Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 10 - Đề số 14
I. ĐỌC HIỂU
Đọc hiểu văn bản và trả lời những câu hỏi phía dưới:
CẢNH NGÀY HÈ
(Trích Bảo kính cảnh giới - Nguyễn Trãi)
Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hoè lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
Nhận xét về cảnh sắc thiên nhiên được miểu tả trong bài thơ.
Căn cứ vào các hình ảnh, màu sắc, âm thanh và từ ngữ miêu tả thiên nhiên trong văn bản.
Bức tranh thiên nhiên ngày hè hiện lên tươi đẹp, rực rỡ, sinh động và tràn đầy sức sống. Cây hòe xanh tỏa bóng, hoa lựu đỏ rực, hoa sen tỏa hương thơm ngát. Thiên nhiên không tĩnh lặng mà vận động mạnh mẽ, hòa quyện với âm thanh rộn ràng của cuộc sống con người.
Cách tác giả dùng các động từ đùn đùn, giương, phun trong bài thơ cho ta cảm nhận gì về cảnh mùa hè ?
Phân tích ý nghĩa biểu đạt của từ ngữ, chú ý sắc thái gợi hình và khả năng diễn tả sự vận động của cảnh vật.
Cách tác giả dùng các động từ đùn đùn, giương, phun trong bài thơ cho ta cảm nhận sự sống mạnh mẽ của thiên nhiên.
Theo em, cảnh vật ở đây có sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc, cảnh vật và con người hay không? Lý giải?
Phân tích các chi tiết miêu tả âm thanh, màu sắc, cảnh vật và dấu hiệu về đời sống con người; từ đó nhận xét sự hài hòa giữa các yếu tố.
- Trong bài thơ có các màu sắc: màu xanh của cây hoa hòe, màu đỏ của hoa lựa, hoa sen (có cả mùi thơm của hương sen), tất cả đều dưới ánh nắng chiều màu vàng (lầu tịch dương).
- Bài thơ còn có các âm thanh như tiếng "lao xao" của "chợ cá làng ngư phủ", tiếng rên rỉ (từ cổ; "dắng dỏi") của ve sầu nghe như tiếng đàn (cầm ve) từ trên lầu dưới ánh nắng chiều.
- Trong bức tranh mùa hè còn có sự hài hòa giữa cảnh vật và con người. Tuy ít nói tới con người nhưng ta vẫn thấy dấu vết, hình bóng con người rất gần gũi: những cây hòe, cây lựu, hồ sen... không phải là những thực vật hoang dã mà có sự tham gia chăm sóc của bàn tay con người. Cho nên, bên cạnh các hình ảnh thiên nhiên ấy còn thấy có cái hiên nhà (Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ), cái ao (trì) (Hồng liên trì đã tiễn mùi hương), và cả ngôi lầu (Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương). Đặc biệt, có rất nhiều âm thanh tiếng người được nghe từ xa ("Lao xao chợ cá làng ngư phủ")...
- Các hình ảnh, màu sắc, âm thanh, mùi vị: hài hòa giữa con người với cảnh vật, là tất cả những vẻ đẹp bình dị, gần gũi, thân thuộc của quê hương, đất nước con người Việt Nam.
Nhà thơ đã cảm nhận cảnh vật bằng những giác quan nào? Qua sự cảm nhận ấy, anh (chị) thấy nhà thơ có tấm lòng như thế nào đối với thiên nhiên.
Xác định những chi tiết gợi tả hình ảnh, âm thanh, mùi hương và cảm giác; từ đó rút ra tình cảm, thái độ của tác giả.
- Các giác quan: Nguyễn Trãi cảm nhận cảnh vật bằng thị giác qua màu xanh của cây hòe, sắc đỏ của hoa lựu; bằng thính giác qua tiếng chợ cá, tiếng ve; bằng khứu giác qua hương sen; đồng thời cảm nhận bằng những rung động tinh tế của tâm hồn.
- Tấm lòng của nhà thơ: Nguyễn Trãi có tình yêu thiên nhiên sâu sắc, tha thiết và một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế. Thiên nhiên trong thơ không chỉ là đối tượng thưởng ngoạn mà còn gắn bó với tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương, đất nước và tấm lòng luôn hướng về nhân dân của nhà thơ.
Hai câu thơ cuối cho thấy tấm lòng của Nguyễn Trãi đôi với người dân thế nào?
Giải thích điển tích “Ngu cầm”, xác định ước nguyện được thể hiện trong hai câu thơ và liên hệ với tư tưởng của tác giả.
Nhận xét về âm điệu kết thúc bài thơ.
- Âm điệu của bài thơ có sự thay đổi: câu kết chỉ có 6 chữ (lục ngôn), khác với những bài kết thúc bằng câu thất ngôn. Câu lục ngôn làm cho âm điệu đang 7 chữ dồn lại trong 6 chữ.
- Tác dụng của việc kết thúc bằng câu thơ lục ngôn: cảm xúc được dồn nén, nhưng dư âm của nó lại mở ra. Bài thơ hết những âm hưởng chưa hết, đó là nhờ cách kết thúc bằng câu thơ sáu chữ trong một bài thơ thất ngôn.
II. VIẾT
Viết một đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ phân tích giá trị nội dung của văn bản Cảnh ngày hè.
- Xác định vấn đề nghị luận: giá trị nội dung của bài thơ Cảnh ngày hè.
- Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học, kết hợp phân tích hình ảnh, từ ngữ và cảm xúc của tác giả.
- Đảm bảo dung lượng khoảng 200 chữ, diễn đạt mạch lạc, có câu mở đoạn và câu kết đoạn.
1. Mở đoạn
- Giới thiệu Nguyễn Trãi – anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, nhà thơ lớn của văn học trung đại.
- Giới thiệu bài thơ Cảnh ngày hè (trích Bảo kính cảnh giới) – tác phẩm thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên và tấm lòng yêu nước thương dân của ông.
2. Thân đoạn
a. Bức tranh thiên nhiên ngày hè tươi đẹp, tràn đầy sức sống
- Màu sắc: màu xanh của cây hòe, sắc đỏ của hoa lựu, hương thơm của hoa sen.
- Các động từ “đùn đùn”, “giương”, “phun” gợi sự vận động mạnh mẽ, sức sống căng tràn của cảnh vật.
=> Qua đó, thể hiện tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và tình yêu thiên nhiên tha thiết của Nguyễn Trãi.
b. Bức tranh cuộc sống con người bình dị, rộn ràng
- Âm thanh “lao xao” của chợ cá, “dắng dỏi” của tiếng ve.
- Gợi nhịp sống lao động vui tươi, thanh bình, gần gũi của làng quê.
- Thể hiện sự gắn bó của nhà thơ với cuộc sống đời thường của nhân dân.
c. Tấm lòng yêu nước thương dân và khát vọng cao đẹp
- Ước muốn có cây đàn của vua Thuấn để ca ngợi cuộc sống thái bình.
- Khát vọng “Dân giàu đủ khắp đòi phương”: mong nhân dân khắp nơi được sống no đủ, hạnh phúc.
- Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và tấm lòng luôn hướng về nhân dân của Nguyễn Trãi.
3. Kết đoạn
Tổng kết vấn đề nghị luận.
Từ việc cảm nhận về tình yêu thiên nhiên của tác giả trong văn bản trên, em hãy viết một bài nghị luận trình bày quan điểm của em về câu nói sau:“Gập máy tính lại, tắt điện thoại đi. Hãy giao tiếp nhiều hơn với xã hội và tận hưởng cuộc sống thực tại”
- Xác định vấn đề nghị luận: cần cân bằng việc sử dụng thiết bị công nghệ với giao tiếp trực tiếp và trải nghiệm cuộc sống thực tế.
- Vận dụng các thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận và bác bỏ.
- Triển khai bài viết theo bố cục ba phần: mở bài, thân bài, kết bài; có dẫn chứng phù hợp, bài học nhận thức và hành động cụ thể.
1. Mở bài:
Giới thiệu vấn đề nghị luận.
2. Thân bài:
* Giải thích ý kiến:
- “Máy tính” “điện thoại”: là những thiết bị công nghệ hiện đại, giúp kết nối con người với con người. Kết hợp với internet, nó tạo nên một cuộc sống khác, một “thế giới khác”, gọi là mạng xã hội – “mạng ảo” – “thế giới ảo”.
- Tận hưởng cuộc sống thực tại - cuộc sống bên ngoài mạng xã hội, như làm việc mình thích, dành thời gian cho người mình yêu thương, tham gia các hoạt động xã hội,...
* Thực trạng:
- Con người trong thời đại ngày nay đang sống trong một thế giới số, nơi mọi hoạt động từ những sinh hoạt thường ngày đến những sự kiện đặc biệt, từ công việc đến vui chơi giải trí, chúng ta đều tự gắn chặt với thế giới số. Mạng xã hội đã trở thành một phần của đời sống hiện đại, nhất là giới trẻ.
- Con người do đó gắn chặt cuộc sống với môi trường “ảo” internet, không quan tâm tới thế giới thực tại quanh mình. Cuộc sống của họ diễn ra trên Facebook, Twitter, Youtube…họ tự cô lập mình với thế giới thực.
* Nguyên nhân:
- Cuộc sống ảo luôn chứa đựng nhiều điều bất ngờ, thú vị, rất nhiều cách thức để giải trí, con người được tự do thể hiện mình nên họ dễ bị cuốn hút về phía ấy.
- Tuy nhiên, cuộc sống thực tế sinh động, hấp dẫn hơn thế giới ảo, đừng quên những giá trị hiện hữu quanh ta làm cho cuộc sống con người thực sự có ý nghĩa.
* Bài học nhận thức và hành động:
- Nhận thức: Xã hội hiện đại không thể thiếu công nghệ. Phát minh công nghệ nâng cao chất lượng sống. Thời đại càng văn minh, con người càng không thể xa rời máy tính, điện thoại và internet. Cuộc sống hiện đại cần công nghệ nhưng không nên lạm dụng mà cần có thời gian và cách thức sử dụng hợp lí, hài hòa
- Hành động: Giảm bớt thời gian vào mạng xã hội, tích cực học tập, lao động công ích, đọc sách, tham gia hoạt động xã hội,... để nâng cao sức khỏe, trí tuệ và bồi dưỡng tinh thần.
3. Kết bài: Đánh giá lại vấn đề.





