Đề thi học kì 1 Văn 9 - Đề số 12
Phần I. Đọc hiểu
Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
| Tiệc ngon bày sẵn trong sânRượu ngon lần lượt ân cần rót trao.Rằng là huynh đệ tương giaoTình thương như thể dạt dào nước trôi.Nay đang mẻ rượu sắp rồiTối nay anh phải trông coi miếu làng.Kể ra công việc cũng nhàn,Thay anh gánh vác, anh mang ơn nhiều.Sanh rằng có đáng bao nhiêu,Đệ huynh tương trợ bày điều mà chi!.Nói xong quay bước tức thìLý Thông lòng nhẹ rút chì khỏi chân.Đúng là sau vẻ ân cần,Mưu sâu chờ chực sảy chân thiệt đờiKẻ gian miệng nói mắt cườiThủ gươm trong bụng giết người như chơi.[…]Nói qua về gã Lý ThôngLừa xong một cú trong lòng thoả thê,Đang đêm mưa gió dầm dềBỗng đâu nghe tiếng người về gọi tên.Một làn khí lạnh xông lênLưng tê, gối khuỵu, sấm rền trong tai“Oan hồn báo oán phen nàyNhận anh ba lạy nguôi ngoai trong lòng”Thạch Sanh vừa mới vào trongNhìn qua cảnh tượng trong lòng ngu ngơ. | Rõ ràng mình sống sờ sờSao anh lạy tế như vừa gặp ma?Bèn đem chuyện mới kể raLý Thông tin bảy ngờ ba cũng đành,Đưa tay nắn thử Thạch SanhRõ ràng người sống rành rành ra đâyLại thêm đầu rắn cầm tayĐúng là chuyện thật đâu bày xảo ngôn.Lý Thông mới thực hoàn hồnNhớ lời chiếu dụ thưởng công giết chằnLàm ra vẻ mặt bàng hoàng“Phen này thịt nát xương tan mất rồi.Vật này vốn của vua nuôiLỡ tay mạo phạm phép thời đâu thaPhải đi tìm chốn thật xaẨn mình chờ đợi cho qua hạn này”Thạch Sanh quay bước đi ngayVề nơi rừng thẳm của ngày còn thơ.Cây đa dòng suối đợi chờRừng xanh lều bạc bấy giờ có nhauMưu sâu hòng tiếm công đầuTiến cung họ Lý dâng đầu báo công.Chuẩn y đô đốc tiến phongĐường đường vinh hiển Lý Thông có thời.Thầm sâu trong bụng cợt cườiTài mà bộc trực ở đời vứt đi.Thăng quan tiến chức khó gìCong lưng dẻo miệng việc gì chẳng qua. |
Thạch Sanh vốn mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống lủi thủi trong túp lều dưới gốc đa và gia tài chỉ có lưỡi búa cha để lại. Thấy Thạch Sanh khỏe, Lý Thông lân la kết nghĩa huynh đệ. Thạch Sanh về sống với mẹ con Lý Thông. Trong vùng có một con chằn tinh hung dữ, mỗi năm người dân phải nộp người cho nó ăn thịt. Tới phiên Lý
Thông, hắn lừa Thạch Sanh đi nộp mạng thay mình. Thạch Sanh giết chết chằn tinh, Lý Thông lại lừa chàng đi trốn rồi cướp công của Thạch Sanh.
Xác định thể thơ và thể loại của đoạn trích trên?
Xác định đặc điểm số tiếng, cách gieo vần, ngắt nhịp của các dòng thơ để nhận diện thể thơ
- Thể thơ lục bát.
- Thể loại: truyện thơ Nôm.
Tìm một câu thành ngữ trong ngữ liệu và nêu ý nghĩa?
Đọc kĩ ngữ liệu, tìm cụm từ có cấu tạo cố định, mang nghĩa khái quát và thường được sử dụng trong đời sống
Gợi ý:
Thành ngữ: thịt nát xương tan
Nghĩa: nghĩa là nghiền vụn xương, làm nát thân mình.
Qua đoạn trích cho thấy Lí Thông là con người thế nào?
Tập trung vào lời nói, hành động và suy nghĩ của Lí Thông trong đoạn trích; từ đó khái quát những phẩm chất, tính cách nổi bật của nhân vật.
Qua đoạn trích có thể thấy Lí Thông là một kẻ gian xảo, độc ác, sẵn sàng đẩy anh em của mình vào cái chết. Sẵn sàng chiếm công của người khác mà không hối hận, ăn năn.
Tìm một lời dẫn trực tiếp và chuyển lời dẫn ấy sang lời dẫn gián tiếp.
Tìm câu nói của nhân vật được đặt trong dấu ngoặc kép và có thể giữ nguyên lời nói.
Gợi ý:
- Lời dẫn trực tiếp:
“Phen này thịt nát xương tan mất rồi.
Vật này vốn của vua nuôi
Lỡ tay mạo phạm phép thời đâu tha
hải đi tìm chốn thật xa
Ẩn mình chờ đợi cho qua hạn này”
- Chuyển sang gián tiếp: Khi nghe Thạch Sanh kể lại Lí Thông ngay lập tức nhớ về việc vua ban thưởng, bèn dọa nát Thạch Sanh đã giết chết con vật yêu quý của vua và khuyên Thạch Sanh phải trốn đi thật xa để qua hạn này.
Từ câu chuyện Lý Thông – Thạch Sanh, hãy liên hệ với thực tế cuộc sống hiện nay để rút ra bài học ứng xử cho bản thân.
Từ hành động lừa dối, chiếm công của Lí Thông, liên hệ với những biểu hiện tương tự trong cuộc sống hiện nay.
HS trình bày quan điểm cá nhân.
Gợi ý:
Trong cuộc sống hiện nay, vẫn có những người lợi dụng lòng tốt và sự tin tưởng của người khác để mưu lợi riêng. Câu chuyện nhắc nhở mỗi người cần sống trung thực, biết đề phòng kẻ gian, đồng thời giữ vững lòng nhân hậu nhưng phải tỉnh táo, sáng suốt. Đó là cách bảo vệ bản thân và duy trì những giá trị tốt đẹp trong quan hệ giữa người với người.
Phần II. Viết
Viết đoạn văn 2000 chữ phân tích đoạn thơ sau:
“Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” …
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Giải thích, phân tích, bình luận.
1. Mở đoạn: Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận:
2. Thân đoạn
- Đoạn thơ Cảnh ngày xuân là một bức tranh thiên nhiên tả cảnh mùa xuân đẹp với một không khí lễ hội rộn ràng và tưng bừng.
- Cảnh mùa xuân được Nguyễn Du tả theo trình tự không gian và thời gian.
+ Bức tranh chiều xuân:
Nên thơ, đượm buồn với cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về.
Bức tranh buổi chiều được miêu tả với nét đẹp dịu dàng, thanh nhẹ, nhuốm màu tâm trạng. Bút pháp: tả cảnh ngụ tình.
⇒ Gợi lên tâm trạng tiếc nuối, luyến tiếc, thơ thẩn của chị em Kiều.
+ Hình ảnh chị em Thúy Kiều ra về sau ngày du xuân
- Nghệ thuật:
Từ láy: “tà tà” gợi ra hình ảnh trời chiều, sự vận động chậm rãi như muốn níu kéo thêm khoảnh khắc tươi đẹp của lễ hội.
Từ “thơ thẩn” gợi trạng thái vô thức đầy vẻ tiếc nuối.
=> Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu bắc ngang. Cảnh vật dường như nhạt dần, lặng dần, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng.
Không gian mang dáng dấp nhỏ nhoi, bé hẹp, phảng phất buồn.
Cảm giác bâng khuâng khó tả của con người.
- Nghệ thuật:
Từ láy “Nao nao”, “tà tà”, “thanh thanh”: mang cảm giác phảng phất buồn của cảnh vật và tâm trạng con người. Từ láy “Thơ thẩn”: sự bần thần, tiếc nuối, lặng buồn.
⇒ Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày du xuân đã tàn.
⇒ Vẻ đẹp tâm hồn của những nam thanh nữ tú tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu lắng.
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề.
Viết bài văn nghị luận xã hội bàn về chủ đề Sống có ý nghĩa. Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) thuyết phục người khác từ bỏ thói quen đổi lỗi/né tránh trách nhiệm.
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học.
1. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả và tác phẩm.
2. Thân bài
* Giải thích
- Thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm là gì?
“Đổ lỗi/né tránh trách nhiệm” là hành vi con người cố tình chối bỏ lỗi lầm của mình, hoặc viện cớ do lí do khách quan, hoặc đổ tội cho người khác. Đây là một hiện tượng đáng buồn thường gặp trong cuộc sống hằng ngày.
* Bàn luận/chứng minh
- Biểu hiện của thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm
+ Các nhà thầu xây dựng yếu kém, ăn bớt vật liệu khiến công trình sụp đổ, gây tai nạn, không chịu nhận trách nhiệm mà đổ lỗi do địa hình, khí hậu.
+ Thất bại trong cuộc sống, nhiều người đổ lỗi do hoàn cảnh khó khăn, nghèo khó mà quên mất rằng cũng nhiều người nhờ nỗ lực không ngừng mà làm giàu từ hai bàn tay trắng.
+ Học sinh lười biếng, không chăm chỉ học tập đạt kết quả kém lại đổ lỗi cho chương trình sách giáo khoa nặng nề, giáo viên dạy khó hiểu…
- Nguyên nhân của thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm
+ Do sự lười nhác, không cống hiến mà chỉ mong thụ hưởng của nhiều người. Khi nhìn thấy sai lầm của người khác hoặc bản thân gây ra sai lầm, họ vẫn vô tâm, không tích cực ngăn chặn hoặc khác phục để hạn chế tổn hại. + Do con người hèn nhát, không dám đối mặt với lỗi lầm của mình. Nhiều người chỉ vì quá hèn nhát, sợ hãi khi xảy ra sai lầm, họ đã trốn tránh, thoái thác trách nhiệm, đổ lối cho người khác khiến cho hậu quả của hành động ấy còn lớn hơn hậu quả do sai làm ấy gây ra.
+ Do con người ích kỉ, thiếu trách nhiệm, chỉ muốn đùn đẩy phần khó khăn cho người khác. Nhiều người chỉ biết đến lợi ích của bản thân mình, không quan tâm đến người khác. Khi sai lầm xảy ra, họ chỉ cố sức bảo vệ mình, bỏ mặc người khác dù hậu quả có thế nào đi chăng nữa. Những kẻ vô tâm ấy thường gây nên những tổn thất rất lớn cho xã hội.
+ Do lòng tham khiến cho con người mở mắt, sẵn sàng làm những việc trái với lương tâm và tìm cách đổ vạ cho người khác… Để vét đầy túi tham, nhiều kẻ đã bất chấp lương tâm, làm những việc tàn nhẫn chỉ để có được điều mình mong muốn.
- Hậu quả của thói quen đổ lỗi/né tránh trách nhiệm
+ Hiện tượng đổ lỗi gây mất đoàn kết trong tập thể, khi không ai nhận trách nhiệm về mình cứ cứ đùn đẩy cho người khác.
+ Hiện tượng đổ lỗi không giúp khắc phục hậu quả gây ra, mà trái lại càng làm việc khắc phục hậu quả thêm trì trệ, khiến hậu quả càng nghiêm trọng.
+ Hiện tượng đổ lỗi khiến chúng ta trở thành kẻ vô trách nhiệm, tự huyễn hoặc bản thân rằng mình không bao giờ sai, từ đó không thể tiến bộ, hoàn thiện mình.
+ Nếu xã hội ai cũng chỉ biết đổ lỗi mà không có tinh thần trách nhiệm, khắc phục sai lầm, thì xã hội đó sẽ trở nên trì trệ, chậm phát triển.
* Bài học nhận thức
- Dám nhận lỗi là một hành động dũng cảm, là sống có trách nhiệm đối với công việc, bản thân và người khác. Vì thế:
+ Bạn cần biết tự ý thức, có tinh thần trách nhiệm, dũng cảm nhận lỗi, sửa lỗi.
+ Gia đình, nhà trường giáo dục con em hình thành ý thức nhận lỗi; người lớn phải làm gương cho trẻ em, không ngần ngại nói “Xin lỗi” khi mình mắc sai lầm và có cách thức cụ thể, thiết thực để sửa chữa lỗi lầm. + Ngoài ra, bạn và mọi người cũng nên khoan dung tạo điều kiện cho người mắc sai lầm có cơ hội được sửa sai. + Có nhiều người khi phạm phải lỗi lầm đã hèn nhát lẫn trốn và đổ lỗi cho người khác. Với những người như thế thật đáng lên án, bạn cần góp phần phát hiện, tố giác và cần thiết phải đề xuất xử lí kịp thời.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề
- Rút ra bài học cho bản thân





