Đề thi tham khảo giữa học kì 2 Văn 10 - Đề số 13
I. ĐỌC HIỂU
Đọc hiểu văn bản và trả lời những câu hỏi phía dưới:
Con mẹ Nuôi, tay cầm lá đơn, đứng ở sân công đường. Nó hớt hơ hớt hải qua cổng chòi, rồi sợ sệt bỡ ngỡ, không biết quan ngồi buồng nào. Bỗng một người mặc áo cánh nái nhuộm vỏ già chạy xồng xộc đến trước mặt nó, và hỏi:
- Đi đâu?
Con mẹ biết ngay rằng đó là cậu lính lệ. Và như hiểu rõ phép vào quan, nó giúi đưa cậu lệ hai hào đã cầm sẵn ở trong tay, rồi nói nhỏ:
- Nhờ cậu bẩm quan cho tôi vào hầu.
Cậu lệ tuy đã cầm tiền, nhưng làm như ta không để ý đến việc nhỏ nhen ấy, bèn vừa thò tay, vừa nói to:
- Đưa xem đơn, việc gì?
Rồi trong khi nhà Nuôi kể lể, thì cậu lệ đánh vần để đọc lá đơn. Đoạn cậu lắc đầu, nhăn mặt bảo:
- Vào kia, nhờ bác nho Quý bác ấy làm hộ cho. Đơn này không được. Con mẹ tái mặt, hỏi:
- Không được thế nào, thưa cậu? Cậu lệ giơ hai tay ra giảng:
- Nghĩa là nếu nhà chị muốn việc chóng xong, nghe chưa?
- Thưa cậu, cậu cứ vào trình quan hộ. Chả nói giấu gì cậu, nhà tôi bị mất trộm hết sạch cả đồ đạc lẫn tiền nong. Sáng nay, vay mãi mới được đống hai bạc, để đi trình quan, cậu làm ơn thương hộ cho. Cậu lệ nhìn nét mặt nằn nì của nhà Nuôi, song vẫn thản nhiên:
- Tôi bảo nhà chị không nghe thì tôi mặc kệ. Tôi thấy nhà chị ăn mặc thế này, lại bị lúc vận hạn đen đủi, tôi lại chẳng động lòng hay sao? Nhưng ở đây, cái lệ nó thế. Tôi tử tế, nên bảo trước. Nếu nhà chị không theo, thì quan quở, chớ có trách tôi đấy.
Muốn chứng thực lời nói của mình, mẹ Nuôi cởi nút dải yếm ra, rồi xỉa năm đồng hào đôi còn lại lên gan bàn tay, và nói:
- Đây này, chẳng tin, cậu đếm mà xem, chỉ còn vừa vặn tiền trình thôi. Cậu lệ lắc đầu. Con mẹ vừa buộc lại tiền, vừa nhăn nhó, van lơn:
- Lạy cậu, thương cháu, cho cháu được nhờ. Cậu cứ vào bẩm quan hộ. Hễ quan bắt làm lại đơn, thì cháu xin ra nhờ bác nho Quý ngay.
Bỗng một tiếng chuông gọi. Cậu lệ dạ giật một tiếng, rồi ù té chạy. Con mẹ Nuôi nhìn theo, biết rằng buồng quan ngồi ở chỗ ấy. Nó đánh liều tiến đến, vừa tiến, vừa lo. Nó bước chân lên thềm, trống ngực bắt đầu nổi mạnh. Nó đã trông thấy quan. Nó lại sợ nữa. Vì lo sợ quá, nên quên đứt rằng chính nó đi trình việc mất trộm. Nó lại tưởng như nó là đứa trộm vậy. Nó rón rén, đứng nép vào cạnh cửa, thập thò, ghé vào trong, và lắng tai nghe. Nó thấy quan đang dặn cậu lệ xuống bảo nhà bếp ninh cho thật dừ cái chân giò. Và đến khi cậu lệ dạ tiếng cuối cùng và đi vào sân sau, mé cửa trong, thì nó hiểu ngay rằng đã mất toi hai hào cho thằng xỏ lá nó chẳng bẩm cho mình một tiếng nào. Bỗng hai con gà tây béo sù quàng quạc kêu ở sân trước. Nó thốt giật nảy mình. Quan đang ngồi, choàng một cái, ngài đứng dậy, chạy vội ra hiên, đứng ngay cạnh nhà Nuôi, và gọi váng:
- Có đứa nào đấy, lừa hai con gà vào cho tao!
Tức thì, người ta chạy tán loạn để xua gà, và nhà Nuôi thì chắp hai tay, quỳ ngay xuống gạch, và nâng ngang đầu cái lá đơn. Khi đôi gà đã chạy về, quan bèn nhìn con mẹ và bảo:
- Vào đây.
Nó mừng quá, lóp ngóp đứng dậy, vội vã theo vào trong buồng giấy. Nó đứng ở cạnh bàn, run lên bần bật. Nó liếc nhìn quan. Ngài oai vệ quá. Nó lại sợ hơn nữa. Nhưng dù run hay sợ, nó cũng không quên được việc vi thiềng quan. Nhưng tiền trình diện quan, nó lại buộc vào trong dải yếm. Nó cởi ra mới lấy được. Nó mới lúi húi rút cái nút buộc ra. Nó sợ quan chờ lâu, nên phải vội vàng. Mà vì vội vàng, lại lo quan gắt, nên nó lóng cóng. Cái nút vừa xổ ra, thì loẻng xoẻng, cả món tiền rơi tiệt cả xuống gạch. Năm đồng hào đôi nảy lên mấy cái, và từng ấy tiếng kêu làm nó giật mình. Tự nhiên, nó choáng cả người và hoa cả mắt. Nó cúi nhìn chỗ nhiều hào rơi nhất, ngay bên cạnh nó. Đồng thì chui nằm ẹp gần chân nó, đồng thì xoay tít mấy vòng, đồng thì bắn ra góc buồng. Mấy đồng nữa thì thi nhau lăn ra tận chỗ xa. Nó không thấy quan nói gì, nên cũng hơi tĩnh tâm. Nó bèn cúi xuống để nhặt tiền. Một đồng, hai đồng. Đồng thứ ba nghiêng ở mé tường. Nó tìm đồng thứ tư. Mãi nó mới thấy ở tận gần chân bàn giấy của quan. Nó tìm đồng thứ năm. Quái, nó tìm mãi, mà không thấy đâu cả. Nó phải có năm hào đôi. Năm hào đôi mới thành đồng bạc được. Vừa ban nãy, nó giở ra cho cậu lệ xem, và lại buộc cẩn thận vào dải yếm. Không lẽ đồng hào ấy có ma, đã biến đi đâu mất chóng thế được. Vậy chỉ quanh quẩn ở trong buồng này mà thôi. Nhưng nó đã tìm kỹ lắm rồi. Mà trình đơn tám hào, tất nó bị quan chửi. Không biết làm thế nào được, nó tần ngần chắp hai tay, vái:
- Lạy quan lớn ạ.
Rồi nó lùi lùi bước ra cửa. Rồi nó đi về...
Ông huyện Hinh cứ ngồi yên sau bàn giấy để nhìn theo con mẹ khốn nạn. Rồi khi thấy nó đã đi khuất, ông mới đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giầy ra một tý. Và vẫn tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay, nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở đế giầy bám vào, rồi bỏ tọt vào túi.
Trích Đồng hào có ma – Nguyễn Công Hoan
Văn bản trên sử dụng ngôi kể nào?
Căn cứ vào người kể chuyện và cách người kể thuật lại sự việc, xác định ngôi kể của văn bản.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba.
Người đàn bà đến gặp quan lớn để làm gì?
Đọc văn bản, chú ý lời nói và hành động của nhân vật để xác định mục đích của chuyến đi.
Người đàn bà đến gặp quan lớn để trình báo việc gia đình bị mất trộm, mong quan giải quyết vụ việc và tìm lại tài sản đã mất.
Khi gặp được quan lớn vì sao người đàn bà lại đi về mà không thưa chuyện?
Căn cứ vào diễn biến sự việc và hoàn cảnh của nhân vật để lí giải nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành động.
Khi gặp quan, vì quá run sợ và lúng túng, người đàn bà làm rơi số tiền mang theo. Sau khi nhặt lại, chị chỉ tìm được bốn trong năm đồng hào đôi, tức thiếu một đồng hào đôi (hai hào). Vì lo không đủ tiền trình quan và sợ bị quở trách, chị không dám thưa chuyện, đành lặng lẽ ra về. Qua đó, có thể thấy sự sợ hãi, bất lực của người dân nghèo trước cửa quan trong xã hội cũ.
Thông qua đoạn trích trên, em nhận thấy phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nguyễn Công Hoan được thể hiện như thế nào?
Phân tích cách xây dựng tình huống, nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu để làm rõ đặc điểm phong cách nghệ thuật của tác giả.
- Thông qua đoạn trích, ta thấy rõ phong cách trào phúng trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan.
- Tác giả sử dụng ngôn từ hết sức bình dị và gần gũi với người nông dân ví như: “con mẹ”, “nói xỏ”,…
- Giọng văn mỉa mai, châm biếm pha chút hài hước.
Theo em, hình ảnh của tên lính đại diện cho hảnh ảnh nào trong xã hội xưa?
Từ hành động, lời nói của nhân vật, khái quát bản chất và ý nghĩa đại diện của nhân vật trong bối cảnh xã hội.
Tên lính lệ đại diện cho bọn tay sai của bộ máy quan lại phong kiến, những kẻ lợi dụng chức phận để sách nhiễu, vòi vĩnh và trục lợi từ người dân. Dù chỉ là kẻ thừa hành, hắn vẫn dựa vào quyền lực của công đường để gây khó dễ cho người đàn bà nghèo, góp phần cho thấy sự mục nát của bộ máy cai trị trong xã hội xưa.
II. VIẾT
Viết một đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ trình bày quan điểm của em về tình người trong cuộc sống.
Vận dụng kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội; xác định vấn đề, giải thích khái niệm, phân tích ý nghĩa, nêu biểu hiện, phản đề và rút ra bài học nhận thức, hành động.
1. Mở đoạn
Nêu vấn đề nghị luận: Chính tình người là sợi dây gắn kết, làm nên giá trị tốt đẹp của xã hội.
2. Thân đoạn
a. Giải thích
- Tình người là sự yêu thương, sẻ chia, cảm thông và giúp đỡ giữa con người với con người.
- Là thái độ sống nhân ái, biết quan tâm đến nỗi đau và hạnh phúc của người khác.
b. Ý nghĩa của tình người trong cuộc sống
- Đối với cá nhân
+ Giúp con người cảm thấy được yêu thương, được chở che.
+ Nuôi dưỡng tâm hồn nhân hậu, sống tích cực hơn.
- Đối với xã hội
+ Tạo nên sự đoàn kết, gắn bó cộng đồng.
+ Là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái.
- Trong những hoàn cảnh khó khăn
+ Tình người giúp con người vượt qua thiên tai, dịch bệnh, nghèo đói.
+ Là nguồn động viên to lớn trong hoạn nạn.
c. Mở rộng – phản đề
- Thực tế vẫn còn những biểu hiện vô cảm, ích kỉ, thờ ơ trước nỗi đau của người khác.
- Điều đó làm xã hội trở nên lạnh nhạt, thiếu niềm tin.
3. Kết đoạn
Tổng kết vấn đề nghị luận
Phân tích giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của truyện ngắn trên.
Vận dụng kiến thức về truyện ngắn và kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học; phân tích tình huống truyện, nhân vật, chi tiết tiêu biểu, ngôn ngữ, giọng điệu để làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
1. Mở bài
- Giới thiệu nhà văn Nguyễn Công Hoan, truyện ngắn “Đồng hào có ma”.
2. Thân bài
* Giá trị nội dung:
- Khái quát nội dung: Câu chuyện kể về "con mẹ Nuôi" đi trình mất trộm, phải đi vay một đồng hai hào để vào trình quan. Nhưng sau khi đút lót cậu lính hai hào, vào công đường thì bà ta là rơi mớ tiền xuống đất. Tìm mãi những cũng chỉ được bốn đồng, bà ta đành lùi lũi đi về. Sau khi bà ta đi khuất, quan huyện Hinh mới xê chân, nhặt đồng hào dưới đất, thổi cát rồi bỏ tọt vào túi. Cho thấy bộ mặt thối nát của bọn quan lại phong kiến tham ô, bóc lột người dân tới tận cùng.
- Đặc sắc về cách tạo dựng tình huống truyện: Qua tình huống của "con mẹ Nuôi" trong câu chuyện mà thấy rõ được bộ mặt tham quan của tên huyện Hinh. Hắn đã dùng cả những cách thức hèn mọn nhất để ăn cắp tiền của nhân dân.
- Giá trị hiện thực:
+ Sự khốn cùng của người dân
+ Thói sách nhiễu, sự bóc lột vô nhân tính của quan lại.
- Giá trị nhân đạo:
+ Lên án sự tham lam, bóc lột của quan lại và giai cấp thống trị lên ngươi dân.
* Giá trị nghệ thuật:
- Nghệ thuật xây dựng ngôn từ:
+ Sử dụng các ngôn từ hết sức dân dã, bình dị như "nói xỏ", "lẹt đẹt", "con mẹ", ...
+ Lời văn mang tính mỉa mai, châm biếm.
c. Kết thúc: Kết luận lại vấn đề





