Đề thi học kì 2 Văn 7 - Đề số 2
FlashcardsHọc Flashcards
Ghi nhớ nhanh các công thức và kiến thức trọng tâm.
Tốc độĐấu trường tốc độ
Làm từng câu hỏi dưới áp lực thời gian.
Phần I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và khi không còn nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình.
Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó. Việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang.com.vn, ngày 19-7-2007)
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là:
Dựa vào mục đích và cách triển khai nội dung của văn bản để xác định phương thức biểu đạt chính.
Phương thức nghị luận.
Câu chủ đề của đoạn văn là câu:
Đọc kĩ đoạn văn đầu, xác định câu nêu ý khái quát, làm cơ sở triển khai các câu tiếp theo.
Câu chủ đề là: Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ.
Trong các từ sau, từ nào là từ láy?
Xác định đặc điểm cấu tạo của từ láy.
Từ láy: mòm mỏi.
Tác giả thể hiện thái độ gì qua đoạn trích trên?
Dựa vào nội dung và lời đề nghị của tác giả để xác định thái độ, tình cảm của tác giả đối với việc đọc sách.
Thái độ của tác giả: Trân trọng sách, khẳng định lợi ích đọc sách.
Nội dung chính của văn bản là:
Khái quát nội dung xuyên suốt văn bản, chú ý mối quan hệ giữa vai trò của việc đọc sách và đề nghị phát triển phong trào đọc sách.
Nội dung: Vai trò của việc đọc sách.
Trong các từ sau, từ nào không phải là từ Hán Việt?
Dựa vào nguồn gốc và đặc điểm cấu tạo của từ để phân biệt từ Hán Việt với từ thuần Việt.
Từ: Lâu dài.
Xác định phép liên kết trong câu: Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa.
Xác định những từ ngữ được lặp lại giữa hai câu, từ đó nhận diện phép liên kết được sử dụng.
Phép lặp: trí tuệ, cuộc sống, đọc sách.
Trong văn bản, để phát triển phong trào đọc sách trong các tổ chức thanh niên, tác giả đã đề nghị điều gì?
Tìm thông tin trực tiếp trong đoạn văn nêu đề nghị của tác giả, sau đó đối chiếu với các phương án.
Tác giả đã đề nghị: Cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình.
Vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa”?
Phân tích mối quan hệ giữa việc đọc sách với nhu cầu phát triển trí tuệ, đời sống tinh thần và nền tảng đạo đức của con người để lí giải ý kiến.
Tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa” vì: không đọc sách là không có nhu cầu hiểu biết, mở mang kiến thức, đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng.
Theo em “việc nhỏ” và “công cuộc lớn” mà tác giả đề cập đến trong đoạn văn là gì?
Dựa vào câu văn cuối để xác định việc làm cụ thể được gọi là “việc nhỏ” và mục tiêu lớn lao mà việc làm đó hướng tới.
Theo em “việc nhỏ” và “công cuộc lớn” mà tác giả đề cập đến trong đoạn văn là:
“việc nhỏ”:
+ Vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình.
+ Mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách, đến mỗi người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách
- “công cuộc lớn”: đọc sách trở thành ý thức thành nhu cầu của mỗi người, mỗi gia đình, việc đọc sách trở thành văn hóa của đất nước.
Phần II. Viết
Viết một bài văn trình bày ý kiến của em về vấn đề đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe đạp điện và xe máy.
- Xác định vấn đề nghị luận là việc đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp điện và xe máy.
- Triển khai bài viết theo bố cục mở bài, thân bài, kết bài; làm rõ thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, ý nghĩa và giải pháp, kết hợp lí lẽ cùng dẫn chứng phù hợp để thể hiện quan điểm của bản thân.
I. Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Hiện nay khi tham gia giao thông có nhiều không sinh đi xe đạp điện không đội mũ bảo hiểm.
II. Thân bài:
1. Giải thích vấn đề:
- Với giá cả hợp lý, đa dạng mẫu mã thì xe đạp điện đã trở thành một phương tiện được giới trẻ yêu thích, đặc biệt là học sinh THCS và THPT.
- Tuy nhiên, khi tham gia giao thông, người điều khiển phương tiện này phải đội mũ bảo hiểm đúng theo quy định của Luật giao thông đường bộ.
2. Thực trạng:
- Đa số học sinh đều có ý thức đội mũ bảo hiểm khi điều khiển xe đạp điện.
- Tuy nhiên, tại các trường học, có thể dễ dàng quan sát thấy rõ nhất vào thời điểm tan học, hình ảnh một số học sinh đi xe đạp điện nhưng không đội mũ bảo hiểm.
- Hoặc có nhiều học sinh đội mũ bảo hiểm nhưng chỉ để đối phó: khi có sự giám sát của nhà trường, lực lượng cảnh sát giao thông…
3. Nguyên nhân:
- Các em học sinh chưa có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông.
- Do còn xem nhẹ tính mạng của bản thân.
- Cho rằng đội mũ bảo rất nặng nề, nóng bức và cản trở tầm nhìn.
- Thích thể hiện mình khác người.
- Do sự giám sát của lực lượng giao thông, gia đình và nhà trường còn chưa chặt chẽ…
4. Hậu quả:
- Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông, nếu xảy ra tai nạn sẽ gặp phải những chấn thương nghiêm trọng ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của bản thân.
- Không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông làm mất đi nét đẹp văn minh đô thị.
5. Biện pháp:
- Tích cực tổ chức các buổi trò chuyện để tuyên truyền về Luật giao thông đường bộ: đặc biệt chú ý đến vai trò của chiếc mũ bảo hiểm đối với người tham gia điều khiển phương tiện giao thông (xe đạp điện, xe máy).
- Gia đình và nhà trường phải tích cực giám sát và phối hợp với lực lượng chức năng để xử lý những hành vi không chấp hành đúng quy định.
- Mỗi cá nhân phải tự ý thức chấp hành để bảo vệ bản thân và cũng là bảo vệ mọi người.
III. Kết bài:
- Mỗi học sinh khi tham gia giao thông hãy nghiêm chỉnh chấp hành để xây dựng một đất nước văn minh, hiện đại.
- Đội mũ bảo hiểm chính là bảo vệ bản thân và gia đình.





