Đề thi học kì 1 Văn 7 - Đề số 10
Phần I. Đọc hiểu
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi:
VỀ MÙA XOÀI MẸ THÍCH
| Quả xoài xưa Mẹ thíchcứ gợi mãi trong concái hương thơm chín nứccái quả bé tròn trònKhi cây xoài trước ngõlấp ló trái vàng hoeđủ nhắc cho con nhớmùa hạ đã gần vềCầm quả xoài của Mẹcầm cả mùa trên tayCắn miếng xoài ngọt lịmvị đầu lưỡi thơm hoài | Vô tình hay hữu ýxoài mang hình quả tim?Riêng con thì con nghĩđấy - lòng Mẹ ngọt mềmTóc xõa rồi tóc búimột đời mẹ chắt chiuxoài non rồi chín tớiquả lúng lắng cành treoNghe hương xoài bay theotừng bước chân của Mẹthơm lựng vào lời kênhững câu chuyện đời xưa. | Ngỡ hạt mưa đầu mùalà hột xoài trong suốtnhìn vỏ xoài Mẹ gọtcon gọi: cánh hoàng lan ...Ngỡ nhìn cả mùa vàngnằm trong bàn tay MẹTrọn một đời thơ béướp lẫn với hương xoài.Nhưng rồi có một ngàytrái xoài già rụng cuống ...Tháng hạ không đến sớmdù cho quả xoài vàngtháng hạ không đến muộnđủ nhắc con mùa sang.Ngào ngạt khắp không gianhương xoài xưa Mẹ thích. |
Xác định thể thơ của bài thơ trên? Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là gì?
Dựa vào số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần và nhịp thơ để xác định thể thơ; căn cứ nội dung nổi bật để xác định phương thức biểu đạt chính.
- Thể thơ: 5 chữ.
- Phương thức biểu đạt chính là: biểu cảm.
Tìm một số từ ngữ, hình ảnh miêu tả “quả xoài của mẹ” qua cách nhìn, cách cảm của người con. Nhận xét về điểm chung của những từ ngữ, hình ảnh ây. Cách miêu tả như vậy có tác dụng gì?
Đọc kĩ bài thơ, tìm các từ ngữ, hình ảnh miêu tả quả xoài qua cảm nhận của người con; nhận xét điểm chung và tác dụng của cách miêu tả đó.
Một số từ ngữ miêu tả hình ảnh quả xoài của mẹ qua cách nhìn, cách cảm của người con: hương thơm chín nức, quả Bé tròn tròn, ngọt lịm, xoài mang hình quả tim, hội xoài trong suốt - hạt mưa đầu mùa, vỏ xoài - cánh hoàng lan. Tất cả các hình ảnh ấy đều rất đẹp đẽ và ngọt ngào. Tác dụng:
- Góp phần khắc họa hình ảnh mộc mạc, thân thương của “quá xoài xưa Mẹ thích”. - Tất cả những hình ảnh ấy được hiện lên qua sự hoài niệm ngọt ngào của người con. Điều đó cho thấy những øì thuộc về mẹ là một vùng ký ức ngọt ngào. thiêng liêng đối với tác giả. Qua đó, người đọc cũng cảm nhận rõ hơn về những tình cảm yêu thương. trân quý của một đứa con dành cho mẹ.
Tìm và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:
Nhưng rồi có một ngày
trái xoài già rụng cuống...
Tháng hạ không đến sớm
dù cho quả xoài vàng
tháng hạ không đến muộn
đủ nhắc con mùa sang.
Đọc đoạn thơ, chú ý cách diễn đạt và sự lặp lại của từ ngữ, hình ảnh; xác định biện pháp tu từ và phân tích tác dụng đối với việc thể hiện nội dung, cảm xúc.
Hình ánh “trái xoài già rụng cuồng” là hình ảnh ẩn dụ gợi liên tưởng tới sự ra đi của mẹ. Hình ảnh trái xoài ấy gắn liền với những kí ức ngọt ngào về mẹ. Vì vậy khi sử dụng hình ảnh ấy để diễn tả sự ra đi của mẹ, tác giả đem đến cho người đọc sự hình dung rõ nét về nỗi đau, niềm tiếc thương và cả sự hụt hẫng, mất mát những kí ức rất đẹp của chính bán thân mình.
Xác định chủ đề và thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc.
Khái quát nội dung xuyên suốt bài thơ để xác định chủ đề; từ tình cảm của người con dành cho mẹ, rút ra thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.
Qua việc hồi tưởng về những kí ức gắn liền với cây xoài của mẹ, tác giả thể hiện sự yêu thương. kính trọng dành cho người mẹ của mình và cá những tiếc nuối, hụt hẫng. buồn bã trước sự ra đi của mẹ. - Thông điệp: Kí ức ngọt ngào. quý giá về những người thân yêu có thể gắn liền với những điều thật giản dị, gần gũi, nhỏ bé....
Phần II. Viết
Trong các bài học, em đã được làm quen với nhiều nhân vật văn học thú vị. Hãy viết một bài văn phân tích đặc điểm của một nhân vật văn học mà em yêu thích.
1. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm văn học và nhân vật; nếu khái quát ấn tượng về nhân vật
2. Thân bài: Phân tích đặc điểm của nhân vật (chỉ ra đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chúng trong tác phẩm và nhận xét, đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn.
Ý1…
Ý2…
Ý3…
3. Kết bài: Nêu ấn tượng và đánh giá về nhân vật.
Puskin từng viết “Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm. Cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng, chim muông sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút”. Vì vậy, nhà văn Andersen đã viết lên truyện Cô bé bán diêm khiến người đọc đầy oán trách và xót xa. Trong truyện, hình ảnh cô bé bán diêm gầy gò, bất hạnh hiện lên đã để lại ấn tượng trong em sâu sắc.
Cô bé bán diêm là một trong nhiều truyện ngụ ngôn của Andersen được tuyển tập lại. Truyện kể về một cô bé bán diêm trong một đêm lạnh giá của một ngày cuối năm và cô bé đã chết dưới cái tuyết lạnh lẽo trước thềm năm mới. Số phận đã không mỉm cười với cô bé nhưng cô đã cố gắng để thoát khỏi nó. Sống trong cảnh nghèo đói với ông bố nát rượi hành hạ, cô bé phải đi bán diêm trong đêm giá lạnh lẽo. Một đứa trẻ đáng lí phải được hưởng cuộc sống hạnh phúc giờ đây phải vật lộn mưu sinh trong cái rét của mùa đông. Hình ảnh cô bé quẹt que diêm cùng với ba điều ước giản dị như thể hiện khát khao mãnh liệt muốn vượt lên số phận, thoát khỏi bể khổ của cô bé xấu số. Cô bé chính là đại diện cho một tầng lớp người thời bấy giờ, bất hạnh nhưng không ngừng đấu tranh cho chính bản thân.
Không dừng lại ở đó, qua hình ảnh cô bé đáng thương, tác giả cũng muốn phê phán sự thờ ơ của con người lúc bấy giờ. Hình ảnh một cô bé rách rưới, ăn mặc mỏng manh đi lại giữ phố giữ bầu trời tuyết rơi nhưng cũng không một ai hỏi han hay có ý định giúp đỡ. Dường như họ đều là những người vô cảm, ích kỉ. Họ không mảy may xúc động trước số phận bất hạnh của người khác và chỉ nghĩ cho bản thân. Chính sự thờ ơ của họ là một trong những nguyên nhân giết chết cô bé bán diêm và tác giả muốn phê phán sự ích kỉ đó.
Kết thúc câu chuyện là hình ảnh cô bé chết trong một góc phố với nụ cười trên môi. Có lẽ ở một thế giới xa xôi, em sẽ có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc với bà của mình. Truyện kết thúc để lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ, liên tưởng về con người và xã hội của một giai đoạn lịch sử.





