháp thiết thực để hạn chế sử dụng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Để giảm tác hại của bao bì ni lông:
- Thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông.
- Không sử dụng bao bì ni lông khi không cần thiết.
- Sử dụng các túi đựng không phải bằng ni lông mà bằng giấy, lá, nhất là khi dùng để gọi thực phẩm.
- Tuyên truyền về tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông cho mọi người biết.
Theo em, em sẽ làm gì với bao bì ni lông sau khi đã sử dụng?
Liên hệ với thực tế sử dụng bao bì ni lông của bản thân, nêu cách thu gom, phân loại và xử lí phù hợp sau khi sử dụng.
Một số hành động của bản thân với bao bì ni lông sau khi đã sử dụng: Không vứt bừa bãi ra môi trường, giặt phơi khô để dùng lại, thu gom để đem tái chế, ...
Phần II. Viết
Ham mê trò chơi điện tử, nên hay không nên?
Xác định vấn đề nghị luận; triển khai bài văn theo bố cục ba phần, trình bày quan điểm rõ ràng, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ lợi ích, tác hại của trò chơi điện tử khi sử dụng không hợp lí, từ đó đề xuất cách chơi phù hợp.
1. Mở bài
- Nêu vấn đề nghị luận: Ham mê trò chơi điện tử, nên hay không nên?
2. Thân bài
a. Giải thích vấn đề nghị luận
- Trò chơi điện tử: Trò chơi điện tử là trò chơi sử dụng thiết bị điện tử để tạo ra một hệ thống tương tác với người chơi nhằm mục đích chính là giải trí. Đối tượng của trò chơi điện tử là: trẻ em, thanh thiếu niên và cả người trưởng thành.
- Ham mê là ưa thích tới mức say mê.
=> Ham mê trò chơi điện tử là ưa thích, say mê những trò chơi có sử dụng thiết bị điện tử.
b. Bàn luận:
* Lợi ích của trò chơi điện tử
- Là phương tiện giải trí thú vị giúp thư giãn, giải tỏa căng thẳng mệt mỏi
- Dễ dàng giao lưu, trò chuyện, kết bạn, tạo sự gắn kết giữa người chơi với nhau, mở rộng các mối quan hệ với nhiều người xung quanh.
- Nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức, rèn luyện lại các nội dung đã học hoặc thêm trải nghiệm về đời sống.
* Tác hại của trò chơi điện tử
- Tiếp xúc với môi trường mới lạ của thế giới ảo khiến giới trẻ dễ “nghiện” trò chơi điện tử
- Quá say mê với trò chơi có thể khiến kết quả học tập của học sinh ngày càng giảm sút (trốn học, bỏ tiết, lơ đễnh trong giờ học,...)
- Nguy cơ khi chơi nhiều và chơi không để ý thời gian:
+ Gây ảo giác, nhầm lẫn giữa trò chơi và đời thực.
+ Ảnh hưởng sức khỏe, độ minh mẫn do thường xuyên thức khuya, ngồi hàng giờ trước máy tính chơi game
- Học sinh dễ bị lôi kéo, học thói xấu, sa vào tệ nạn xã hội (môi trường trò chơi đôi khi tạo ra nhiều mối quan hệ phức tạp, học sinh dễ tiếp xúc với các yếu tố kém lành mạnh, ý thức tự chủ ở giới trẻ còn kém,...)
- Các bạn trẻ dễ mất kiểm soát về tiền bạc, thời gian (nhu cầu cạnh tranh, khẳng định bản thân trong trò chơi yêu cầu các em bỏ nhiều tiền vào game để nâng cấp trang bị, mua sắm, dành nhiều thời gian cày game để dạt thứ hạng cao,...)
* Giải pháp để trò chơi điện tử là một công cụ có ích cho con người
- Cha mẹ nên dành nhiều thời gian hơn cho việc quan tâm, chăm sóc, quản lý con cái.
- Nhà trường tổ chức nhiều hoạt động vui chơi lành mạnh giúp học sinh bớt căng thẳng sau giờ học.
- Các cơ quan, tổ chức cần có các biện pháp quản lí các trò chơi điện tử, kiểm soát nghiêm ngặt hơn trước khi đưa trò chơi điện tử ra thị trường, nâng cao phát triển các trò chơi lành mạnh.
- Phát triển các hình thức giải trí khác bên cạnh trò chơi điện tử.
- Các cơ quan chức năng cần quản lý chặt về thời gian hoạt động của các quán game internet, đặc biệt những cửa hàng trò chơi điện tử mọc quanh khu vực các trường học.
- Bản thân học sinh, sinh viên nên tự xây dựng ý thức cá nhân trong việc phân chia hợp lý quỹ thời gian học tập và chơi trò chơi điện tử.
3. Kết bài
- Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận: Ham mê trò chơi điện tử không xấu, ham mê mà làm ảnh hưởng tới sức khỏe, chất lượng cuộc sống, học tập mới xấu.
- Đưa ra ý kiến mở rộng, lời bình luận hoặc phương hướng giải quyết vấn đề theo ý của em.





